Trong quá trình 30 năm phát triển của văn học cách mạng (1945-1975), giai đoạn 1945-
1954 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ðây vừa là thời kỳ mở đầu, đắp nền cho văn học mới
vừa là bước chuyển tiếp lịch sử ghi nhận nhiều thay đổi triệt để và sâu sắc, từ quan niệm
nghệ thuật cho tới thực tế sáng tác. Vượt qua những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh
chiến tranh, văn học chín năm kháng chiến chống Pháp đã khẳng định sự tồn tại và phát
triển với tầm vóc xứng đáng. Tuy những thành tựu còn ở mức độ ban đầu nhưng đóng góp
chính của nó là mang đến một sắc thái độc đáo, làm bừng lên khí thế mới chưa từng có
trong đời sống văn học dân tộc.
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ – XÃ HỘI
- Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước
– kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Ðình, Hồ Chủ Tịch đọc
bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ách nô lệ bị đập tan,
con người Việt Nam được giải phóng; bừng lên một niềm hạnh phúc lớn lao đến thiêng
liêng, như kết quả tất yếu từ khát vọng tự do và quyết tâm cứu nước của cả dân tộc.
- Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ, ngay lúc đó, đã phải đương đầu với muôn
vàn khó khăn trên tất cả các phương diện của đời sống. Nền kinh tế hầu như kiệt quệ với
hệ thống kho tàng trống rỗng, nông nghiệp lạc hậu, mất mùa vì lũ lụt ; các ngành công
thương nghiệp, thủ công nghiệp bị đình đốn hoặc phá sản. (Hậu quả thảm khốc là nạn đói
xảy ra, làm chết hơn hai triệu người, ngót 1/10 dân số nước ta bấy giờ). Trình độ dân trí,
văn hóa giáo dục thấp kém với hơn 80% dân số mù chữ. Cùng lúc, các thế lực thù trong
giặc ngoài lăm le chờ thời cơ để gây rối, hòng làm suy yếu và lật đổ nhà nước Cách mạng.
Ðược Anh mở đường, thực dân Pháp trở lại gây căng thẳng ở Nam Bộ. Quân Tưởng Giới
Thạch kéo vào miền Bắc. Trong nước, các tổ chức Việt Nam cách mệnh đồng minh của
Nguyễn Hải Thần (Việt Cách) và Việt Nam quốc dân đảng của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn
Tường Tam (Việt Quốc) núp bóng quân Tưởng, bất hợp tác với Cách mạng, liên tục quấy
phá ; lớp địa chủ, tư sản cũng ngóc dậy, ngấm ngầm chống đối.
- Vượt qua mọi khó khăn, chính quyền dân chủ nhân dân không những được giữ
vững mà còn ngày càng củng cố, mạnh mẽ hơn. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và Hồ
Chủ Tịch, bằng nhiều biện pháp kịp thời nhân dân ta đã chặn đứng nạn đói, phát động một
cao trào bình dân học vụ diệt giặc dốt và phong trào tình nguyện nhập ngũ để bảo vệ nhà
nước Cách mạng, bảo vệ sự toàn vẹn của tổ quốc. Ngày 6-1-1946, quốc hội đầu tiên được
Tất cả những phương diện của tình hình lịch sử – xã hội nêu trên đã có ảnh hưởng
trực tiếp, tạo nên những thuận lợi và khó khăn riêng cho sự phát triển, quyết định diện mạo
của văn học giai đoạn này.
II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC
1. Những thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của văn học :
1) Trước hết, phải kể đến sự lãnh đạo và quan tâm giúp đỡ thường xuyên của Ðảng.
Thông qua hoạt động của các tổ chức văn nghệ, Ðảng đã đề ra chủ trương chính sách tích
cực, giúp chấn chỉnh kịp thời những lệch lạc ; phát động các cuộc thi để kích thích phong
trào sáng tác, phát hiện tài năng mới ; động viên văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế,… (Hội
văn nghệ Việt Nam được thành lập, ra tạp chí Văn nghệ – năm 1948 ; tổ chức giải thưởng
văn nghệ các năm 1951-1952, 1954-1955,…)
- Cách mạng tháng Tám đã giải phóng dân tộc, đồng thời cũng giải phóng cho văn
học khỏi những trói buộc của quan niệm cũ. Tính dân chủ được nâng cao, văn học không
còn là sở hữu riêng của một lớp người mà thành giá trị chung cho tất cả mọi người. Quan
niệm nghệ thuật tiến bộ được khẳng định, đưa văn học trở về với ngọn nguồn đích thực là
đời sống rộng lớn của nhân dân, hứa hẹn một sự khởi sắc rực rỡ.
- Lực lượng sáng tác được tập hợp đông đảo, có sự góp mặt đầy đủ và bổ sung lẫn
nhau giữa các thế hệ. Dưới ngọn cờ của Ðảng, văn nghệ sĩ dù ở thế hệ nào cũng hướng về
lý tưởng chung, soi sáng cuộc đời và công việc sáng tạo nghệ thuật. Mặc dù còn phải tiếp
tục giải quyết nhiều vướng mắc về lập trường, quan điểm, về tư tưởng nghệ thuật nhưng
nhìn chung ngay từ buổi đầu, đa số lớp trước Cách mạng đều phát huy tinh thần dân tộc,
hăng hái đi theo kháng chiến bằng lương tâm và trách nhiệm cao nhất của người nghệ sĩ
chân chính. Bên cạnh đó, phải kể đến lớp nhà văn trưởng thành từ quân đội, từ phong trào
sáng tác quần chúng. Sáng tác của họ mang đậm đà hơi thở đời sống, tạo nên sức trẻ cho
nền văn học, có sức động viên, khích lệ tinh thần nhân dân rất mạnh mẽ.
- Trình độ học vấn, đời sống tinh thần, năng lực thẩm mỹ được nâng cao, quần
chúng trở thành nhân tố quan trọng cho sự hồi sinh của văn học. Nhân dân là đối tượng
phản ánh, là độc giả và cũng chính là người trực tiếp sáng tạo nghệ thuật. Giới văn chương
được mở rộng, sinh hoạt văn nghệ sôi nổi hẳn lên. Mặt khác, chín năm kháng chiến khổ
1) 1945-1946 : Ðây là năm bản lề, văn học chuyển mình hòa vào dòng thác Cách
mạng. Văn học Cách mạng dần trở thành trào lưu chủ đạo. Ðội ngũ sáng tác nòng cốt vẫn
là những cây bút đã khẳng định tên tuổi từ trước. Trừ một số ít tỏ ra lạc lõng, hầu hết tự
nguyện đứng vào hàng ngũ văn nghệ sĩ mới với niềm hạnh phúc lớn lao : được hai lần giải
phóng. (Hội văn hóa cứu quốc được thành lập).
Nhìn chung, sáng tác thời kỳ này tập trung vào hai chủ đề lớn. Thứ nhất, ngợi ca
thắng lợi vĩ đại của Cách mạng và bộc lộ niềm phấn khởi, tự hào tột độ của toàn dân (Vui
bất tuyệt, Hồ Chí Minh – Tố Hữu, Ngọn quốc kỳ – Xuân Diệu, kịch Bắc sơn – Nguyễn
Huy Tưởng). Thứ hai, tái hiện lại thực trạng xã hội tăm tối trước Cách mạng để tố cáo tội
ác dã man của thực dân và tay sai, đánh tan những ảo tưởng cuối cùng vào sự lừa mị của
chúng ; từ đó, giáo dục ý thức trân trọng, thiết tha với chế độ mới (Mò sâm banh – Nam
Cao, Lò lửa và địa ngục – Nguyên Hồng, Một lần tới thủ đô – Trần Ðăng, Chùa Ðàn –
Nguyễn Tuân).
Ðược viết do sự thôi thúc của nhiệt tình, trách nhiệm công dân mà chưa có độ sâu
sắc, độ lắng đọng từ phía cảm xúc người nghệ sĩ nên phần lớn tác phẩm dễ rơi vào quên
lãng. Nhiều văn nghệ sĩ còn quá bỡ ngỡ trước cuộc sống mới, yêu mến nhưng chưa hiểu
Cách mạng bao nhiêu nên chưa thật sự gắn bó và đồng cảm với quần chúng. Một số vẫn
chưa hết băn khoăn, đắn đo như Chế Lan Viên sau này tâm sự : Cách mạng làm tôi vui
nhưng cũng làm tôi lo lắng. Tôi có còn được tự do ? Văn học Cách mạng có phải là văn
học ? (Văn nghệ, 18-9-1976).
2) 1947-1949 : Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ðông đảo văn nghệ sĩ tự nguyện
tham gia. Xuất hiện kiểu nhà văn – chiến sĩ, những người vừa trực tiếp chiến đấu vừa dùng
ngòi bút như một thứ vũ khí để đấu tranh với kẻ thù và động viên, cổ vũ quần chúng. Có
thể kể : Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Quang Dũng, Hồ Phương,… Tuy có thừa nhiệt
tình và vốn sống thực tế nhưng do những cây bút trẻ này còn thiếu kinh nghiệm sáng tác
nên chất lượng tác phẩm của họ thường không đồng đều. Dù sao, cũng đã có tín hiệu lạc
quan của những phong cách mới, mang đậm đà hương sắc từ cuộc sống kháng chiến.
Sự chuyển biến của văn nghệ sĩ lớp trước Cách mạng ở những năm đầu chặng này
vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của kháng chiến. Chưa đủ những điều kiện cần thiết (thời
gian, thực tế kháng chiến) để họ gắn bó máu thịt, nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của
Phong trào văn nghệ quần chúng sôi nổi và ngày càng sâu rộng vẫn là món ăn tinh
thần chính yếu của nhân dân. Thơ bộ đội, thơ của các cây bút dân tộc ít người có một số
tác phẩm nổi bật (Dọn về làng – Nông Quốc Chấn, Nhớ vợ – Cầm Vĩnh Ui, Em tắm – Bạc
Văn Ùi). Các loại hình sân khấu truyền thống cũng bước đầu được phục hồi tuy vẫn còn
nặng về hình thức và hiếm kịch bản có giá trị văn học cao.
III. THÀNH TỰU NỔI BẬT Ở CÁC THỂ LOẠI :
1. Thơ ca :
Ðây là thể loại phát triển thành cao trào mạnh hơn cả với nhiều thành tựu nổi bật.
Truyền thống yêu thơ của dân tộc và đặc điểm lịch sử cụ thể của chín năm kháng chiến đã
quyết định thực tế ấy. Thơ ca tiếp tục gắn bó với đời sống buồn vui, lúc hạnh phúc cũng
như khi gian lao, vất vả của con người Việt Nam. Nhà phê bình Hoài Thanh đã có nhận
xét xác đáng : Hầu hết những người mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến
trong một quyển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít bài thơ… Trong cuộc chiến tranh nhân
dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ cùng hòa điệu. (Nói chuyện thơ kháng
chiến).
1) Có thể nhận thấy sự khởi sắc của thơ giai đoạn này, trước hết, qua khảo sát phong
trào và lực lượng sáng tác. Từ sau Cách mạng tháng Tám, thơ không còn là vương quốc
riêng của các nhà thơ chuyên nghiệp. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp đồng thời cũng giải phóng cho nhà thơ, trong cuộc đời cũng như trong sáng tạo nghệ
thuật. Sự gặp gỡ giữa lý tưởng Cách mạng và lý tưởng thẩm mỹ của dân tộc là điều kiện
khách quan cho sự xuất hiện hình mẫu người nghệ sĩ kiểu mới. Có thể nói : không có thế
hệ nhà thơ kiểu mới thì không có thơ ca Cách mạng. Giờ đây, anh cán bộ chính trị, anh
cán bộ quân sự, anh công an, anh bình dân học vụ, anh thông tin, anh hỏa thực, các chị
phụ nữ, các em thiếu nhi, hết thảy đều làm thơ. (Hoài Thanh – Nói chuyện thơ kháng
chiến).
Không khí quần chúng sôi nổi một mặt tạo điều kiện thử thách và khẳng định các tài
năng trẻ, mặt khác, góp sức cùng cao trào cách mạng tác động mạnh mẽ vào tâm tư tình
cảm của các nhà thơ lãng mạn, giúp hồn thơ họ hồi sinh. Với kinh nghiệm và tài năng đã
được khẳng định, đóng góp của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Huy
Người làm thơ vừa để cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân (Thơ tặng các cháu thiếu
nhi, Khuyên thanh niên, Tặng các cụ du kích, Gửi nông dân), vừa nhằm thỏa mãn một
phần nhu cầu đời sống tinh thần phong phú của mình (Cảnh rừng Việt Bắc, Cảnh khuya,
Nguyên Tiêu, Báo tiệp, Thu dạ, Ðăng Sơn). Những sáng tác này góp phần làm nổi rõ ở Bác
một tâm hồn nghệ sĩ hết sức tinh tế, nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và
con người Việt Nam.
2) Về nội dung tư tưởng, thơ ca 1945-1954 luôn gắn bó chặt chẽ, phản ánh chân
thực và sinh động hiện thực kháng chiến hoành tráng. Lần giở những trang thơ, có thể gặp
lại bước đường của lịch sử. Khác với thơ lãng mạn trước đó, thơ ca kháng chiến phát triển
trên nền hiện thực tâm trạng của nhân dân. Từ chỗ thơ Mới chỉ bộc lộc cái Ðẹp trong từng
con người riêng lẻ, trường cảm xúc giờ đây được mở rộng ; phạm vi phản ánh cũng bao
gồm từ nơi sâu kín tâm hồn người cho tới khoảng rộng bao la của cả đất nước, dân tộc.
- Các thi sĩ đã đưa được không khí thời đại mới mẻ, khỏe khoắn vào thơ. Khuynh
hướng sử thi ngày càng nổi rõ. Thơ tập trung thể hiện tâm tình phơi phới tin yêu, lạc quan,
tự tin, tự hào của người Việt Nam được giải phóng ; những ước mơ, khát vọng cháy bỏng ;
những sắc thái tình cảm cao cả trong cuộc chiến đấu tuy gian khó nhưng vô cùng anh
dũng.
- Cảm hứng thơ chủ yếu hướng ngoại, chú ý nhiều đến tình cảm công dân nên ít nói
tới con người trong đời sống riêng tư. Tình yêu lứa đôi cũng như mọi cung bậc tình cảm
khác đều được cảm nhận thông qua tình đồng chí. Do đó, trong khi mặt chói sáng của hiện
thực được phản ánh sinh động thì chiều sâu đời sống, ở đó có nỗi buồn mất mát, chia lìa –
chất bi tráng – lại chưa được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên, sự phiến diện ở đây là tự
giác và cần thiết. Hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết hi sinh cái riêng tư, vì
vận mệnh đất nước. Thơ ca không thể đứng ngoài sự hi sinh vĩ đại ấy. Không có gì quí
hơn độc lập tự do, các nhà thơ sẽ chẳng được ngợi ca nếu chỉ chuyên tâm sáng tác nhiều
thơ mà để nước mất, dân nô lệ một lần nữa.
- Nhân vật trữ tình trong thơ kháng chiến nghĩ suy và hành động chủ yếu hướng về
số phận tổ quốc. Các nhà thơ đặc biệt khơi gợi, đề cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân
tộc, ý thức làm chủ và quyết tâm xả thân (Ðất nước - Nguyễn Ðình Thi ; Bao giờ trở lại –
Hoàng Trung Thông ; Bên kia sông Ðuống – Hoàng Cầm ; Ðôi mắt người Sơn Tây –
nào cũng đạt đến độ hài hòa cần thiết.
2. Truyện ký :
1) Hiện thực cách mạng là mảnh đất màu mỡ, vô tận. Mẫu người lý tưởng của thời
đại mới dần khẳng định trên khắp các lĩnh vực đời sống. Truyện ký có điều kiện tốt để
phát triển, vạm vỡ hẳn lên với hai chặng cụ thể như sau :
- 1946-1948 : thời kỳ nhận đường. Văn nghệ sĩ đang trong quá trình vận động, giải
quyết dứt khoát những ám ảnh cũ để đến với nhân dân, với kháng chiến. Sáng tác chủ yếu
là ký : Nhật ký (Nguyễn Huy Tưởng) ; Ở rừng (Nam Cao) ; Một đêm vào tề, Tháp Rùa
giữa rừng (Nguyễn Tuân). Một số truyện ngắn nổi bật : Làng (Kim Lân) ; Ðôi mắt (Nam
Cao).
- 1949-1954 : thời kỳ được mùa, đánh dấu bằng nhiều tác phẩm đặc sắc, ở nhiều thể
loại. Ký : Trận phố Ràng (Trần Ðăng) ; Voi đi (Siêu Hải) ; Ðường vui, Tình chiến dịch
(Nguyễn Tuân) ; Ngược sông Thao (Tô Hoài) ; Ký sự Cao lạng (Nguyễn Huy Tưởng);
Truyện ngắn : Thư nhà (Hồ Phương); Truyện Tây Bắc (Tô Hoài); Xây dựng (Nguyễn
Khải) ;… Tiểu thuyết Xung kích (Nguyễn Ðình Thi) ;Vùng mỏ (Võ Huy Tâm) ; Con trâu
(Nguyễn Văn Bổng);….
2) Truyện, ký thời kỳ này thể hiện một khuynh hướng tiếp cận, khám phá đời sống
mới mẻ, cả ở bề rộng lẫn bề sâu.
- Những năm đầu sau cách mạng, nhiều vấn đề có tính thời sự được đặt ra: sự đổi
thay về quan niệm sống và sáng tác (Ngày đầy tuổi tôi cách mạng, Lột xác – Nguyễn
Tuân) ; cuộc đấu tranh giằng co giữa hai khuynh hướng cũ – mới trong việc nhận đường
(Ðôi mắt – Nam Cao). Một số tác phẩm trở lại với đề tài xã hội tăm tối trước 1945, nhằm
đánh tan ảo tưởng vào trật tự cuộc sống cũ và giáo dục lòng yêu mến chế độ mới (Lò lửa
và địa ngục – Nguyên Hồng ; Mò sâm banh – Nam Cao; Vợ nhặt – Kim Lân ; Truyện Tây
Bắc – Tô Hoài). Càng về sau, đề tài của văn xuôi càng phong phú hơn, bao quát hầu hết
các vấn đề nổi cộm của đời sống : chiến đấu và sản xuất, phản đế và phản phong, tiền
tuyến và hậu phương, nỗi đau mất mát và niềm vui chiến thắng,…
- Cuộc sống chiến đấu, nổi bật lên hình tượng người lính cụ Hồ là mảng đề tài tập
trung nhiều tâm huyết của các nhà văn. Vẻ đẹp chân chính toát ra từ hình tượng là chủ
nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. (Một lần tới thủ đô, Trận phố Ràng, Một
tộc hóa, đại chúng hóa.
Năm tháng qua đi với nhiều biến động lịch sử ảnh hưởng tới đời sống văn học
nhưng, cho đến nay và chắc chắn nhiều năm nữa về sau, thơ văn kháng chiến chống Pháp
vẫn còn vang vọng sâu xa trong tâm hồn chúng ta. Bằng những hình tượng nghệ thuật sinh
động, văn học đã góp phần đắc lực vào sự nghiệp chung ; giáo dục tinh thần yêu nước và
động viên ý chí chiến đấu, bảo vệ tổ quốc. Trong ý nghĩa của bước khởi đầu, giai đoạn
1945-1954 đặt được nền móng vững chắc, đảm bảo sự phát triển rực rỡ của văn học cách
mạng những năm về sau.
Các từ khóa trọng tâm " cần nhớ " của bài viết trên hoặc " cách đặt đề bài " khác của bài viết trên:
• văn học việt nam từ 1945 - 1954,