Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân
gian trong tiểu thuyết "Mẫu Thượng
ngàn"
Tín ngưỡng thờ Mẫu: Một nhà thực dân khác lại phải hứng chịu sự trừng
phạt của Mẫu khi dám lên tiếng báng bổ đạo Mẫu là mê tín quàng xiên, thờ rắn
là tà giáo, không thể so sánh với các Phật giáo và Thiên Chúa giáo, ngay lập
tức bị rắn (được người dân Cổ Đình cung kính gọi là “ngựa ngài”) đuổi (ở chi
tiết này, người kể chuyện để cho người đọc thấy tính hư hư thực thực của thế
giới được thêu dệt nhiều bằng lời đồn đại: “có người còn nói”, “có người còn kể
lại những điều khó tin”, “chẳng biết những lời xầm xì ấy có đúng không”…
tr.436). Với chi tiết này, người kể chuyện muốn tạo một dư luận trong công
chúng để hạ bệ tư thế ngạo nghễ của kẻ đi chinh phục bằng phép thiêng của
đạo Mẫu hiện ra ở chốn trần gian.
Theo dẫn dắt của người kể chuyện, sự thức tỉnh của các nhà thực dân
đã đưa họ đến với nhận thức chung của cộng đồng thuộc địa. Nhà văn đã để
cho họa sĩ thực dân Pierre tổng kết về đạo Mẫu một cách say sưa và thấm thía
như người trong cuộc: “Đạo của họ thờ mẹ Trời, mẹ Đất, mẹ Nước. Họ nói đó
là đạo Người mẹ. Có thể nói gọn, đó là đạo thờ khí thiêng của thiên nhiên, thờ
người mẹ đã sinh ra thế gian này. Thờ như vậy là thờ những điều cao quý nhất,
đâu có phải là tà giáo”. (tr.427).
Cùng với mạch truyện trên, người kể chuyện còn để cho nhà thực dân
bênh vực và đánh giá cao tín ngưỡng dân gian bản địa, sánh nó ngang hàng
với những tôn giáo lớn. “Tôi nghĩ bất cứ tôn giáo nào cũng đều có trạng thái
lên đồng. Cơ Đốc giáo có sự thiên khải, Phật giáo có trạng thái ngộ đạo. Khi đã
lí thuyết hóa, ta mới coi đó là tôn giáo. Còn những sự thiên khải vô ngôn thì
sao? Còn những người bình thường bằng trực giác bỗng nhiên thấy được
những điều đẹp đẽ bí ẩn thì sao?” (tr.715). Ở đây, người kể chuyện đã đồng
nhất các khái niệm trên thực tế là không tương đồng nhau như: thiên khải, ngộ
đạo và lên đồng. Chính vì vậy, người kể chuyện đã tạo ra những cuộc đối thoại
giữa các nhà thực dân với nhau mà phần thắng nghiêng về phía những người
bênh vực và đề cao tín ngưỡng bản địa. Với người kể chuyện, trước sự áp đặt
(14)
.
Ở đây, cần phân định rõ khái niệm văn hóa làng. Trong bài Làng, liên
làng và siêu làng - mấy suy nghĩ về phương pháp, Giáo sư Hà Văn Tấn khi
nghiên cứu làng Việt Nam từ phương diện cấu trúc đã nêu và làm rõ các khái
niệm làng, liên làng và siêu làng. Ông viết: “Để tránh các khái niệm phiến diện,
đã đến lúc chúng ta phải chú ý đầy đủ đến các mối liên hệ giữa làng với bên
ngoài, tức là những mối liên hệ ngoài cấu trúc. Có thể chia những liên hệ đó
làm hai loại: một loại gồm những liên hệ giữa làng này với làng khác, tức là
mối liên hệ giữa các hệ thống tương đương, mà ở đây, chúng tôi gọi là liên hệ
liên làng. Loại thứ hai gồm những liên hệ giữa làng với cộng đồng hay khu vực
rộng lớn hơn tức mối liên hệ giữa hệ thống coi làng với các hệ thống lớn chứa
đựng nó mà ở đây chúng tôi gọi là liên hệ siêu làng. Cộng đồng siêu làng rộng
hẹp với các thứ bậc khác nhau. Khi cộng đồng tộc người đã tiến tới trình độ
dân tộc thì cộng đồng siêu làng lớn nhất là nước, là dân tộc”
(15)
. Căn cứ vào sự
phân định này thì những tục thờ mà Nguyễn Xuân Khánh miêu tả trong tiểu
thuyết Mẫu Thượng Ngàn không chỉ thuộc phạm vi văn hóa làng (chỉ với việc
thờ thần cây đa, thần cẩu) mà còn thuộc phạm vi liên làng (lễ hội thờ ông Đùng,
bà Đà, lễ hội đền Mẫu). Nói điều này để nhìn nhận rõ hơn về tính tương đồng
của các làng ở phương diện tín ngưỡng vật linh (thờ Mộc thần, thờ Cẩu thần),
và tính mở, tính liên kết các làng từ góc độ tín ngưỡng dân gian (thờ Mẫu, lễ
hội vùng); đồng thời, để thấy rõ hơn việc nhìn nhận tín ngưỡng dân gian (với
các đối lực: sức kết tủa, lắng đọng và sức bùng nổ và bứt phá, độ nhạy cảm và
tính vững bền, khả năng cố kết nội tại và khả năng kháng cự quyết liệt với các
yếu tố ngoại lai) như một sợi chỉ cố kết cộng đồng làng và liên kết cộng đồng
các làng là một phát hiện quan trọng của Nguyễn Xuân Khánh. Tư tưởng này
tạo nên tính hướng đạo, chất kết dính cho tác phẩm, vượt lên và lấn át phần
viết của ông về mối giao lưu Pháp-Việt ở phương diện chính trị và lịch sử.
dân làng Cổ Đình mang trong mình nó đặc trưng tâm lí của đám đông. Từ bối
cảnh chật hẹp của làng Cổ Đình và những mối liên hệ liên làng, ông đã nhìn
thấy sự đồng thuận vững chãi cần được khai phóng và những mù quáng và
thiển cận cần được dẫn lối chỉ đường. Ở đây, Nguyễn Xuân Khánh thể hiện
mình vừa với tư cách là một nhà văn, vừa với tư cách là một nhà tư tưởng.
Trong tác phẩm, sau những sự mô tả mê mải về sự yên ổn, vững chãi
của cộng đồng, Nguyễn Xuân Khánh đã bắt đầu hé mở những sự rạn nứt báo
hiệu những đổi thay tất yếu xảy ra: dịch tả và việc xác nhận sự thất bại của
những thói tục (tr.538); bên cạnh đó là sự xuất hiện của hội Nông phu tương tế,
của lớp dạy chữ quốc ngữ, là sự xuất hiện của lớp trẻ có học và đi theo cách
mạng Đó là xu thế không thể đảo ngược của lịch sử. Con đường đi đã mở,
nhưng những sự xuất hiện trên vẫn chỉ là thưa thớt, mà người dân Cổ Đình thì
vẫn mang nặng hành trang là hằng số văn hóa làng mà họ chưa sẵn sàng trả
giá để đổi thay. Đó là một câu hỏi đặt ra thật gay gắt và khẩn thiết cho cả cộng
đồng trong buổi giao lưu. Nguyễn Xuân Khánh đã bộc bạch những trăn trở của
mình, mà qua đó, phần nào có thể soi sáng những gì ông gửi gắm qua số phận
của con người và làng Cổ Đình: “Văn hóa của chúng ta là văn hóa nông dân.
Chúng ta là những người nhà quê. “Nhà quê” đã tạo ra dân tộc ta với những kỳ
tích. Nhưng cái nếp nông dân ấy cũng tạo nên những nếp hằn trong đầu óc
từng người dân ta và cũng gây khó khăn không ít cho dân tộc trong phát triển.
Cuộc giao lưu với phương Tây, cụ thể là với người Pháp, đã gây cho dân tộc
ta bao tủi nhục đau đớn; nhưng nếu bình tĩnh mà suy xét, cuộc va chạm lịch sử
ấy cũng làm cho chúng ta thức tỉnh khỏi giấc mơ dài để tạo ra những cơ hội để
tiến vào hiện đại”
(18)
.
Trải nghiệm cộng đồng và trải nghiệm cá nhân: Khai thác hình tượng
cộng đồng, người kể chuyện trong Mẫu Thượng Ngàn xuất hiện với tư cách là
người khái quát những kinh nghiệm cộng đồng như đã nói ở trên. Để thấy rõ
hơn điều này, chúng tôi so sánh cách triển khai của Nguyễn Xuân Khánh
nghĩ về mình”, “những khát khao của tôi nhấc tôi lên khỏi mặt đất. Những ý
nghĩ của tôi không gắn gì với đời sống và sự tồn tại của bản thân tôi” mà gắn
với “hình ảnh của một nửa thế giới bên trên tôi hoặc bên dưới tôi, thượng giới
và trần gian”. Kết thúc truyện, nhân vật Chương vẫn trên hành trình không
ngừng nghỉ đi về phía biển, với một câu hỏi diết da, đau đớn: “Con gái thủy
thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Bởi lẽ gì?”. Những câu hỏi rất người đó
chỉ đặt ra với mỗi mình Chương và lời giải đáp vẫn treo lơ lửng đâu đó, có có
không không
(19)
. Còn với làng Cổ Đình, câu hỏi đó đã có lời giải từ xa xưa, và
xem ra lời giải ấy vẫn làm yên lòng người hôm nay. Với người Cổ Đình, phép
màu hiện hữu, còn với Chương, chỉ có sự cô đơn hiện hữu còn phép màu ở
đâu xa quá, chàng phải đi tìm. Hành trình của Chương là hành trình đầy cô
đơn, còn hành trình của làng Cổ Đình là hành trình của cả cộng đồng. Trong
bối cảnh làng Việt có nhiều đổi thay, hành trình của Chương tỏ ra ứng hợp với
tâm trạng con người ở thời điểm đầu thế kỷ XXI, còn hành trình của những con
người làng Cổ Đình rõ ràng là câu chuyện của quá khứ. Để tìm đường đi cho
dân tộc, khó có thể “coi cộng đồng siêu làng hay cộng đồng nước chỉ là một
thứ “làng lớn”. Như vậy, tâm lí làng được phóng chiếu lên quy mô nước”. Và
theo giáo sư Hà Văn Tấn, “đó cũng là một thực tế cần thấy trong lịch sử và cần
khắc phục trong hiện tại”
(20)
. Thiết tưởng suy ngẫm này không quá xa với vấn
đề đang bàn trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn.
Trở lại học thuyết về tâm lí đám đông, có thể nhìn nhận sự khác biệt
giữa Con gái thủy thần và Mẫu Thượng Ngàn ở hai phía của thực tại đang
được phản ánh. “Đám đông bao giờ cũng thấp kém về mặt trí tuệ so với con
người đứng riêng lẻ, nhưng cũng phải kết luận rằng, xét về mặt tình cảm và
hành động mà tình cảm này gây ra, đám đông có thể tốt hơn hay xấu hơn tùy
theo hoàn cảnh. Tất cả phụ thuộc vào cái cách đám đông được gợi ý” (tr.53).
hóa liên làng, quy trình sáng tạo tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn vì vậy, có sự
gần gũi với quy trình sáng tạo văn học dân gian, nhưng hiển nhiên nhà văn
Nguyễn Xuân Khánh đã không hòa tan vào nhân vật đám đông như các nhà
biên soạn văn học dân gian thuần tuý mà đã chứng tỏ sự khác biệt của mình
bằng sự nghiền ngẫm và tổng kết ngay trong vai người kể chuyện ở trong tác
phẩm. Có thể nói, người kể chuyện - Nguyễn Xuân Khánh đã thành công trong
việc “đóng vai” và “thoát xác” khỏi vai một nghệ nhân bằng sự chững chạc của
tư thế một nhà khảo cứu, và bằng tai hoa của một nhà văn sống hết mình với
những lao tâm khổ tứ cho nghệ thuật.
*
Chọn thời điểm đầu thế kỷ XX làm bối cảnh cho cuốn tiểu thuyết, có thể
thấy, vấn đề mà Nguyễn Xuân Khánh đặt ra trong Mẫu Thượng Ngàn là vấn đề
số phận của dân tộc trước ngoại xâm, rộng ra là những thách đố về ứng xử
của cả dân tộc trước sự tiếp xúc với ngoại bang - một vấn đề nổi lên nhức nhối
ở nhiều thời điểm trong lịch sử Việt Nam. Xuất bản cuốn sách vào đầu thế kỷ
XXI này, Nguyễn Xuân Khánh không thể là người ngoài cuộc về các vấn đề
giao lưu và hội nhập đang đặt ra hết sức bức thiết và nóng bỏng vào thời điểm
hiện nay.
Tìm hằng số văn hóa người Việt trong tín ngưỡng dân gian ở văn hóa làng và liên
làng, Nguyễn Xuân Khánh đã thực sự tìm cho mình một lối nẻo mới. Nếu Hồ Quý
Ly là việc nhìn nhận vai trò của cá nhân đối với lịch sử thì Mẫu Thượng Ngàn nhìn
nhận vai trò của cộng đồng như là một nền tảng mà từ đó, cá nhân mới có cơ hội
để bứt phá. Nhưng cộng đồng, với sự đồng thuận và mù quáng đặc trưng của
tâm lí đám đông, lại dựa vào tín ngưỡng dân gian với tất cả sức mạnh và sức ỳ
của nó, với tác dụng cố kết cộng đồng cũng như tác hại cản trở đối với sự phát
triển của nó, quả là có nhiều giới hạn. Nhận diện để khai phóng nguồn sức mạnh
đó là một vấn đề quan thiết cho vận mệnh của dân tộc hôm nay./.