Nghiên cứu sự tích lũy, biến động hàm lượng mangiferin trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây quéo sơn la và tiếp tục phân lập thành phần hóa học trong lá của nó - Pdf 30

BỘYTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
'Tôưđttg. Jííỉn
NGHIÊN CỨU Sự TÍCH LŨY, BIÊN ĐỘNG HÀM LƯỢNG MANGIFERIN
TRONG QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN của cây quéo sơn la
VÀ TIẾP TỤC PHÂN LẬP THÀNH PHẦN HOÁ học trong lá của nó
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sỉ ĐẠI HỌC KHOÁ 1997-2002 )
Người hướng dẫn : TSKH. Trần Văn Thanh
Nơi thực hiện : Bộ Môn Dược Liệu
Thời gian thực hiện: 07/2001 - 05/2002
HÀ NỘI 5/2002
ỉ ‘ ^ ư ~v íEM*
\ ' 'cỉ
LỜI CẢM ƠN
Để ho àn th à n h đ ề tà i n ày em đ ã n h ận đưỢc sự g iú p đ ỡ của
nhiều thầy cô và các bạn. Đặc hiệt em xin bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TSKH. Trần Văn Thanh
Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
tốt khoá luận này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình quý háu
của
TS. Nguyễn Văn Ri (Khoa Hoá - Đại học Tổng hỢp)
TS. Nguyễn Viết Thân (Bộ môn Dược Liệu)
Cùng toàn thể thầy cô trong bộ môn Dược Liệu đã giành cho
em sự động viên, nhiều điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn
thành khoá luận tốt nghiệp này.
Nhân dịp này cho phép em cảm ơn các bạn sinh viên cùng
học tập và nghiên cứu đã động viên và giúp đỡ để em hoàn thành
bản khoá luận tốt nghiệp này trong suốt quá trình thực hiện.
Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2002.
Sinh viên

2. Thực nghiệm và kết quả 17
2.1. Nghiên cứu sự tích lũy, biến động hàm lượng Mangiíerin
trong qúa trình sinh trưởng, phát triển của cây Quéo Sơn
L a 7

.1.!

17
2.1.1. Nghiên cứu sự tích lũy Mangiíerin trong cây Quéo Sơn
L a 7.

1

17
2.1.2. Nghiên cứu sự biến động hàm lượng Mangiíerin theo tuổi
của cây 26
2.1.3. Nghiên cứu sự biến động hàm lượng Mangiferin theo các
giai đoạn phát triển của cây
30
2.1.4. Khảo sát Phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC) trong
định lượng Mangiíerin 34
2.2. Tiếp tục nghiên cứu, phân lập thành phần hóa học trong
lá cây Quéo Sơn La

.
r 37
2.2.1. Qui trình phân lập chất c
37
2.2.2. Sơ bộ nhận dạng chất c 40
Phần 3 : Kết luận và đê xuất

Ý thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu trên, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu, tìm hiểu về:
- Sự tích lũy, biến động hàm lượng Mangiferin trong quá trình sinh trưởng,
phát triển của cây Quéo Sơn La.
- Tiếp tục phân lập thành phần hoá học trong lá của cây Quéo Sơn La.
Để góp phần nhỏ vào việc khai thác hợp lý nguồn dược liệu quí chứa
Mangiíerin và tìm thêm những ứng dụng mới của cây Quéo Sơn La nhằm
khẳng định giá trị khoa học của nó.
PHẦN I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Đặc điểm hình thái thực vật và sinh thái của cây Quéo.
1.1. Vị trí phán loại của cây Quéo.
Theo hệ thống phân loại Takhtadjan - 1987 [16], cây Quéo có vị trí như
sau;
Họ Đào lộn hột là một trong những họ thực vật lớn, chúng gồm khoảng 80
chi và gần 600 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và một phần trong vùng
ôn đới [10,16].
ở Việt Nam, theo “Bài giảng thực vật học - Vũ Văn Chuyên” họ này có 18
chi với 56 loài, nhưng mới biết được khoảng 14 chi và 34 loài.
Họ Đào lộn hột với đặc trưng là cây gỗ hay dây leo thân gỗ. Lá mọc so le,
đơn hay kép lông chim lẻ và không có lá kèm. vỏ của nhiều cây có ống tiết
nhựa. Hoa nhỏ mọc thành, cụm hoa hình cờ ở kẽ lá hay ở ngọn. Hoa đều,
lưỡng tính, đôi khi đơn tính. Bao hoa hai vòng, gồm một vòng đài và một vòng
tràng, mẫu 5. Nhị phần lớn có một vòng 5, đôi khi hai vòng 5, hoặc nhiều và
không nhất định. Chỉ nhị rời hoặc dính ở gốc, ờ ngoài, ở trên hay có khi ở
trong đĩa mật (Xoài). Nhụy gồm 5 lá noãn (Sấu, Cóc) hoặc giảm xuống còn 3,
thậm chí có khi giảm xuống chỉ còn một lá noãn duy nhất (các lá noãn kia bị
tiêu giảm; Đào lộn hột, Xoài), dính lại với nhau thănh bầu trên có 5-3-1 ô và
trong mỗi ô chỉ có một noãn. Trong hoa thưòỉng có đĩa mật phát triển, hình
vòng khuyên nằm dưới và bao quanh nhụy, hoặc hình chén hay chia thành

số huyện thuộc miền Tây Nam Bộ, còn tại miền Bắc nhiều nơi cũng đã trồng
tập trung, nhiều nhất ở Yên Châu (Sơn La) và các vùng lân cận.
Cây Xoài được trồng ở khắp nơi lấy bóng mát, trồng lấy quả, đóng hộp
xuất khẩu và còn là cây thuốc quí dùng để chữa bệnh [8,10,11].
2. Thành phần hoá học của cây Quéo và những nghiên cứu về Mangiferin.
2.1. Thành phần hoá học của cây Quéo.
Về thành phần hoá học cây Xoài đã có nhiều công trình nghiên cứu cho
biết: trong lá và thân, ngoài những hợp chất hữu cơ thông thường như Hydrat
carbon, chất béo, Proteũi, Clorophyl, muối khoáng nhóm hợp chất được nhiều
người quan tâm nghiên cứu là các hợp chất Polyphenol chiếm 9,3% ở lá và ở thân.
Hợp chất Polyphenol trong cây Xoài gồm 3 nhóm:
- Hợp chất Xanthon: là nhóm chủ yếu xét cả về hàm lượng lẫn giá trị khoa
học. Trong nhóm này Mangiferin là chất tiêu biểu. Ngoài ra, còn có
Isomangiferin và Homomangiferin thường chỉ có mặt ở tỷ lệ rất thấp.
- Nhóm tanin: acid Gallic, Metylgallat, acid Ellagic, acid Digallic,
Gallotanin.
- Các Flavonoid: Fisetin, Quercetin, Isoquercetin, Astragalin chỉ có ở tỷ lệ
rất thấp và thất thường.
Năm 2001, khoá luận tốt nghiệp “ Góp phần nghiên cứu thành phần hoá học
trong cây Quéo Scfn La ” - Dược sĩ Lê Thị Thuý đã tổng kết thành phần hoá
học trong cây Quéo Sơn La [14] - (bảng 1).
s
T
Nhóm chất
Phản ứng đinh tính
Kết quả
Kết Luận
T
Lá Vỏ thân
Kết quả Kết quả

- Phản ứng Legal
Không có
5 Coumarin
- Phản ứng mở đóng
vòng lacton
- Phản ứng diazo hoá
- Vi thăng hoa
Không có
6 Anthraglycosid
- Phản ứng Bomtraeger
- Vi thăng hoa
Không có
7
Tanin
- Phản ứng với dd FeCLj
5%
- Phản ứng với dd gelatin
1%
- Phản ứng Stiasny
+ +
+ +
+ +
+ +
+ +
+ +
Có tanin
Pyrogalic
8 Acid Hữu cơ
- Phản ứng với NajCOj
-

VỚI CịọHiỊị oII
Nhiệt độ nóng chảy: 270 - 274^^c
p.tkỉ = 422,33.
Mangiferin là những tinh thể hình kim, phiến hay vẩy dài mỏng, màu vàng
tươi. Rất ít tan trong nước, tan trong cồn metylic, butanol, aceton nóng. Dễ tan
hơn trong các hỗn hợp những dung môi trên với nước(l: 1).
Mangiferin có ở 12 họ thực vật nhưng chi Mangifera có hàm lượng cao là
có ý nghĩa thực tiễn hơn cả.
Mặc dù Mangiferin đã được biết khá lâu nhưng chưa có giá trị đáng kể đối
với khoa học. Một số tác giả có nghiên cứu nó theo hướng sử dụng làm thuốc
chữa lỵ, ỉa chảy nhưng chưa gặp một chế phẩm nào trên thị trường.
Cho đến năm 1985 sau khi một số tác giả người Nga (Vichkanova S.A.,
Shipullina L.D., Glyzin v.l., Bankovskii A.I., Pimenov M.G., Boryaev
K.I.(1985) thông báo tác dụng đối với virus Herpes của Mangiferin thì hợp
chất này mới được chú ý khai thác.
Theo tài liệu giáo sư Glyzin (một trong những tác giả của công trình) thì
trên invitro, Mangiferin có tác dụng ức chế mạnh đối với virus Herpes đơn
thuần. Nó tác dụng ở nồng độ 5-20 và 100 mcrg/ml chế phẩm ngăn chở hoạt
động của men AND - oza của virus. Ngoài ra nó còn có tác dụng chống viêm.
Thuốc uống qua đường tiêu hoá hấp thu tốt, sau l-3h đã phát hiện ở nước
tiểu. Mangiferin không độc. LD50 đối với chuột nhắt và chuột cống là 13.000-
15.000 mg/kg khi uống. Nó không gây dị ứng, không gây đột biến hoặc kích
ứng tại chỗ.
ở Liên Xô Mangiferin được bào chế dưới dạng viên nén 0,1 Og và thuốc
mỡ 2-5% dưới tên biệt dược “Alpisari” dùng để điều trị Virus Herpes. Chế
phẩm đã được đăng ký Patent ở Mỹ, Anh, Pháp và Tây đức. ở Việt Nam, Viện
Công nghiệp Dược đã sản xuất một số dạng bào chế: viên nén, viên nang,
thuốc mỡ, kem đang ứng dụng điều trị Herpes tại một số bệnh viện ở TPHCM.
Với hàm lượng 2 - 4% Mangiferin của cây muỗm, Quéo ở Miền Bắc với
vườn tập trung ở Sơn La, Lai Châu là một nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất

3.1. Nguồn thực phẩm.
Theo “Thuốc và sức khỏe ” số 189 ra ngày 01/06/2001. Sự phong phú của
các chất trong quả Xoài, cho thấy tại sao khi ta ăn nửa kg rau quả tươi mỗi
ngày, trong đó có 200g quả chín tươi lại tốt cho cơ thể. Thí dụ lOOg nạc quả
xoài chứa 84g nước; 0,7g Protein; 0,2 g chất béo; 14,7g bột đường, 12,7mg
Phosphor; 71mg Natri; 96mg Kali; 15mg Canxi; 13mg Magie; 0,065mg đồng,
0,18mg sắt; 1.250 UI sinh tố A; 0,03mg Bl; 0,05mg B2; 0,5 pp và 52mg sinh tố
c.
Với các phương tiện phân tích hiện đại người ta đã phân tích tìm ra được
hàng trăm chất trong quả Xoài: các loại Protein, muối khoáng, chất xơ,
vitamin B6, đường các loại, Xanthyophyl, Zinc, Catalase, acid Mangiferic,
acid Succinic, Mangiferin, Neoxanthophyl và eroxidase
3.2. ữtg dụng trong Y học [theo 8,10,11].
Ngoài công dụng của Mangiferin là hoạt chất chính trong cây Xoài đã
được y học hiện đại chứng minh, cây Xoài còn được biết đến như là cây thuốc
dân gian của nhiều nước.
• Vỏ quả Xoài được dùng làm thuốc tẩy xổ và cầm máu. Chữa rong kinh, ho
khạc ra máu, đại tiện ra máu, lỵ mạn tính, bạch đới dùng 30g sắc uống .
Trong quyển “Những cây thuốc và vỊ thuốc Việt Nam” Đỗ Tất Lợi viết vỏ
quả Xoài chín cũng như quả Xoài có tác dụng cầm máu tử cung, chảy máu
ruột, dùng dưới dạng cao lỏng vód liều lOg cao lỏng cho vào 120ml nước, cứ
cách l-2h cho uống một thìa cà phê. Thông lợi đại tiểu tiện dùng 50g sắc
uống.
• Nhân hạt Xoài, hạt Quéo sấy khô tán bột được nhân dân Malaisia, Ấn Độ,
Braxin làm thuốc tẩy giun với liều l,5-2g hoặc phối hợp với hạt chanh giã
nát, mỗi vị 5-20g sắc uống lúc đói vào buổi sáng, uống vài lần.
Nhân dân Malaisia, Philippin dùng hạt xoài chữa chảy máu tử cung, trĩ, ỉa
chảy cách làm như sau: nghiền 20-25g nhân hạt Xoài với 21ít nước nấu kỹ
cho tới khi cạn còn hơn 1 lít thì lọc, bỏ bã, còn 1 lít. Mỗi ngày dùng 2 hay
3 lần, mỗi lần dùng 50-60g như trên.

• Để nghiên cứu sự biến động hàm lượng Mangiíerin trong quá trình sinh
trưởng chúng tôi lấy mẫu lá của cây 1, 2, 5, 7, 10, nhiều năm tuổi
• Để nghiên cứu sự biến động hàm lượng Mangiferin trong quá trình phát
triển chúng tôi lấy mẫu lá của cây 10 năm tuổi trước thời kỳ cây ra hoa,
trong thời kỳ cây ra hoa, thời kỳ hoa tàn( tạo quả non) từ tháng 8/2001 đến
tháng 3/2002.
• Chọn ngẫu nhiên, lấy mẫu của 5 cây cùng lứa tuổi gộp thành 1 mẫu.
Nguyên liệu được phơi, sấy khô ở nhiệt độ 50 — 60°c, tán thành bột trong
thuyền tán, rây qua cỡ rây 1- l,5mm. Cho vào túi PE đánh số và ghi chú
cẩn thận. Bảo quản nơi khô ráo, tránh ánh sáng.
1.2. Phương pháp nghiên cứu.
1.2.1. Về thực vật: Dựa vào các tài liệu
* Vũ Văn Chuyên — Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc [6].
* Phạm Hoàng Hộ — Cây cỏ Việt Nam [8]
* Trần Hợp - Phân loại thực vật [9]
* Lê Khả Kế - Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam [10].
* Đỗ Tất Lợi - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam [11]
* M.H.Lecomte- Flore Generale de L’ indochine [19].
* Dựa vào kết quả công trình nghiên cứu năm 2001 của Dược sĩ Lê
Thị Thuý đã xác định tên khoa học của cây Quéo [15].
1.2.2. Về hoá học:
a. Xác định hàm lượng Mangiferin trong mẩu dược liệu bằng phương pháp:
• Đo quang trên máy 772 ( Trung Quốc ), tại Bộ Môn Dược Liệu — Trường
Đại Học Dược Hà Nội.
* Nguyên tắc: Dùng Mangiferin chuẩn để xây dựng đường chuẩn. Dựa trên
đường chuẩn, đo mật độ quang ở bước sóng 369nm của dịch chiết các mẫu
dược liệu từ đó suy ra hàm lượng % Mangiferin trong mẫu dược liệu [3].
• Đo sắc ký lỏng cao áp (HPLC) trên máy HPllOO - Henlett Packard, tại
phòng Vật lý - Viện Kiểm Nghiệm.
* Nguyên tắc: Đo trên máy HPLC hai dung dịch, một là dung dịch chuẩn

dùng để chấm sắc ký lớp mỏng. Dịch chiết các bộ phận của cây 10 tuổi cũng
được chuẩn bị như trên.
• Chuẩn bị dung dịch Mangiferin chuẩn;
- Cân 0,05 gam Mangiferin chuẩn cho vào ống nghiệm, hòa tan bằng 2ml
Methanol, dung dịch này để chấm sắc ký lớp mỏng so sánh.
• Tiến hành:
- Dùng micropipep chấm một lượng 51^1 các dịch chiết lá, vỏ thân, vỏ rễ và
Mangiferin chuẩn lên bản mỏng đã chuẩn bị. Mỗi vết cách nhau Icm, cách
mép bản mỏng Icm và cách mép dưới bản mỏng l,
5cm, đường kính vết chấm
không quá 0,5mm, để vết chấm khô tự nhiên, rồi khai triển bằng 4 hệ dung
môi sau;
1, Etylacetat: acid Formic : HjO [8:1:1]
2, Etylacetat; acid Formic : CH3CI [8:1:1]
3, Phenol: HjO [73:27]
4, Toluen : Etylacetat: acid Formic [5:6:1,5]
Khi tuyến dung môi lên cách mép trên của sắc ký Icm, lấy bản ntóng ra,
để ngoài không khí cho bay hết dung môi. Sau đó phun hiện
\<D\
thử AICI3 trong cồn. Trên bản sắc ký xuất hiện các vết màu vàng. So sánh kết
quả thu được chúng tôi thấy rằng sử dụng hệ dung môi Etylacetat: acid
Formic: HjO [8:1:1] (1) và hệ dung môi Etylacetat: acid Formic: CHCI3 (2)
cho kết quả tốt vì số lượng vết xuất hiện nhiều nhất, vết gọn, rõ ràng.
Kết quả sắc ký triển khai với hệ dung môi Etylacetat: acid Formic : CH3CI
[8:1:1] (2) sau khi hiện màu bằng thuốc thử AICI3/ cồn được trình bày ở hìnhl
và bảng 2.
Bảng 2: Kết quả sắc ký dịch chiết toàn phần trong các bộ phận của cây
Quéo Sơn La 1,10 năm tuổi.
Vết Rf Lá (L)
Vỏ thân (VT)

B5
0,67
+++
++ ++ ++
+++
++
B6
0,71
++
+++
++++
B7
0,74 +++ ++ + +
++
+++
Bg
0,83
++
++
Ký hiệu: +: vết mờ ; ++: vết rõ ; +++: vết đậm; ++++: vết rất đậm.
Các vết B,, Bj, B3, B4, B5, Bg, ứng với các vết từ dưới lên trên theo hìnhl.
Cây 1 năm tuổi
Cây 10 năm tuổi
L : Lá ; VT : vỏ thân ; VR: vỏ rễ ; C: Chuẩn
Hìnhl: Sắc ký đồ của dịch chiết các bộ phận trong cây
vói hệ dung môi (2).
*Nhận xét: Kết quả cho thấy Mangiíerin.được tích lũy trong vỏ rễ,vỏ thân
và lá của các cây Ituổi và 10 tuổi,
b. Xác định sự tích luỹ Mangiferin trong cây.
Sau khi xác định được sự tích luỹ Mangiferin trong lá,vỏ thân, vỏ rễ bằng sắc

0,274
2
0,002
0,420
3
0,0025
0,530
4
0,005
0,932
5
0,0075
1,312
6
0,01
1,668
c%
Đồ thị I: Đường chuẩn dung dịch Mangỉýerin.
Tính phương trình tuyến tính y = 155,7x +0,129 bằng các công thức sau:
- ( ĩ , ^ , Ý i n ỵ y ĩ - ( ỵ y , r ]
(2)
11
(3) y-y aix-x)
Với _y : là biến số giá trị của D (mật độ quang)
X : là biến số giá trị của c% (nồng độ g/lOOml)
* Cách tiến hành:
Cân chính xác khoảng l,00g dược liệu, đã xác định độ ẩm. Gói vào túi
giấy lọc đặt vào bình Soxhlet, loại Clorophyl trong dược liệu bằng Cloroíorm
cho tới khi dịch chiết không màu, bỏ dịch chiết Cloroform. Sau đó chiết tiếp
bằng Methanol cho tới khi hết Mangiferin. Cho dịch chiết vào bình định mức

Vỏ thân
4,48
3 Vỏ rễ
4,96
Định lượng Mangiíerin trong các bộ phận của cây Quéo Sơn La 10 tuổi,
làm 5 lần kết quả tính theo công thức (4) xử lý bằng phương pháp thống kê
(bảng 5,6,7).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status