(Luận văn thạc sĩ) dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiểu thuyết của nhà văn thuận - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

VÕ THỊ THU

DẤU ẤN CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

VÕ THỊ THU

DẤU ẤN CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA NHÀ VĂN THUẬN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Dục Tú

Hà Nội-2013



3.2 Phức hợp thể loại……………………………………………………..81
3.2.1 Tiểu thuyết trong tiểu thuyết………………………………………. 81
3.2.2 Báo chí trong tiểu thuyết…………………………………………..86
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

1.1

Chủ nghĩa hậu hiện đại (post modernism) là khái niệm đang ngày càng

phổ biến trên toàn thế giới. Như một sự phản biện chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu
hiện đại xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XX ở châu Âu với tư cách là một trào lưu văn
hóa và xác lập một hệ chuẩn tư duy mới trên nhiều lĩnh vực: triết học, văn hóa, giáo
dục, văn chương, hội họa, âm nhạc… Được sản sinh và phát triển trên mảnh đất Âu
Mĩ, chủ nghĩa hậu hiện đại đã chứng tỏ tính ưu việt của nó khi xâm nhập vào các
nước phương Đơng như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… rồi ngày càng lan rộng
khắp thế giới. Có thể nói, trong hơn 50 năm qua, chủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành
“tài sản chung” của nhân loại. Nó thẩm thấu rất sâu vào nếp nghĩ, nếp cảm, nếp sống
của các quốc gia, các dân tộc và vẫn đang được tái tạo liên tục, phản biện liên tục.
Trên lĩnh vực văn học, Chủ nghĩa hậu hiện đại trở thành một trào lưu phát triển
mạnh mẽ với các tên tuổi lớn như Umberto Eco, Louis Borge, Italo Calvino…, nó
đem lại hương sắc mới, sự cách tân mới mẻ trên các phương diện nội dung và hình
thức.
1.2 Trong bối cảnh hội nhập thế giới trên nhiều mặt, đặc biệt về văn hóa, văn

2.1 Về tình hình dịch thuật và nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại
Tại Việt Nam, thuật ngữ “hậu hiện đại” lần đầu tiên xuất hiện trong bản dịch
của Nguyễn Trung Đức đăng trên Tạp chí Văn học số 5, năm 1991 có tên là Vài
suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của Antonio Blach.
Sau đó, các tạp chí Văn học, Nhà văn, Văn học nước ngồi, Thơng tin Khoa
học xã hội đã in một số bài giới thiệu hoặc dịch thuật về Chủ nghĩa hậu hiện đại.
Có thể kể đến như Sự suy tàn của phong trào tiền phong nghệ thuật hậu hiện đại
(tác giả Luc Ferry, Tạp chí khoa học xã hội, số 2/1995, dịch giả Nguyễn Văn Dân);
Về chủ nghĩa hậu hiện đại (John Verhaar, tạp chí Văn học, số 5/1997); Chủ


nghĩa hậu hiện đại cuả tác giả Phương Lựu trên tạp chí Nhà văn số 7/2000… Năm
2003, Nhà xuất bản Hội nhà văn và Trung tâm Văn hóa Đơng Tây tập hợp và tuyển
chọn các bản dịch và bài nghiên cứu của các dịch giả và tác giả trong nước cũng
như hải ngoại để in thành cuốn Văn học hậu hiện đại thế giới – những vấn đề lý
thuyết (Lại Nguyên Ân, Đoàn Từ Huyến biên soạn). Cho đến nay, đây vẫn là
chuyên luận lý thuyết hậu hiện đại dày dặn nhất ở Việt Nam. Đúng như lời giới
thiệu của tác giả: Cuốn sách bước đầu giới thiệu với bạn đọc Việt Nam về chủ
nghĩa hậu hiện đại trong văn học thế giới, tập hợp những bài viết của các tác giả
trong và ngồi nước đề cập đến các khía cạnh lý thuyết của một trào lưu rộng lớn
và có ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn nghệ thế giới ngày nay” [60;5]. Nhà
xuất bản Hội nhà văn và Trung tâm Văn hóa Đơng Tây cũng in kèm tuyển tập
Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới (Lê Huy Bắc tuyển chọn) với mục đích giới
thiệu với bạn đọc thực tiễn sáng tác để kiểm chứng lý thuyết.
Giáo trình Lý luận văn học – tập 3, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội ấn hành
(2006) của tập thể tác giả Phương Lựu, La Khắc Hòa, Trần Mạnh Tiến cũng dành
một chương để nói về chủ nghĩa hậu hiện đại. Bên cạnh việc giới thiệu sự ra đời
của chủ nghĩa hậu hiện đại, các tác giả còn tập trung làm rõ sự khác biệt của chủ
nghĩa hậu hiện đại và hiện đại, đồng thời chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của phòng
trào sáng tác hấp dẫn và mới mẻ này.

Những nhận định của hai nhà nghiên cứu rất phù hợp với nhận định trên đây
chúng tôi đã đề cập: kêu gọi các nhà văn Việt hãy tìm tịi, đổi mới để đưa nền văn
học nước nhà hội nhập chung với khơng khí thời đại, thế giới.
Tạp chí Văn học nước ngồi số 8 + 9/2004 có bài Hậu hiện đại được tác giả
Diễm Cơ viết dựa trên Điều kiện hậu hiện đại: Bản tường trình về tri thức của
Lyotard.


Bên cạnh những cơng trình được in thành sách, trong những năm gần đây,
trên nhiều diễn đàn, tạp chí, báo điện tử… những vấn đề về chủ nghĩa hậu hiện đại
nói chung và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn học Việt Nam đương đại được
nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm, trở thành những cuộc đối thoại rộng lớn
trong đời sống văn học nước nhà.
Báo Thể thao & Văn hóa (Thơng tấn xã Việt Nam) số ra ngày 6/1/2004
đăng bài phỏng vấn nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn: Lối viết Hậu hiện đại sẽ
trở nên phổ biến ở Việt Nam. Sau đó trên trang www.vnexpress.net đã đăng lại bài
viết này với nhan đề Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn và văn học hậu hiện
đại. Tác giả bài viết đã nêu lên những đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại từ
góc độ khái niệm, cảm quan hậu hiện đại và ảnh hưởng của hậu hiện đại đến nghệ
thuật và văn học. Trong bài viết này, tác giả Hoàng Ngọc Tuấn cho rằng: “Văn
chương hậu hiện đại, do đó, là một tập hợp của những mảnh vụn. Có thể nói đa
tâm điểm là một trong những đặc điểm nổi bật của văn chương hậu hiện đại.
Khơng cịn cố tình làm độc giả chìm đắm vào cái thế giới hư cấu của tác phẩm, nhà
văn đặt người đọc vào một vị trí khách quan và tỉnh táo để nhìn thấy tác phẩm như
một văn bản đúng nghĩa, một tác phẩm nghệ thuật hư cấu, như một trị chơi tự trình
bày cách chơi của nó và mời gọi người đọc tham dự vào trò chơi ấy”. Là một
người có nhiều năm nghiên cứu về văn học Việt Nam, nhà nghiên cứu Hồng Ngọc
Tuấn dự đốn: “Tơi tin chắc rằng chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên
phổ biến ở Việt Nam”. Tác giả đã rất lạc quan khi “thấy có vài nhà văn Việt Nam
đã sử dụng một số kỹ thuật viết hậu hiện đại, chẳng hạn kỹ thuật “nhại văn”, lối

hóa khu vực và quốc tế” do Viện Văn học phối hợp cùng Harvard – Yenching
Institste (Hoa Kỳ) tổ chức, có một số bài viết ứng dụng lý luận hậu hiện đại để nghiên
cứu văn học Việt Nam, như Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam
trong tương quan so sánh loại hình với văn xi hậu hiện đại Nga (Đào Tuấn


Ảnh), Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi
pháp hậu hiện đại (Cao Kim Lan), Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hồi
(La Khắc Hịa).
Trên báo Văn nghệ ngày 8/12/2007 đăng tải bài viết Dấu ấn hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam sau 1986 của tác giả Phùng Gia Thế. Theo tác giả này, dấu
ấn đó vừa là sự tiếp thu văn học nước ngồi, vừa là sự khơi dậy những ngọn nguồn,
những “mẫu” có từ truyền thống và “việc phát triển văn chương Việt Nam theo
khuynh hướng hậu hiện đại là một xu hướng cần cổ vũ. Đấy khơng phải là sự sao
chép, cóp nhặt, lai ghép tùy tiện mà là sự thay đổi cả hệ hình tư duy và trên hết là địi
hỏi tất yếu của lịch sử - xã hội và bản thân văn học. Có thể gọi được chăng, đây là
khuynh hướng phát triển văn chương theo hướng hòa nhập với tiền trình văn học thế
giới, bên cạnh các khuynh hướng tìm tịi thử nghiệm khác của nên văn học Việt Nam
sau 1986 nhiều màu vẽ” [101].
Qua những nguồn tài liệu tham khảo có được, chúng tơi nhận thấy tuy đã xuất
hiện các bài dịch hoặc bàn luận về chủ nghĩa hậu hiện đại nhưng phạm trù này với số
đông giới nghiên cứu – phê bình văn học Việt Nam vẫn đang ở dạng tiếp nhận thông
tin. Hơn nữa, trào lưu hậu hiện đại đến nay vẫn còn đang vận động, khơng đóng
khung vào bất cứ một hệ thống lý thuyết nào nên việc hiểu cặn kẽ và minh bạch về
nó là một vấn đề quá phức tạp. Dù phản đối hay đồng tình, họ đều thừa nhận thực tế:
Hậu hiện đại là khuynh hướng lớn trên thế giới, các yếu tố hậu hiện đại cũng đã bắt
đầu xuất hiện ở văn học Việt Nam trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hồi, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Thuận… Những
tài liệu trên đây đã cung cấp cho chúng tôi những cơ sở lý luận quan trọng khi khái



mắt độc giả vào tháng 9/2012. Cũng do dịch giả Đồn Cầm Thi chuyển ngữ, trước đó,
Chinatown cũng ra mắt độc giả Pháp. Đoàn Cầm Thi cũng tiết lộ trong bài phỏng vấn
do báo Thể thao & Văn hóa (Thơng tấn xã Việt Nam) thực hiện Đoàn Cầm Thi và
cuộc phiêu lưu mang văn học Việt đến Pháp: Cùng với Blogger của Phong Điệp,
Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương, Song Song của Vũ Đình Giang, Giữa dịng
chảy lạc của Nguyễn Danh Lam, Paris 11 tháng 8 sẽ là tác phẩm tiếp theo của Thuận
được dịch ra tiếng Pháp. Cuốn thứ sáu của nhà văn mang tên Thang máy Sài Gòn
cũng sẽ được xuất bản vào đầu năm tới (2014) tại Pháp.
Thuận đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác bằng bút danh Thuận Ánh, sau đó đổi
sang Thuận. Giải thích cho sự ngắn gọn này, nhà văn tâm sự: “Khi bắt tay vào nghề
viết, tơi đã chọn cho mình một bí danh ngắn nhất có thể, với hi vọng sau này, nó sẽ
được kéo dài bởi nhiều nhan đề tiểu thuyết”. Ở một phương diện nào đó, sự ngắn gọn
ấy đã được “kéo dài” như nhà văn mong đợi.
Độc giả quan tâm và yêu mến văn học Việt Nam đương đại cịn biết đến
Thuận, ngồi tư cách là tác giả của năm cuốn tiểu thuyết “có vấn đề”, cịn là dịch giả
của hai tác phẩm Xạ thủ nằm bắn (Jean Patrick Manchette)- một cuốn tiểu thuyết
trinh thám Pháp, được xuất bản ở Việt Nam vào tháng 6/2007 (NXB Văn học) và
cuốn Mở rộng phạm vi đấu tranh (Michel Houellebecq- tác giả của Hạt cơ bản),
được giới thiệu ở Việt Nam vào tháng 6/2008 (NXB Hội nhà văn).
Đến với văn chương với tư cách là một nhà văn thuộc bộ phận văn học hải
ngoại, Thuận - tất yếu thể hiện trong sáng tác của mình đặc trưng của dịng văn học
này: lực lượng sáng tác không thuộc về “các nhà văn di dân thế hệ thứ nhất” mà
thuộc về một thế hệ mới khơng cịn bị “cầm tù” bởi q khứ. Mỗi nhà văn, bằng
cách này hay cách khác, tự lựa chọn cho mình một hướng đi: “hoặc tìm cách thay
đổi, thơng qua tiếp cận với văn hố dịng chính của đất nước mà họ định cư để phát
huy những giao thoa văn hố; hoặc chuyển hẳn sang văn hố dịng chính của nước



thật kỹ, so sánh với tiểu sử tác giả, những tác phẩm khác của tác giả mới có thể phân
biệt được đâu là yếu tố phi hư cấu, đâu là yếu tố hư cấu” [57]. Hoàng Nguyễn cũng đã
chỉ ra kiểu cấu trúc “tiểu thuyết trong tiểu thuyết” và tính “liên văn bản” ở “những
đường links giữa Chinatown, I’m yellow, Made in Vietnam” [57].
Trong các bài viết về Chinatown, chúng tôi đánh giá rất cao bài viết trên
www.tienve.org I’m yellow: Khoái cảm văn bản – Đọc Chinatown của Thuận của
tác giả Đoàn Cầm Thi. Đoàn Cầm Thi nhận ra tác giả Chinatown đã “nháy mắt” với
Duras (tác giả Người tình) để “kéo người đọc vào mê lộ của nghệ thuật viết”. Mê lộ
ấy được Đoàn Cầm Thi chỉ rõ ở ba luận điểm: Viết không phải để nhớ lại. Cũng
không phải để quên đi”, “I’m yellow: Truyện lồng truyện” và “I’m yellow: “I” là ai”
[76]. Theo Đoàn Cầm Thi, đó là cách “đi tìm một bình diện mới của thế giới” khi
Thuận ln “đóng lên văn học dấu ấn của thế hệ và thời đại mình. Tác phẩm của cơ
cịn là hành trình của những cơng dân hồn cầu tương lai” [76].
Một ví dụ khác, Paris 11 tháng 8 – cuốn tiểu thuyết đưa tên tuổi của Thuận
đến gần hơn với độc giả nước nhà khi đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam
năm 2006. Đoàn Cầm Thi giới thiệu tác phẩm như “niềm hổ thẹn sâu kín của một
cường quốc hậu – tư – bản viên mãn. (…) Hai mươi chương miên man thực giả lẫn
lộn, ngồn ngộn Paris và Hà Nội, lôi cuốn chúng ta bằng một vận tốc chóng mặt,
một cấu trúc hiện đại, một giọng điệu tinh tế, duyên dáng và chua xót, hài hước.
Vừa thẹn thùng vừa khiêu khích, Paris 11 tháng 8 chạm vào nỗi đau của nhân vật,
của nhân loại [107]. Trong bài viết Đọc Paris 11 tháng 8 của Thuận, Đoàn Cầm
Thi chỉ ra một dạng nhân vật hậu hiện đại trong tiểu thuyết này Liên – nhân vật
chính của tiểu thuyết – “trong tư thế chơi vơi, chông chênh, khó nắm bắt. Và chính
cái chơi vơi đó là một trong những đóng góp của Thuận trong văn học Việt Nam”


– tác giả cũng chỉ ra cấu trúc “báo chí trong tiểu thuyết” của tác phẩm này: “Lồng
thông tấn vào văn học, hai thể loại văn bản đối lập nhau, Thuận khiến người đọc
bất ngờ như thể xem một bộ phim màu có xen những đoạn tư liệu đen trắng. Động
tác lục lưu trữ của Thuận, đọc săm soi nỗi đau giấu kín dưới tầng tầng lớp lớp của

chương:
Chương 1: Khái lược về Hậu hiện đại – dấu ấn hậu hiện đại trong văn
chương Việt Nam
Chương 2: Tiểu thuyết của Thuận – Sự thay đổi khung tự sự truyền thống
Chương 3: Tiểu thuyết của Thuận – Sự phức hợp thể loại

Chƣơng 1: KHÁI LƢỢC VỀ HẬU HIỆN ĐẠI –
DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN CHƢƠNG VIỆT NAM


1.3 Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại
1.3.1 Lai lịch thuật ngữ hậu hiện đại
Cho đến hơm nay, vẫn cịn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái chiều về
chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất về thời
điểm ra đời của nó là sau chiến tranh thế giới thứ 2.
Về nguồn gốc thuật ngữ hậu hiện đại, theo Hassan, danh từ post modernism
được Federico de Onis, nhà phê bình văn học người Tây Ban Nha sử dụng trong
cơng trình của ơng, nhan đề Hợp tuyển thơ ca Tây Ban Nha và thơ ca các nước
châu Mĩ nói tiếng Tây Ban Nha vào năm 1934 để chỉ sự đối kháng giữa chủ nghĩa
hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại. Nhưng trong công trình của Onis, chủ nghĩa
hậu hiện đại được dùng để chỉ phong trào cải cách tơn giáo nhằm mục đích hiện
đại hóa đạo Thiên chúa cuối thế kỷ 21 – đầu thế kỷ 20, và chỉ trào lưu văn học xuất
phát từ châu Mỹ La Tinh năm 1890 của một số nhà thơ, nhà văn viết bằng tiếng
Tây Ban Nha nhưng muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng Tây Ban Nha và chịu ảnh
hưởng của phái Thi Sơn – Pháp; ngoài ra chủ nghĩa hậu hiện đại ở đây còn chỉ
phong trào văn chương nghệ thuật chủ trương tìm về thiên nhiên và văn hóa dân
tộc ở Brésil, phát sinh từ São Paulo năm 1922. Như vậy, chủ nghĩa hậu hiện đại mà
Onis dùng ở đây không phải là chủ nghĩa hậu hiện đại mà ta vẫn thường hiểu, do
đó, hậu hiện đại ở đây cũng không mang nội hàm như sau này JF Lyotard dùng,
khi ông quan tâm nghiên cứu sâu ít nhất hai điều: một là “hồn cảnh của tri thức

Á (chủ yếu là Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc).
Hiểu theo nghĩa rộng, chủ nghĩa hậu hiện đại xuất hiện sau chủ nghĩa hiện
đại, cụ thể là sau thế chiến thứ 2, gắn liền với một giai đoạn phát triển cao của kinh
tế, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật cao. Hiều theo nghĩa hẹp, trong văn chương, nó
bao gồm nhiều khuynh hướng sáng tác như kịch phi lý, tiểu thuyết mới, hiện thực
huyền ảo và trào lưu hậu hiện đại. Đây là khuynh hướng chủ đạo trong sáng tác


văn học nghệ thuật thời đại ngày nay chứ không phải là khuynh hướng độc tôn bởi
các trào lưu hiện thực, lãng mạn, tượng trưng hay siêu thực vẫn tồn tại song hành
với nó và vẫn có những nhóm cơng chúng hưởng ứng.
Dù là một khái niệm đang phổ biến trên tồn thế giới nhưng hậu hiện đại
khơng có một lý thuyết thống nhất hoặc một chuỗi quan điểm mạch lạc, khơng có
tổ chức, khơng tun ngơn. Hậu hiện đại là một hiện tượng không đơn nhất, một hệ
thống mở và không ngừng vận hành trong đời sống xã hội và văn học nghệ thuật.
Dẫn theo Dana Gicia [31] thì hậu hiện đại là một khái niệm trừu tượng mà “khơng
có hai người viết nào có thể đồng ý với nhau một cách chính xác”, cịn theo nhà
nghiên cứu người Hoa Kỳ Marry Klages trong tiểu luận Chủ nghĩa hậu hiện đại
thì: “Chủ nghĩa hậu hiện đại rất khó định nghĩa, vì nó là một quan niệm xuất hiện
trong nhiều bộ môn hay khu vực nghiên cứu bao gồm nghệ thuật, kiến trúc, âm
hạc, phim ảnh, văn học, xã hội học, truyền thống, thời trang và công nghệ” [60;
tr.197].
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa Hậu hiện đại, hay còn gọi
là điều kiện hậu hiện đại, (tiếng Anh: postmodernity, tiếng Pháp: post-modernité),
là thuật ngữ do các nhà triết học, xã hội học, phê bình nghệ thuật và xã hội sử dụng
để nói về các khía cạnh của điều kiện nghệ thuật, văn hóa, kinh tế và xã hội hiện
đại, hình thành nên đời sống con người cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 với những đặc
trưng cơ bản. Những đặc trưng này bao gồm sự tồn cầu hóa, chủ nghĩa tiêu thụ, sự
phân tán quyền lực, việc phổ biến kiến thức ngày càng trở nên dễ dàng hơn.
Còn với khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại, Bách khoa toàn thư mở

mọi yếu tố, sắp xếp các yếu tố thành một cấu trúc vững bền và quy nó vào một
trung tâm. Đó cũng là thời kỳ mà người ta luôn hướng tới tương lai, cổ vũ cho các


cuộc cách mạng cả xã hội lẫn tri thức, muốn phủ định và phản kháng cái cũ với
niềm tin sẽ lập được trật tự ổn định cho toàn thế giới. Con người hiện đại ln
muốn đứng ở vị trí bên ngoài, bên trên thế giới hỗn mang để làm chủ và điều chỉnh
nó theo những lý tưởng nhất định.
Trong văn chương nghệ thuật, nhà văn hiện đại có niềm tin vào lý tưởng mỹ
học mà mình phụng sự và tin vào sự tiến bộ của nghệ thuật. Vì thế, suốt thời gian
chủ nghĩa hiện đại phát triển mạnh, các trường phái văn học, hội họa, âm nhạc liên
tục xuất hiện, phủ định lẫn nhau và khẳng định sự tồn tại của mình. Từ Dada đến
Siêu thực, từ Tượng trưng đến Biểu hiện, Vị lai…, đều là quá trình chối bỏ liên tục
cái trước đó, nhằm sáng tạo ra cái mới. Chủ nghĩa hiện đại phủ nhận chủ nghĩa
hiện thực khi phá bỏ trật tự tuyến tính, nhấn mạnh tính chủ quan của việc viết văn.
Đó là trường hợp của trào lưu dòng ý thức (stream of consciousness) với những đại
diện tiêu biểu như Marcel Proust, James Joyce, Virginia Woolf… Ở chủ nghĩa hiện
đại, sự phân biệt các thể loại không cịn rõ ràng như trước; văn xi có thể mang
tính thơ như tác phẩm của Woolf hay Joyce; thơ có thể mang tính tư liệu nhiều hơn
như trường hợp của T.S.Eliot. Văn chương hiện đại cũng tập hợp những mảnh vụn,
ngẫu nhiên, phi lý nhưng lại cố gắng sắp xếp nó theo một trật tự hợp lý, có cấu trúc
chặt chẽ, có trung tâm và ngoại diên.
Đối sánh với chủ nghĩa hiện đại, I.Hassan trong cơng trình Chuyển hướng
về hậu hiện đại (xuất bản năm 1987) đã trình bày cụ thể về đặc điểm của chủ
nghĩa hậu hiện đại trong văn học, chúng tôi xin lập biểu đồ phân biệt giữa chủ
nghĩa hiện đại// chủ nghĩa hậu hiện đại để tiện theo dõi và phân tích:
Chủ nghĩa hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại



Cạn kiệt/im lặng

khiển/biểu trưng)
Đối tượng nghệ thuật/tác phẩm

Q trình/trình diễn/đang diễn ra

hoàn chỉnh
Khoảng cách, gián cách

Tham dự vào

Sáng tạo/chỉnh thể hóa

Phá bỏ sáng tạo/giải cấu trúc

Hiện diện

Vắng mặt

Trung tâm

Phân tán

Thể loại, ranh giới

Văn bản, liên văn bản

Ngữ nghĩa học

Cái biểu đạt

Để đọc

Để viết lại (vừa đọc vừa cùng

phụ)

sáng tạo)
Tự sự, đại tự sự

Chống tự sự, tiểu tự sự

Ngôn từ tinh luyện, hệ thống

Ngơn từ cá thể

Loại hình

Biến thể

Hoang tưởng

Tâm thần phân liệt

Kiểu mẫu

Đột biến

Nguồn gốc/Nguyên nhân

khơng đóng khung, gị bó vào bất cứ một hệ thống hay lý thuyết nào, tuy nhiên, để
dễ mường tượng, chúng tôi xin giới thiệu một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan
trực tiếp đến đề tài Luận văn:
- Bất tín nhận thức (Epistermological Uncertainty)
Đây được coi là “một phạm trù thế giới quan tiêu biểu nhất cho ý thức hậu
hiện đại” [60]. Sự nảy sinh phạm trù này gắn với quá trình khủng hoảng niềm tin
vào tất cả những giá trị tồn tại trước đó. Để xác định tính hồi nghi đối với nhận
thức trong ý thức hậu hiện đại, nhà nghiên cứu văn học người Anh Ch.Brooke –
Rose cho rằng, do sự hoài nghi vào khả năng nhận thức của con người ngày càng
phổ biến, tính lịch sử của nhận thức đã không thể với tới được cách biểu hiện hiện
đại được xác định bởi cả tình trạng chính trị xã hội của xã hội đương thời, lẫn
những quan niệm được hình thành trong lịch sử. Nói cách khác, tư tưởng hậu hiện
đại đã đi đến kết luận rằng tất cả những gì được coi là hiện thực, trên thực tế khơng
phải là cái gì khác hơn chính sự hình dung về nó, sự hình dung vốn phụ thuộc vào
việc người quan sát lựa chọn điểm nhìn nào và sự thay đổi điểm nhìn dẫn tới sự


thay đổi cơ bản chính sự hình dung đó. Do vậy, sự tiếp nhận của con người buộc
phải “đa viễn cảnh”, luôn luôn thấy những dạng thức biến đổi và thực tại trong sự
thay đổi chớp nhống ấy khơng cho con người cái khả năng nắm bắt bản chất của
nó, những quy luât và những dấu hiệu cơ bản của nó.
- Đại tự sự (Grand - narratives) – Tiểu tự sự (Little - narratives)
Đây là khái niệm do Jean Francois Lyotard đưa ra trong cuốn sách nổi tiếng
La Condition Postmoderne (Điều kiện hậu hiện đại) xuất bản ở Paris năm 1979.
Lyotard dùng nhóm từ này để chỉ những hệ thống ý thức chủ đạo chi phối mọi hoạt
động của con người trong những thời đại khác nhau. Đại tự sự có thể là những câu
chuyện, lời nói, huyền thoại được lặp đi lặp lại trong cộng đồng và biến thành những
tín niệm. Mỗi cộng đồng đều có những đại tự sự của riêng mình, nó chính là phương
tiện để bảo quản sự ổn định và trật tự trong xã hội hiện đại.
Lyotard phê phán sự ổn định mà chủ nghĩa hiện đại muốn tạo ra cho xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status