Sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 trung học phổ thông (Chương trình chuẩn) - Pdf 14

Lời cảm ơn
Để hoàn thành được khoá luận này thì trong suốt quá trình thực hiện, dưới
sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Cô Chu Mai Hương và sự nỗ lực của bản
thân. Ngoài ra tôi còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Sử
- Địa, các cán bộ thư viện của Trường Đại học Tây Bắc cũng như gia đình và
bạn bè.
Tôi cám ơn chân thành và sâu sắc tới Cô giáo Chu Mai Hương, giảng viên
khoa Sử- Địa - người đã động viên và khích lệ rất nhiều cùng toàn thể các thầy
cô trong khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc.
Qua đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn nhà trường, phòng thư viện
Trường Đại học Tây Bắc, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện
Đinh Thị Hương



MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.3. Mục đích nghiên cứu 4
3.4. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
4.1. Cơ sở phương pháp luận 4
4.2. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Cấu trúc của khóa luận: 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO
BIỂU TƯỢNG CẤC ĐỊA ĐIỂM TRONG DHLS Ở TRƯỜNG THPT 6
1. Cơ sở lý luận 6
1.1. Quan niệm về biểu tượng lịch sử 6
1.1.2. Quan niệm biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện 7
1.1.3. Quan niệm về công nghệ thông tin 9
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin để tạo biểu tượng
về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 10
1.2.1. Vai trò 10
1.2.2. Ý nghĩa 13
1.3. Yêu cầu sư phạm của việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm
xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông 15
1.3.1. Đảm bảo tính cơ bản 15
1.3.2. Đảm bảo mục đích giáo dục cho học sinh 16
1.3.3. Đảm bảo mục đích phát huy tích tích cực, độc lập của học sinh 16
1.4. Cơ sở thực tiễn việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy
ra sự kiện trong DHLS 18

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng, quá trình DHLS trước hết là quá trình tổ chức hoạt
động nhận thức lịch sử của học sinh, tuân theo quy luật “Từ trực quan sinh động
đến tư duy trừu tượng từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” nghĩa là, DHLS phải
dựa trên cơ sở cung cấp, sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, rút ra
quy luật, bài học lịch sử phục vụ cho thực tiễn cuộc sống.
Hơn thế nữa do tri thức lịch sử mang những đặc điểm như: tính quá khứ,
tính cụ thể, tính không lặp lại Do vậy, việc học tập lịch sử không thể “trực
quan sinh động” giống như những môn học tự nhiên khác mà phải từ việc nắm
sự kiện để rồi tạo biểu tượng lịch sử là một khâu không thể thiếu được trong quá
trình nhận thức lịch sử nói chung và nhận thức lịch sử trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông nói riêng.
Như đã nói thì do đặc điểm của tri thức lịch sử thì việc tạo biểu tượng lịch
sử là rất quan trọng. Trong đó loại biểu tượng về địa điểm nơi xảy ra sự kiện có
ý nghĩa, vị trí quan trọng bởi sự kiện là cơ sở của tri thức lịch sử mà địa điểm là
nơi diễn ra sự kiện đó, sẽ giúp cho học sinh hiểu đúng lịch sử, đi sâu vào bản
chất của sự việc. Từ đó thấy được mối quan hệ giữa sự kiện với hoàn cảnh địa lí
diễn ra sự kiện đó và với điều kiện tự nhiên, xã hội, con người…Tất cả những
nhân tố đó đã tác động lẫn nhau, đồng thời góp phần vào nguyên nhân xảy ra
các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, phần nhiều các giáo viên chưa thực sự quan tâm
nhiều tới việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung và biểu tượng về địa điểm xảy ra
sự kiện lịch sử nói riêng, hoặc nếu có sử dụng thì lại chưa biết cách ứng dụng
công nghệ thông tin mà chủ yếu vẫn là những cách dạy truyền thống. Vì vậy, mà
hiện tượng học sinh bỏ những chi tiết lịch sử cơ bản và tình trạng nhàm chán
trong học môn lịch sử vẫn là một bài toán khó cần có một lời giải đúng đắn.
Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh không chỉ dừng ở lại việc miêu tả
bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện. Việc tạo biểu tượng về địa điểm
xảy ra sự kiện lịch sử sẽ giúp cho các em rèn luyện được kỹ năng khai thác tranh

lịch sử, vai trò và việc phân loại biểu tượng, các biện pháp sư phạm để tạo
biểu tượng lịch sử.
Trong cuốn “Những vấn đề chung về bộ môn phương pháp dạy học lịch sử
ở trường cao đẳng sư phạm” của Nguyễn Anh Dũng, Trần Viết Vượng, cũng đã
đề cập tới: Con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh, trong đó nêu
một cách khái quát về việc tạo biểu tượng và những phần liên quan một cách
ngắn gọn, xúc tích nhất.
Trong các tác phẩm lý luận dạy học của M.N SACDACOP “Tư duy của
học sinh”, Nxb giáo dục hà nội 1970 và Hồ Ngọc Đại “Tâm lý dạy học”, Nxb
giáo dục 1983, đã đề cập đến vấn đề tạo biểu tượng lịch sử như là một khâu
không thể thiếu của quá trình nhận thức lịch sử. Tác giả Hồ Ngọc Đại đã nêu lên
vai trò của việc tạo biểu tượng thông qua việc khẳng định quá trình tri giác để
tạo biểu tượng, sẽ trở thành chỗ dựa khi lĩnh hội tri thức.

3
Trong cuốn “Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK lịch sử THCS phần
lịch sử Việt Nam” và cuốn “Kênh hình dạy học lịch sử ở Trường THPT” tập
một phần lịch sử Việt Nam do giáo sư Nguyễn Thị Côi chủ biên cho chúng ta
nắm được những nội dung lịch sử và phương pháp sử dụng hệ thống kênh hình
trong dạy học phần lịch sử Việt Nam. Giúp giáo viên lựa chọn các phương pháp
phù hợp tạo biểu tượng cho học sinh.
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử cũng được nói tới rất nhiều
trong các sách như: Trong cuốn “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở
trường THCS” của Trịnh Đình Tùng, Trần Việt Thục, Đặng Văn Hồ, Trần Văn
Cường, Nxb Đại học Sư Phạm có một chương nói về phần sử dụng tài liệu trên
mạng internet trong dạy học lịch sử, có nói về việc ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học lịch sử. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu khai thác trên
mạng internet trong dạy học lịch sử và những yêu cầu, biện pháp sư phạm khi
khai thác internet trong dạy học lịch sử.
Trong cuốn “Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, Nxb Đại

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của việc sử dụng công nghệ thông tin để
tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử.
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 12 phần lịch sử Việt
Nam 1945 đến 1954.
Đề xuất một số biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự
kiện với sự ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học phần lịch sử Việt
Nam trong giai đoạn (1945-1954).
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở phương pháp luận
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận đúng đắn của chủ nghĩa Mac -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước về nhận thức,
về giáo dục nói chung và về lịch sử nói riêng.
Việc thực hiện khóa luận nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong việc dạy
học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng được nhu cầu hiện nay của việc xã hội
giáo dục.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở khóa luận thuộc về chuyên ngành “Phương pháp dạy học lịch
sử” sẽ nghiên cứu với các phương pháp.
Nghiên cứu một số tác phẩm của chủ nghĩa Mac - Lênin, chủ tịch Hồ Chí
Minh chủ chương của nhà nước ta về nhận thức giáo dục nói chung và giáo dục
lịch sử nói riêng.
Nghiên cứu một số công trình của các nhà giáo dục và tâm lý có liên quan.
Phương pháp nghiên cứu, phương pháp lịch sử và phương pháp logic

5
Phương pháp nghiên cứu kết hợp với lý luận và thực tiễn, phương pháp
quan sát thực tế trên phạm vi xác định.
5. Cấu trúc của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, phần nội
dung của khoá luận gồm 2 chương:

1. Cơ sở lý luận
1.1. Quan niệm về biểu tượng lịch sử
Do đặc điểm của sự nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ
trực quan sinh động mà từ việc nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử. Tuy
vậy, việc học tập lịch sử cũng tuân theo quy luật chung của quá trình nhận thức:
Qua 2 giai đoạn, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, tạo biểu tượng được
xem như là giai đoạn nhận thức cảm tính của quá trình học tập lịch sử.
Biểu tượng là khái niệm được giải thích và nói tới ở các mức độ và lĩnh vực
nhận thức khác nhau.
Theo tâm lý học, biểu tượng là biểu tượng của ký ức - nhưng hình ảnh của
các sự vật, hiện tượng không phải đang được tri giác mà là đã được tri giác trước
đây. Trong quá trình tri giác thế giới khách quan con người phản ánh sự vật và
hiện tượng xung quanh mình dưới dạng các hình ảnh và sự phản ánh đó mang
tính trực quan. Các hình ảnh trực quan đó luôn tác động lên các cơ quan thụ
quản khác nhau của hệ thần kinh con người và được duy trì một khoảng thời
gian nhất định trong ý thức của họ.
Quá trình tri giác luôn mang tính trực quan cụ thể. Các hình ảnh của biểu
tượng phản ánh những đặc điểm bên ngoài và đôi khi cả những đặc điểm bên
trong của sự vật hiện tượng, đây chính là sự nhận thức của hoạt động tư duy.
Như vậy, theo tâm lý học thì biểu tượng là những hình ảnh trực quan nảy
sinh trong não người về những sự vật và hiện tượng đã được truy giác trước đây.
Trong dạy học lịch sử giáo viên cần tạo được những biểu tượng để các em
ghi nhớ kiếm thức một cách hiệu quả, xong để làm được điều đó giáo viên phải
có sự chuẩn bị từ trước, bởi không có biểu tượng nảy sinh từ những trực giác đối
với những sự kiện, hiện tượng lịch sử mà việc hình thành nên những biểu tượng
lịch sử phải dựa trên những sự kiện hiện tượng đã được con người nhận thức từ
trước để nhằm tái tạo lịch sử một cách chính xác và sinh động.
Ví dụ: khi tạo biểu tượng lịch sử về địa điểm xảy ra sự kiện trong cuộc tiến
công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954. Rõ ràng chúng ta không thể trực tiếp
quan sát trận địa Đông - Xuân tại thời điểm đó được ta và địch bố trí như thế

chỉ tên các lãnh thổ núi, non, sông, ngòi, biển, đại dương, các đặc điểm thuần
cư như thành phố, thị xã, thị trấn, làng mạc”.
Bất cứ một vùng đất nào dù lớn hay nhỏ đều có các địa danh, tên gọi khác
nhau. Địa danh bao gồm: địa danh địa lý, địa danh lịch sử và địa danh văn hóa.
Địa danh có rất nhiều nhưng không phải địa danh nào cũng trở thành địa
danh lịch sử. Chỉ có những vùng đất trực tiếp gắn với các sự kiện, biến cố lịch
sử của nhân loại, dân tộc và địa phương thì mới được coi là địa điểm xảy ra sự
kiện lịch sử.

8
Có thể hiểu địa danh lịch sử là tên gọi của những vùng đất, những địa
phương đã diễn ra những sự kiện, hiện tượng và biến cố trong lịch sử nhân loại,
dân tộc và lịch sử địa phương.
Ví dụ: Các địa danh Lai Châu, Thà Khẹt, Bắc Tây Nguyên là những nơi
đã diễn ra các sự kiện lịch sử chiến đấu trong cuộc tiến công chiến lược đông
xuân 1953-1954. Hay các địa điểm như: Đồi Độc Lập, Bản Kéo, Him Lam,
Hồng Cúm là những địa danh có trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954.
Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện cho học sinh trong dạy học
lịch sử chính là việc phân tích những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, vị trí địa
lý, những thuận lợi và khó khăn của địa điểm xảy ra sự kiện. Bất cứ một sự
kiện lịch sử nào cũng gắn với một địa danh cụ thể. Nó diễn ra trong một không
gian nhất định. Không gian của sự kiện có thể là một khu vực rộng lớn như
chiến trường Châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) hoặc diễn
ra ở phạm vi hẹp như địa điểm của một trận đánh, một cuộc khởi nghĩa của
một quốc gia, một dân tộc, một địa phương như: Chiến dịch Hòa Bình Đông -
Xuân (1953 -1954); Chiến dịch Tây Bắc Thu - Đông (1952)… Trong chiến
dịch tiến công giữ vững quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ từ
cuối năm 1950 kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta. Vì vậy, tạo biểu tượng
về hoàn cảnh địa lí nơi xảy ra sự kiện là yêu cầu trong dạy học lịch sử để xác
định không gian lịch sử.

mạng khoa học kĩ thuật. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học nói chung, DHLS nói riêng ở trường phổ thông là một yêu cầu cấp thiết.
Chúng ta biết rõ, môn học lịch sử là một môn đặc biệt khác với các môn tự
nhiên như: toán, lý, hóa, sinh…Bởi lịch sử là những gì đã diễn ra theo thời gian
trong quá khứ của xã hội loài người. Nó đã tồn tại cách chúng ta hàng chục năm,
triệu năm… Do vậy, sẽ rất khó để khơi lại bức tranh lịch sử nếu không có sự hỗ
trợ của CNTT, đặc biệt là khi tạo biểu tượng lịch sử.
Ngoài ra thuật ngữ “Công nghệ thông tin” được hiểu là các ứng dụng
liên quan đến máy vi tính được phân loại dựa trên phương thức chúng được
sử dụng trong lớp học chứ không dựa trên nguyên tắc hoạt động của chúng
(Meansetal, 1993).
Công nghệ thông tin là phương tiện dạy học hiện đại có khả năng tích hợp
cao các chức năng của những phương tiện dạy học truyền thống như tranh ảnh,
bản đồ, lược đồ, sơ đồ, niên biểu,… Các phương tiện kỹ thuật như radio, video,
tivi, đèn chiếu overhead, projector, các loại băng đĩa…
Vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta rất
coi trọng. Với nghị quyết Trung ương II, khóa VIII của Đảng đã xác định: Phải
“Đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối học truyền thụ một
chiều,…Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại
vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh và
chỉ thị số 40 của ban thư ký trung ương Đảng khóa IX tiếp tục yêu cầu trong
giáo dục: “ Đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục

10
kiểu truyền thụ một chiều, năng về lý thuyết… ứng dụng CNTT vào hoạt động
dạy học”.
Như vậy, CNTT chính là các thiết bị kĩ thuật hiện đại máy chiếu phim, đèn
chiếu, máy ghi âm, tivi, video….là những phương tiện dạy học rất cần thiết, góp
phần nâng cao hiệu quả BHLS, giúp cho HS dễ ghi nhớ kiến thức có hình ảnh
sinh động về bức tranh lịch sử quá khứ.

11
dành cho học sinh, sinh viên trong tương lai…tiếp cận và khai thác tiềm năng
của công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến
khích học tập suốt đời”, (Hội nghị các nước thành viên hội nghị APEC lần 2 về
vấn đề “giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI” 07/04/2000).
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc tạo biểu tượng về địa điểm
xảy ra sự kiện sẽ làm cho BHLS đạt kết quả cao. Đặc biệt, với khả năng đa
phương tiện, đa truyền thông (mulilmedia) và khả năng tương tác (interactiree).
Việc ứng dụng CNTT vào DHLLS sẽ giúp giáo viên nâng cao hiệu quả của việc
sử dụng các loại đồ dùng trực quan khi dựng lại bức tranh lịch sử một cách chân
thực giàu hình ảnh và sinh động. Đồng thời nó có khả năng thu hút sự chú ý của
học sinh, kích thích và huy động nhiều giác quan của các em khả năng nhận
thức. Điều đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc ghi nhớ kiến thức. Nhờ đó
học sinh hiểu đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Việc khai thác và sử dụng một số chức năng của phần mềm ACD see, hero,
photoshop, flash, adobe, audition…sẽ giúp giáo viên sử lý tư liệu hình ảnh, xử
lý, cắt ghép các đoạn phim, âm thanh phù hợp với nội dung yêu cầu của bài
học.với các chức năng cơ bản, các hiệu ứng phong phú đa dạng của phần mềm
Microsoft powerpoint, violet sẽ giúp giáo viên thiết kế và sử dụng có hiệu quả
các loại đồ dùng trực quan theo yêu cầu, nội dung bài học cách triển khai giảng
dạy của mình và với khả năng siêu liên kết thông tin (hypenlink) của phần mềm
này, giáo viên có thể đưa vào bài giảng các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim tư
liệu đã được xử lý, trọn lọc và biên tập theo ý tưởng của giáo viên. Nhờ đó, có
thể phát huy tính sáng tạo của GV và HS trong những tình huống sư phạm cụ thể
khi sử dụng ĐDTQ trong DH, tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc xây
dựng, sử dụng ĐDTQ ,GV có điều kiện tổ chức cho học sinh nhận thức lịch sử
thông qua ĐDTQ, từ đó giúp học sinh khắc sâu kiến thức trọng tâm và có thể hệ
thống, khái quát tốt nội dung bài học.
Ví dụ: Ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện khi
dạy về chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954, giáo viên phải sử dụng lược đồ,

Việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS ở trường phổ
thông có vị trí vai trò rất quan trọng, giúp cho học sinh có được hình ảnh sinh
động lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng.
Do đặc trưng của bộ môn (mang tính cụ thể không lặp lại, tính quá khứ ) là
những gì diễn ra trong quá khứ không thể “trực quan” được. Bởi vậy, việc tạo
biểu tượng có vai trò rất quan trọng trong quá trình tri giác của học sinh. Nếu
không tạo được biểu tượng thì hình ảnh lịch sử sẽ nghèo nàn và khô cứng. Khi
đó, quá trình tri giác trở thành biểu tượng lịch sử là cơ sở để hình thành khái
niệm, phát triển óc phán đoán, suy luận của học sinh.
Việc học tập lịch sử sẽ dựa trên cơ sở nắm bắt sự kiện và tạo biểu tượng,
lịch sử từ đó tiến tới hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử
cho HS.
Nếu như, các môn học khoa học tự nhiên như, toán, hóa, lý, sinh. GV có
thể hướng dẫn học sinh thực hành bộ môn theo các bước đã chuẩn bị trong

13
phòng thí nghiệm - công việc diễn ra rất thuận lợi nhưng với môn lịch sử thì rõ
ràng GV không thể tổ chức học sinh thành những chiến sĩ, bộ đội ra trận và lấy
lớp học làm không gian, thực hành một trận chiến được. Vì vậy, việc tái hiện sự
kiện đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác là rất khó khăn mà chỉ có thể
tạo biểu tượng lịch sử với sự ứng dụng của CNTT các phương tiện dạy học
ĐDTQ (tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, ) để rồi từ đó đưa đến hình thành khái niệm
và rút ra quy luật.
Có thể nói, sự thống nhất giữa tạo biểu tượng và hình thành khái niệm
trong dạy và học môn lịch sử là một trong những đặc điểm chung của phát triển
tư duy. Hai quá trình này tuy tiến hành độc lập nhưng lại hòa vào nhau trong
một thể thống nhất.
“Tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử trước tiên ở chỗ nó là cơ sở để hình
thành khái niệm lịch sử, của bức tranh quá khứ ngày càng phong phú bao nhiêu
thì hệ thống kiến thức mà học sinh thu nhận được càng vững chắc bấy nhiêu,

sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy học, tiết kiệm được thời gian
trong bài giảng có sử dụng nhiều miêu tả kỹ thuật. Khi có sự hỗ trợ của phần
mềm, những hình ảnh và âm thanh được truyền tải đến học sinh một cách nhanh
chóng, chính xác, khoa học, và sinh động.
Về phía học sinh, với những hình ảnh, biểu tượng lịch sử sinh động mà GV
cung cấp, sẽ cuốn hút học sinh vào bài giảng, lĩnh hội kiến thức rõ ràng, chủ
động hiểu được bản chất của sự kiện, hiện tượng, tránh được tình trạng “hiện đại
hóa lịch sử” những nhận thức thiếu chủ quan phiến diện và đánh giá nhận định
tình hình thiếu cơ sở khoa học.
Bên cạnh đó việc tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện với sự hỗ trợ
của CNTT còn giúp cho học sinh đánh giá đúng vị trí, địa điểm diễn ra sự kiện
với các địa điểm - địa danh lân cận khác trong mối quan hệ tổng thể của cuộc
kháng chiến toàn quốc.
Như vậy, việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện
trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông không chỉ giúp cho các em có biểu
tượng chân thực về những sự kiện lịch sử mà còn hiểu sâu sắc bản chất của sự
kiện. Từ đó, vốn tri thức lí luận của học sinh từng bước được tăng lên.
- Về giáo dục:
Trong dạy học phổ thông bộ môn lịch sử có vai trò giáo dục tư tưởng, đạo
đức, tình cảm cho học sinh rất lớn, đặc biệt là việc tạo biểu tượng sinh động hấp
dẫn về các sự kiện hiện tượng và ứng dụng CNTT vào giảng dạy sẽ đạt hiệu quả
cao trong BHLS để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử có thật ở
quá khứ mà có thể những địa danh đó vẫn còn cho đến hiện tại.
Điều đó, sẽ giúp cho các em học sinh có những tư tưởng, tình cảm, đạo
đức, thẩm mỹ, óc suy luận xem xét đánh giá những khó khăn hay thuận lợi về
điều kiện, vị trí địa lí…
Đặc biệt, khi sử dụng phần mềm Microsoft powerpoint - ứng dụng của
CNTT với những hiệu ứng đa dạng, phong phú, hình ảnh và tư liệu lịch sử sinh

15

Trước hết, khi dạy BHLS thì địa điểm - không gian có vai trò quan trọng, là
nơi diễn ra sự kiện lịch sử. Chính vì vậy việc tạo biểu tượng về địa điểm cùng
với sự hỗ trợ của CNTT sẽ làm cho học sinh hiểu rõ nội dung của bài.
Hơn thế nữa, những bài học có nhiều địa điểm lịch sử ví dụ như trong bài
20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân pháp kết thúc1953-1954)” thì

16
giáo viên phải lựa chọn những địa điểm tiêu biểu, quan trọng nhất, điển hình
nhất, có đóng góp lớn cho nội dung bài học để đảm bảo xây dựng hiệu quả.
1.3.2. Đảm bảo mục đích giáo dục cho học sinh
Dạy học lịch sử giúp cho học sinh củng cố được kiến thức, kỹ năng cũng
như nắm được cơ sở lý luận và hành vi đạo đức. Đảm bảo được tính giáo dục
khi ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS
nghĩa là cần khai thác triệt để những phương tiện giảng dạy có hiệu quả giáo dục
khi lựa chọn minh họa, miêu tả cho học sinh lựa chọn những địa điểm quan
trọng diễn ra trận đánh hay sự kiện lịch sử. Đồng thời giúp cho các em thấy
được không gian, cách bố trí, phòng thủ tận dụng điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
để chuẩn bị hay hâm nóng bầu không khí của sự kiện diễn biến lịch sử.
Ví dụ: Khi tạo biểu tượng lịch sử những địa điểm trong đợt 3 chiến dịch
lịch sử Điện Biên Phủ (1954) GV kết hợp với tranh ảnh, sơ đồ, hay lược đồ, hay
những thước phim video, tường thuật về đợt 3 trong chiến dịch lịch sử Điện
Biên Phủ
Tối ngày 1-5 quân ta xung phong bất ngờ tiêu diệt địch chiếm hoàn toàn
đồi C1. Chiều ngày 6-5 tiếng nổ của khối bộc phá 100kg ở đồi A1.
Mở đầu hiệu lệnh tổng công kích của quân ta 17h30’ ta thọc thẳng vào
trung tâm Mường Thanh, bao vây hầm đờ-xa-xtơ-ri. Tạ Quốc Luật chỉ huy một
nhóm chiến sỹ trung kích địch. Hai chiến sỹ Vinh và Ngọ chuẩn bị nhảy xuống
hầm đờ-xa-xtơ-ri. Bốn chiếc xe tăng đỗ quanh hầm nhả đạn, để bảo vệ chỉ huy
Vĩnh và Ngọ bò sát tới gần ném lựu đạn vào xe, một chiếc bốc cháy, một chiếc
đứt xích, còn lại hai chiếc khác bỏ chạy để lại hầm chỉ huy không người bảo vệ.

căn cứ Việt Bắc? Mối quan hệ giữa các hướng tấn công đó?
Học sinh quan sát trả lời.
Giáo viên nhận xét và lược thuật quá trình Pháp tấn công lên Việt Bắc bằng
bản đồ.
Như vậy, việc sử dụng CNTT kết hợp các phương pháp dạy học nêu vấn
đề, trao đổi đàm thoại với các câu hỏi gợi mở của giáo viên sẽ phát huy tính tích
cực độc lập ở học sinh. Tuy nhiên, trong DHLS hiện nay nói chung thì vấn đề
tạo biểu tượng các địa điểm lịch sử, một số bộ phận GV chưa khởi dậy được ở
học sinh tính tích cực, độc lập sáng tạo, với việc không coi trọng không gian
hoàn cảnh sự kiện chỉ nêu một cách khái quát mà tập chung chủ yếu vào phần
nội dung - diễn biến của sự kiện, chỉ giúp cho học sinh chỉ biết mà chưa hiểu
được đầy đủ, sâu sắc, không hứng thú với môn học.
Trên cơ sở các yêu cầu, nguyên tắc với việc sử dụng CNTT để tạo biểu
tượng về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử với một hệ thống các phương pháp sử
dụng tạo biểu tượng về địa điểm lịch sử đã được đưa ra trong DHLS ở trường
phổ thông, từ đó phát huy vai trò của biểu tượng lịch sử nói chung, biểu tượng
về địa điểm lịch sử nói riêng đối với quá trình nhận thức của học sinh, nâng cao
hiệu quả DHLS.

18
1.4. Cơ sở thực tiễn việc sử dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm
xảy ra sự kiện trong DHLS
1.4.1. Về phía giáo viên
* Tích cực.
Hiện nay phần đông giáo viên đã có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của
môn cũng như ứng dụng CNTT vào giảng dạy, tạo biểu tượng về địa điểm xảy
ra sự kiện. Nhiều GV đã có những tìm tòi tư liệu phong phú, chuẩn bị đồ dùng
trực quan, CNTT (video , thước phim tư liệu…) kết hợp với những phương pháp
sư phạm tạo nên những biểu tượng về địa điểm, địa danh lịch sử sinh động, hấp
dẫn. Từ đó, thúc đẩy học sinh học tập tích cực, hoàn thành các mục tiêu giáo dục

*Tích cực.
Một bộ phận các em đã thực sự hứng thú với giờ học lịch sử - niềm đam
mê nghiêm túc. Những năm gần đây chất lượng và số lượng học sinh giỏi môn
lịch sử trong các kỳ thi các cấp được nâng lên. Qua điều tra khi được hỏi “các
em có hứng thú với môn học lịch sử không” ? kết quả thu được có 10% HS là rất
hứng thú, 20% HS trả lời là hứng thú, 65% HS là bình thường và 5% là không
hứng thú.
Kết quả phản ánh đa số học sinh đã nhận thức được vai trò, ý nghĩa của bộ
môn lịch sử. Học sinh nhận thức được kiến thức về sự kiện lịch sử, đặc biệt là
yếu tố về địa điểm - nơi xảy ra sự kiện lịch sử trong giáo dục truyền thống đạo
đức niềm tự hào dân tộc, phát triển nhân cách cho học sinh.
* Hạn chế.
Phần lớn các em không nhận thức được vị trí môn học do tâm lý coi thường
bộ môn, là môn phụ, môn học thuộc lòng nên dẫn đến các em không thích thú với
việc học tập các nhân vật lịch sử các em cũng không có hứng thú học.
Hơn thế nữa, việc tiếp thu kiến thức lịch sử có nhiều hạn chế, khi được hỏi
về các địa danh diễn ra sự kiện học sinh trả lời nhầm lẫn, nhớ kiến thức một
cách mơ màng. Việc ứng dụng CNTT trong DHLS nhất là để tạo biểu tượng địa
điểm xảy ra còn quá ít, xuất phát bởi nhiều nguyên nhân.
Kết quả trên phản ánh một tình trạng đáng quan tâm về dạy và học lịch sử ở
trường phổ thông hiện nay. Muốn giải quyết tình trạng này phải bắt đầu từ thái
độ tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo cả người dạy và học, với việc sử dụng
CNTT có hiệu quả nhằm tạo biểu tượng địa điểm xảy ra sự kiện trong DHLS là
điều hết sức cần thiết.
1.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Thực trạng của việc ứng dụng CNTT để tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra
sự kiện trong DHLS ở trường phổ thông hiện nay do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan.
Quan niệm cho rằng bộ môn lịch sử chỉ là một môn phụ vẫn còn tồn tại
nhiều. Nên đã tác động đến tâm lý của GV và HS yếu tố coi thường đối phó dạy


21
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT ĐỂ TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA
ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG DHLS VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1945 - 1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Vị trí, mục đích, nội dung nghiên cứu cơ bản của giai đoạn lịch sử Việt
Nam 1945 - 1954 lớp 12 trung học phổ thông
2.1.1. Vị trí
Trong SGK lịch sử lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) phần lịch sử Việt
Nam từ 1945 đến 1954 nằm trong chương III “Việt Nam từ 1945 đến 1954” đây
là chương trình có vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam, từ 1919
đến nay.
Nội dung chủ yếu của chương này phản ánh cuộc kháng chiến chống thực
dân pháp trường kì 9 năm của quân và dân ta nhằm bảo vệ thành quả cách mạng
tháng Tám, giữ nền độc lập dân tộc.
Kiến thức của chương thể hiện rõ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, truyền
thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, tình đoàn kết quốc tế cao.
Chính vì vậy, chương này cung cấp cho học sinh nhiều kiến thức lịch sử
quan trọng với các sự kiện hấp dẫn, có ý nghĩa giáo dục và phát triển, học sinh,
đặc biệt là khả năng tư duy, độc lập sáng tạo của các em.
2.1.2. Mục tiêu
Học tập giai đoạn 1945-1954 cho học sinh nắm được nội dung phong phú
và quan trọng sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status