Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
TRNG I HC S PHM H NI 2
KHOA: NG VN
*************
DNG TH TUYT
QUAN NIM V TH TRONG VN HC
VIT NAM GIAI ON 1945 - 1975
KHO LUN TT NGHIP I HC
Chuyờn ngnh: Lớ lun vn hc
Ngi hng dn khoa hc
GV. HONG TH DUYấN
H NI 2010
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
1
Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
LI CM N
Dng Th Tuyt
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
3
Khãa luËn tèt nghiÖp
D¬ng ThÞ TuyÕt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề......................................................................2
3. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu.........................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................5
6. Đóng góp của khóa luận..........................................................................5
7. Cấu trúc của khóa luận............................................................................5
NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở dẫn đến sự hình thành quan niệm thơ ca từ
1945 –1975........................................................................................................7
1.1. Cơ sở lý luận chung................................................................................... 7
1.1.1. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa thơ ca với
đời sống.............................................................................................................7
1.1.1.1.Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội..................................6
1.1.1.2. Mối quan hệ giữa thơ ca với đời sống……………………………......8
1.1.2. Mối quan hệ giữa các hình thái ý thức xã hội, giữa thơ ca
(ý thức thẩm mỹ) với ý thức chính trị………………………………………..9
3.1. Kết cấu thơ……………………………………………………………...44
3.2. Hệ thống hình ảnh, biểu tượng……………………………………….…48
3.2.1. Hình tượng đất nước..............................................................................48
3.2.2. Hình tượng nhân dân.............................................................................51
3.2.3. Hình tượng kẻ thù……………………………………………………..58
3.3. Ngôn ngữ thơ……………………………………………………………62
3.3.1. Ngôn ngữ chính trị xuất hiện đậm đặc………………………………..63
3.3.2. Ngôn ngữ thơ giản dị, dễ hiểu, gần gũi với cuộc sống đời thường…...65
3.4. Thể thơ…………………………………………………………………..68
3.4.1. Sự phát triển của các thể thơ có nguồn gốc từ dân gian………………68
3.4.2. Sự phát triển và hoàn thiện của thể thơ tự do…………………………69
3.4.3. Sự phát triển của thể trường ca………………………………………..70
KẾT LUẬN …………………………………………………........................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………76
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
5
Khãa luËn tèt nghiÖp
D¬ng ThÞ TuyÕt
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thơ ca từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần bổ ích, là dòng sữa ngọt
ngào nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người dân Việt Nam. Tìm hiểu, nghiên cứu về
thơ ca là một công việc hết sức hấp dẫn, thú vị. Mỗi người tìm đến với thơ ca
ở một góc độ khác nhau, khám phá những cái hay, cái đẹp riêng có của thơ.
dân tộc.
Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, thống nhất; tính phân cực trong
quan niệm thơ ca đang diễn ra hết sức gay gắt. Song việc nhìn nhận lại một
nền văn học trong quá khứ để so sánh, đối chiếu với nền văn học đương đại,
để định hướng ít nhiều cho sự phát triển của một nền văn học trong tương lai
là một việc làm cần thiết.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ là một thể loại văn học quen thuộc ra đời sớm và có sức sống
mãnh liệt trong trường kì đấu tranh dựng nước và giữ nước của người Việt.
Việc tìm hiểu quan niệm về thơ Việt Nam là một vấn đề cần thiết đặt ra cho
ngành lí luận văn học.
So với phương Đông (đặc biệt Trung Quốc) và Phương Tây nền lí luận
của Việt Nam còn khá non trẻ. Khi nói đến quan niệm thi ca, trên thế giới đã
có một số công trình nổi tiếng như: “Nghệ thuật thi ca” của Aristose, “Văn
tâm điêu long” của Lưu Hiệp, “Tuỳ viên thi thoại” của Viên Mai... ở Việt
Nam, hầu hết các nhà thơ khi sáng tác đều đưa ra quan niệm riêng của mình
về thơ nhưng còn rời rạc, lẻ tẻ. Sau này, những ý kiến ấy được Trần Mạnh
Tiến tập hợp trong cuốn “Lý luận và phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ
XX.” Cuốn sách đã nghiên cứu và tổng kết chung những quan niệm về thơ
ca trên các bình diện: Thơ là gì? Mối liên hệ giữa thơ và nhà thơ? Nguồn gốc
của thơ... qua việc khảo sát các ý kiến của Phan Kế Bính, Phan Khôi,
Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc...
Theo Phan Kế Bính: “Thơ là để nói chí của mình, để ngâm vịnh tính
tình”.
Phan Khôi cho rằng: “Thi là một lối văn có vần theo thanh âm từ điệu
của một thứ tiếng mà làm ra”.
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
7
Ch Lan Viờn thỡ khng nh:
Th khụng ch a ru m cũn thc tnh
Khụng ch ting i hi m phi p bn, quỏt thỏo, lo toan.
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
8
Khãa luËn tèt nghiÖp
D¬ng ThÞ TuyÕt
Mỗi tác giả đều đưa ra quan niệm riêng của mình về thơ nhưng nhìn
chung tất cả các nhà thơ thời kì này đều coi thơ ca là tiếng nói đấu tranh, phục
vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu. Tuy nhiên, cho đến nay, việc tìm hiểu, tập hợp
quan niệm của các nhà thơ này thành một hệ thống quan niệm về thơ Việt
Nam thời kì 1945 – 1975 thì hầu như còn vắng bóng.Với mong muốn được bổ
sung ít nhiều vào sự trống vắng đó, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu
quan niệm về thơ trong giai đoạn 1945 – 1975.
3. Mục đích và nhiệm vụ của khoá luận
3.1. Nhiệm vụ
Khoá luận này có nhiệm vụ chủ yếu là chỉ ra được quan niệm về thơ
Việt Nam: các lời bàn có liên quan đến thơ như nội dung và hình thức của
thơ, vai trò của nhà thơ, đối tượng thưởng thức và phục vụ của thơ ca…; từ đó
thấy được hệ thống ý thức tư tưởng chi phối đến hệ thống thi pháp thơ giai
đoạn 1945 - 1975. Đây cũng là cơ sở để cảm thụ, phân tích, giảng dạy thơ
thời kì này một cách hiệu quả.
3.2. Mục đích
ở một góc nào đó có thể rút ra một số vấn đề lý luận về đặc trưng thể
- Phương pháp hệ thống: Đặt quan niệm về thơ trong hệ thống các vấn
đề cơ bản của lí luận thể loại để tìm hiểu nội dung cụ thể của quan niệm, thấy
được diễn tiến lịch sử của quan niệm này.
- Phương pháp so sánh nhằm nhận diện những nét khác biệt trong quan
niệm về thơ ca của giai đoạn văn học 1945 -1975 so với các giai đoạn trước
và sau nó.
- Phương pháp phân tích một số câu thơ, bài thơ tiêu biểu để minh hoạ
cho những nhận định khái quát.
6. Đóng góp của khoá luận:
- Cố gắng tổng kết và khái quát diện mạo của một nền thơ ca trong quá
khứ bằng một cách tiếp cận mới từ quan niệm thơ ca. Trong chừng mực nhất
định, khoá luận là sự cụ thể hoá và hệ thống hoá sơ bộ quan niệm thơ ca giai
đoạn 1945 – 1975, góp phần làm phong phú kho tàng lí luận về thể loại.
Thông qua việc tìm hiểu một số vấn đề cơ bản về quan niệm thơ ca 1945 –
1975 nhằm làm rõ diện mạo lịch sử phát triển của quan niệm về thơ hiện đại;
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
10
Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
thy c nhng úng gúp ca th ca 1945 1975 trong nn vn hc Vit
Nam v trong s nghip cỏch mng chung ca ton dõn tc.
- V mt thc tin: Khoỏ lun nhm phc v ớt nhiu cho vic dy v
hc cỏc tỏc phm th t 1945 1975 trong nh trng ph thụng.
7. Cu trỳc ca khoỏ lun
Khỏc vi tn ti xó hi, ý thc xó hi c hiu l mt tinh thn ca
i sng xó hi.... bao gm nhng t tng, tỡnh cm, tõm trng, truyn thng
ca c cng ng xó hi... ny sinh t tn ti xó hi v phn ỏnh tn ti xó hi
trong giai on phỏt trin nht nh. [16, 423]
Tn ti xó hi v ý thc xó hi cú mi quan h bin chng vi nhau.
Tn ti xó hi quyt nh ý thc xó hi nhng ý thc xó hi cng cú tớnh c
lp tng i, nú cú th thỳc y hoc kỡm hóm s phỏt trin ca tn ti xó
hi. chng ny, tỏc gi khoỏ lun ch tp trung lm rừ s quyt nh ca
tn ti xó hi i vi ý thc xó hi. Theo Mỏc v Ph ngghen:
i sng tinh thn ca xó hi hỡnh thnh v phỏt trin trờn c s
ca i sng vt cht; khụngth tỡm ngun gc ca t tng, tõm lý xó hi
trong bn thõn nú, ngha l khụng th tỡm trong u úc con ngi m phi
tỡm trong hin thc vt cht. [16, 431]
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
12
Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
T nhn nh trờn, ta cú th khng nh tn ti xó hi quyt nh ý thc
xó hi hay núi cỏch khỏc ý thc xó hi chớnh l s phn ỏnh tn ti xó hi, nú
cú ngun gc t tn ti xó hi v do tn ti xó hi quy nh. Mi khi tn ti xó
hi thay i ngha l khi nhng sinh hot vt cht v cỏc iu kin sinh hot
vt cht ca xó hi thay i thỡ nhng t tng, quan im v chớnh tr, phỏp
quyn, trit hc, o c, vn hoỏ, ngh thut,... sm mun s bin i theo.
Vỡ th, nhng thi kỡ lch s khỏc nhau, nu chỳng ta cú nhng lớ lun
thời phản ánh hai cuộc kháng chiến với niềm tin phơi phới vào tương lai, vào
sự tất thắng của dân tộc. Khuynh hướng lãng mạn tích cực bao trùm thơ ca
giai đoạn này.
Tuy nhiên kể từ sau 1975; đất nước đã hoà bình, thống nhất, nhiều vấn
đề mới trong cuộc sống thời bình được đặt ra hết sức phức tạp. Văn học nói
chung và thơ ca nói riêng lại có sự đổi mới cho phù hợp với thực tế cuộc sống
vô cùng phong phú, bề bộn. ở thời kỳ này, ta thấy xuất hiện rất nhiều khuynh
hướng thơ khác nhau: có khuynh hướng thơ kế thừa những giá trị truyền
thống lại có khuynh hướng thơ hướng tới những cái cao siêu, thần bí, phủ
nhận những giá trị của thơ ca trước đây.
Tóm lại, văn học nói chung và thơ ca nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc
của thực tế đời sống. Nói như M.Gorki thì văn học là tấm gương phản ánh
cuộc sống. Nhà văn, nhà thơ với tư cách là người thư kí trung thành của thời
đại sẽ dùng ngòi bút của mình để phản ánh muôn mặt của đời sống xã hội
trong thời đại mình.
1.1.2. Mối quan hệ giữa các hình thái ý thức xã hội; giữa thơ ca (ý
thức thẩm mỹ) với ý thức chính trị.
1.1.2.1. Mối quan hệ gữa các hình thái ý thức xã hội
Như chúng ta đã biết có sáu hình thái ý thức xã hội cơ bản. Đó là “ý
thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoa học, ý thức
thẩm mĩ và ý thức tôn giáo.” [16, 440] Lịch sử phát triển của ý thức xã hội
cho thấy thông thường ở mỗi thời đại, mỗi quốc gia tuỳ theo hoàn cảnh lịch
sử cụ thể trong những giai đoạn lịch sử nhất định sẽ có một hình thái ý thức
nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh mẽ, chi phối đến các hình thái ý
thức xã hội khác. Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã
hội, ý thức chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng, nó sẽ định hướng cho sự
phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực của các hình thái ý thức xã
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
với ý thức chính trị đúng đắn chủ trương văn học là một mặt trận đấu tranh
chống kẻ thù thì những tác phẩm thơ ca phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, tố
cáo kẻ thù xâm lược có điều kiện “nở rộ”. Văn học nói chung và thơ ca nói
riêng phát triển theo chiều hướng tiến bộ, tích cực và khá thuần nhất.
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
15
Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
n sau 1975, i hi ng ln th VI ó tin hnh i mi t nc
trong ú cú i mi t duy, cho phộp nh vn, nh th c t do trong sỏng
to v phn ỏnh thỡ th ca li phỏt trin a dng vi nhiu khuynh hng phc
tp ch khụng thun nht l phc v chớnh tr, c v chin u nh giai on
trc ú.
Nh vy, vn hc núi chung, th ca núi riờng bờn cnh s ph thuc
vo thc t lch s ca xó hi (tc tn ti xó hi) nú cũn ph thuc vo ý thc
chớnh tr (s nh hng ch o v vn hoỏ - vn ngh ca ng).
1.2. C s hỡnh thnh quan nim v th 1945 - 1975.
Nh trờn ó trỡnh by, cú hai nguyờn nhõn khỏch quan c bn chi phi
ti s phỏt trin ca th ca. ú l tn ti xó hi v ý thc chớnh tr. Trong gii
hn ti, khoỏ lun s tp trung lm rừ nhng yu t lch s xó hi v
chớnh sỏch vn hoỏ, vn ngh ca ng trong giai on lch s 1945 1975.
Bờn cnh hai nguyờn nhõn khỏch quan ny, ngi vit cng s ch ra c s
hỡnh thnh quan nim th ca t phớa ch quan ý thc ch th ca cỏ nhõn
ngi ngh s.
lc chin tranh n phng v chin tranh c bit Min Nam, thỏng
8/1964, quc M ó trng trn a khụng quõn ra ỏnh phỏ Min Bc. Lỳc
ny, khụng phõn bit hu phng hay tin tuyn nhõn dõn hai min Nam Bc li on kt mt lũng ng lờn khỏng chin chng M vi ý chớ quyt tõm
cao v nim tin phi phi tng lai:
X dc Trng Sn i cu nc
M lũng phi phi dy tng lai.
(T Hu)
Cuc khỏng chin chng M din ra ngy cng ỏc lit, quõn i vin
chinh M t vo Vit Nam, cựng vi ú l nhng thn sm, con ma nhng v khớ ti tõn, li hi nht c huy ng vo chin trng Vit Nam.
Song vi tinh thn kiờn gan, bn chớ, vi s thụng minh, mu lc; quõn v
dõn ta ó ln lt ỏnh bi cỏc chin lc chin tranh phỏ hoi Min Bc,
chin tranh cc b v Vit Nam hoỏ chin tranh ca quc M. Cuc khỏng
chin chng M cu nc kộo di 21 nm vi nhiu giai on v din bin
phc tp, vi nhng hi sinh to ln nhng cui cựng ó ginh c thng li
trn vn, xng ỏng l mt trong nhng cuc chin v i nht trong lch s
u tranh gi nc ca dõn tc ta núi riờng v th gii núi chung. Theo T
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
17
Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
Hu, hon cnh gian kh ca cuc khỏng chin y tuy cú gõy ớt nhiu khú
khn v vt cht nhng ó to ra mt khụng khớ lnh mnh vi hng chc
triu qun chỳng dng cm chng quc, thc dõn bng tt c lũng yờu
nc v s cm thự gic sõu sc. ú thc s l mt ngun sinh lc vụ tn
Dương Thị Tuyết
cỏch mng v dõn tc tuy vn cũn trong trng thỏi tim nng. ri ngay sau
ú, ng ó ch o vic thnh lp hi vn hoỏ cu quc, tp hp nhiu vn
ngh s yờu nc vo t chc vn ngh u tiờn ca Vit Nam.
n 1948, trong hi ngh vn hoỏ ton quc, ng chớ Trng Chinh ó
c bn bỏo cỏo Ch ngha Mỏc v vn hoỏ Vit Nam Trng Chinh ó ch
rừ: V sỏng tỏc vn ngh ly ch ngha hin thc xó hi ch ngha lm gc.
Bn bỏo cỏo ny ó b sung, phỏt trin nhng quan im v vn húa trong
bn cng vn hoỏ Vit Nam nm 1943 lờn mt tm cao mi. Bỏo cỏo
tip tc khng nh:
Vn hoỏ dõn ch mi ca ta hin nay phi l vn hoỏ cú tớnh cht dõn
tc, khoa hc v i chỳng. Ba tớnh cht y ng thi tn ti v cú quan h
khng khớt vi nhau, khụng th tỏch ri c. [17, 8].
Bn bỏo cỏo chớnh l mt im ta tinh thn cho cỏc vn ngh s trong
quỏ trỡnh nhn ng, khi m h dự rt yờu nc, rt mun tham gia cỏch
mng nhng cũn ht sc lỳng tỳng. Ta nh li nhng nm u sau khi cỏch
mng thỏng Tỏm thnh cụng, rt nhiu vn ngh s khụng tỡm c cm hng
sỏng tỏc; c bit l mt s nh th cú tờn tui trong giai on vn hc trc
cỏch mng nh Huy Cn, Ch Lan Viờn...Vỡ th, bn bỏo cỏo ca ng chớ
Trng Chinh chớnh l ngun ng viờn sc mnh tinh thn cho cỏc vn ngh
s. Theo Tụ Ngc Võn thỡ:
Chỳng tụi mun i mỏu, mun on tuyt vi cỏi d vóng ngh thut
nhng s chuyn hng ngh thut, chỳng tụi cm thy khú khn nng n nh
mt trỏi nỳi.
Cú th núi, bn bỏo cỏo Ch ngha Mỏc v vn vn hoỏ Vit Nam
ca ng chớ Trng Chinh l ni quy t sc mnh, l kim ch nam giỳp vn
ngh s thy rừ con ng phi i, thy rừ vic phi lm.[17, 8] Bn bỏo cỏo
1.2.3. ý thc ch th ca ngi ngh s
Con ngi l sn phm ca t nhiờn v xó hi. Nh th cng khụng
phi l mt trng hp ngoi l. Nhng iu kin sinh hot v vt cht ln
tinh thn cựng vi mụi trng lm vic, nhng hin tng, s kin m ngi
ngh s chng kin trong cuc sng hng ngy ca h s tỏc ng sõu sc ti
th gii quan ca ngi ngh s, lm bin chuyn nhn thc, li suy ngh v
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
20
Khóa luận tốt nghiệp
Dương Thị Tuyết
hnh ng ca mi nh th ri t ú, dn n s thay i trong quan nim
v th. Nu nhng nm trc cỏch mng thỏng Tỏm, ngi ngh s t cho
mỡnh ng ngoi cuc u tranh ca ton th dõn tc ta, coi th l ni trn
chy thc ti thỡ trong giai on t 1945 1975, ngi ngh s ó ý thc c
vai trũ, trỏch nhim cụng dõn ca mỡnh. H t nguyn nhp cuc, ho mỡnh
vo phong tro u tranh ca qun chỳng v coi th l mt v khi u tranh
sc bộn, sỏng tỏc th ca l phc v chớnh tr, c v chin u. iu ny s
c lm rừ hn chng 2.
Nh vy, trong thi kỡ nc nh cú chin tranh, cỏc vn ngh s ó tng
tõm nim: Sng ó ri hóy vit, gúp sc vo cụng vic khụng ngh thut
lỳc ny l sa son cho tụi mt th ngh thut cao hn. Chớnh s thay i
trong ý thc ch th y ó chi phi ti s hỡnh thnh quan nim v th Vit
Nam 1945 1975.
Tiu kt
hoặc những vấn đề tổng quát, những quy luật... của thế giới vật chất, tinh
thần, tự nhiên và xã hội.
Quan niệm thường được biểu hiện bằng ngôn ngữ, kí hiệu, khái niệm,
thuật ngữ. Nó có khả năng nghiên cứu các quy luật khách quan và trên sơ sở
đó xây dựng những biểu tượng và khái niệm hoặc phù hợp hoặc xuyên tạc
hiện thực khách quan. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quan niệm
chính là những tri thức khái quát mang tính chất định hướng, chỉ đạo trong
việc thực hiện một hành động nào đó.
2.1.2. Quan niệm về thơ
Thơ là một thể loại văn học hết sức quen thuộc và phổ biến; việc xác
định một quan niệm về thơ là vấn đề cần thiết nhưng hết sức khó khăn. Mỗi
người nghệ sĩ sáng tạo đều có quan niệm riêng của mình về thơ; cả những nhà
lí luận, phê bình cũng đưa ra nhiều nhận định khác nhau về thơ.
Thời trung đại, đa số các tác giả thơ đều quan niệm: “Thi dĩ ngôn chí”
làm thơ là để bày tỏ lòng mình, để nói cái chí của người quân tử. Vì thế, ta bắt
gặp không ít các bài thơ có nhan đề là ngôn hoài, ngôn chí, thuật hoài, thuật
hứng, tự thuật, mạn thuật, trần tình, tự tình... Trong quan niệm của người xưa,
thơ được xem là một giá trị tinh thần cao quí: “như nhật nguyệt, tinh thần trên
trời, sơn, xuyên, hoa, điểu trên mặt đất” [13, 141]. Vì thế thơ ca bao giờ
cũng mang tính trang nhã, ước lệ, tượng trưng rõ nét. Thậm trí, thơ ca còn
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
22
Khãa luËn tèt nghiÖp
D¬ng ThÞ TuyÕt
23
Khãa luËn tèt nghiÖp
D¬ng ThÞ TuyÕt
thô bỉ quê mùa,... phải cho hùng kiện thì mới có khí lực mạnh mẽ, phải cho
thú vị thì mới khiến người ngâm lấy làm vui thích, răng lợi như được ướp
hương thơm, môi lưỡi như được nếm vị ngọt.” [8, 77].
Như vậy, theo Nguyễn Văn Ngọc, một bài thơ hay được xem như là
một chỉnh thể thẩm mĩ kết tinh của nhiều yếu tố: trí tuệ, tinh thần, tình cảm,
ngôn ngữ nghệ thuật.... Tất cả những yếu tố đó làm cho thơ sống động và thu
hút một cách kỳ diệu.
Có thể nói, đi vào khám phá thế giới của thơ, các tác giả đã quan tâm
tới nhiều bình diện khác nhau của thơ, và trong từng bình diện đã thể hiện
được những ý kiến phong phú và sinh động của từng người. Song nhìn chung
quan niệm về thơ những năm đầu thế kỷ XX phần lớn vẫn chưa vượt ra
khỏi những quan điểm “khuôn vàng thước ngọc” của thi pháp văn học
Trung đại. Phải đến những năm 30 của thế kỉ XX, sự ảnh hưởng mạnh mẽ
của văn hoá Phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, cùng với đó là sự trỗi dậy
mạnh mẽ của nhu cầu khẳng định cái tôi của cá nhân đã khiến cho thơ ca phát
triển vô cùng phong phú, đa dạng:
“Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa có thời đại nào
phong phú như thời đại này, chưa bao giờ người ta thất xuất hiện cùng
một lúc: hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, hùng tráng như Huy Thông, trong
sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như
Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên, và thiết tha , rạo rực, băn khoăn
như Xuân Diệu [9, 132].
Quan niệm thơ ca vì thế cũng có sự thay đổi. Thơ chuyển từ địa của
(Cảm tưởng đọc thiên gia thi)
Theo Hồ Chí Minh, thơ ca phải có tính chiến đấu, là vũ khí đấu tranh
cách mạng. Tố Hữu thì khẳng định:
“Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”.
Bàn về thơ; Sóng Hồng cho rằng:
“Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ
phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là
tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình
cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời
thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường.”[1, 310].
Trêng §H S ph¹m Hµ Néi 2
25