Học viện chính trị Hành chính quốc gia hồ chí minh
Báo cáo tổng hợp
kết quả Nghiên cứu khoa học
đề tài cấp bộ năm 2008
Mã số B08 - 21
Phát triển bền vững môi trờng
vùng đồng bằng bắc bộ trong quá trình
xây dựng, phát triển các khu công
nghiệp: thực trạng và giải pháp
Chủ nhiệm đề tài : TS. Đỗ Đức Quân
7399
08/6/2009
Hà nội 2008
11
ThS. Nguyễn Hồng Phong Thành viên đề tài HV CT-HCKVI
12
CN. Nguyễn Ngọc Hà Thành viên đề tài Tỉnh ủy Ninh Bình
13
CN. Bùi Quang Toản Thành viên đề tài Tỉnh ủy Hải Dơng
14
ThS. Phạm Văn Thanh Thành viên đề tài Tỉnh ủy Vĩnh Phúc
2
Mục Lục Mở đầu 5
Chơng 1: Những vấn đề lý luận về phát triển bền vững
nông thôn trong quá trình xây dựng, phát triển
khu công nghiệp
15
1.1. Lý luận chung về phát triển bền vững nông thôn 15
1.1.1. Quan niệm chung về phát triển bền vững 15
1.1.2. Phát triển nông thôn bền vững 18
1.1.3. Một số chỉ tiêu phát triển bền vững nông thôn 20
1.2. Lý luận về sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 30
1.2.1. Lý lun v KCN v vai trũ ca nú vi CNH, HH nn kinh t 30
1.2.1.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự hình thành các KCN 30
1.2.1.2. Vai trò của KCN với CNH, HĐH nền kinh tế 31
1.2.2. Các mối liên kết giữa nông thôn và khu công nghiệp 35
đồng bằng Bắc bộ 95
3.1.1. Định hớng phát triển nông thôn bền vững 95
3.1.2. Quan điểm phát triển bền vững nông thôn 102
3.2. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền vững nông thôn 107
3.2.1. Nhóm giải pháp về kinh tế 107
3.2.2. Nhóm giải pháp về x hội 112
3.2.3. Nhóm giải pháp về môi trờng sinh thái 119
4
3.2.3. Mét sè gi¶i ph¸p kh¸c 122
KÕt luËn 134
Tµi liÖu tham kh¶o 137
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội
loài người; là yêu cầu bức thiết đối với mọi nền kinh tế và quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là những lĩnh vực sản xuất vật chất, sử dụng nhiều tài nguyên
thiên nhiên, liên quan đến bảo vệ môi trường… Tại Hội nghị thượng đỉnh thế
giới n
ăm 1992 ở Rio de Janerio, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi
trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền
vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và
đồng thuận thông qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về Phát triển
bền vững và Chương trình Nghị sự 21, xác định các hành động cho sự phát
triển bền vững của toàn thế giới trong thế
kỷ thứ 21. Đây là những nguyên tắc
chung nhất để các quốc gia có thể vận dụng vào việc xây dựng các nguyên tắc
và "phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ, cải thiện môi trường, bảo
đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn
đa dạng sinh học".
Để thực hiện mục tiêu phát triển bề
n vững như Nghị quyết của đại hội
Đảng toàn quốc đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững,
ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số
153/2004/QĐ-TTg về định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt
Nam. Trong đó nội dung phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn là một
nội dung quan trọng trong chiế
n lược phát triển bền vững ở Việt Nam. Thậm
chí đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền
vững ở nước ta.
Thật vậy, ở Việt Nam nông thôn là một phạm trù rất gần gũi, quen
thuộc và dường như là một khái niệm vốn có trong tiềm thức của người Việt
Nam. Hơn nữa, nông thôn có vai trò cực kỳ quan trọng, gắn liề
n với lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội
nước ta đã cho thấy, sự phát triển, tiến bộ và phồn vinh của đất nước không
thể bỏ qua, tách rời sự phát triển của khu vực nông thôn. Vì vậy, phát triển
nông thôn giầu mạnh và bền vững luôn được Đảng và Nhà nước ta đặt ở vị trí
trọng tâm trong chiến lược phát triể
n kinh tế xã hội.
Hơn nữa, dưới tác động như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công
nghệ, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như quá trình đô thị hoá, vai trò của
nông thôn (xét trong mối tương quan dài hạn với đô thị) có xu hướng giảm sút.
Mặt khác, các vùng nông thôn nước ta hiện nay đang phải đối mặt với việc sử
dụng lãng phí, kém hiệu quả các nguồn lực xã hộ
i, tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng… ảnh hưởng tiêu cực đến sự phồn thịnh ở nông thôn
cụm công nghiệp được xây dựng trước năm 1975, đến nay vùng đồng bằng
Bắc Bộ có 22 khu công nghiệp với điện tích đất tự nhiên là 3802 ha. Các khu
công nghiệp trong vùng đã thu được những kết quả nhất định, thu hút được
539 dự án (trong đó có 216 dự án FDI và 278 dự án đầu tư trong nước) với
tổng vốn đầu tư đăng ký gần 2.236 triệu USD và 17460 tỷ đồng. Giá tr
ị sản
xuất của các khu công nghiệp trong vùng đạt khoảng 1.900 triệu USD, xuất
khẩu khoảng 1.000 triệu USD và đóng góp vào ngân sách gần 60 triệu USD.
Các khu công nghiệp trong vùng đồng bằng Bắc bộ đã giải quyết cho khoảng
100.000 lao động, đặc biệt các khu công nghiệp không chỉ giải quyết việc
8
làm cho lao động tại địa phương mà còn thu hút lao động ở các vùng khác
trong cả nước.
Tuy nhiên trong quá trình xây dựng và phát triển, bên cạnh những mặt
tích cực, các khu công nghiệp trong vùng đang tác động tiêu cực đến sự phát
triển bền vững nông thôn như: làm mất cân đối và thiếu hụt các nguồn lực
dành cho phát triển nông thôn; đẩy hàng vạn người lâm vào cảnh thất nghiệp
sau khi bị thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp; làm tăng các căng thẳng
xã hộ
i; gây mất cân bằng giới ở địa phương; chất lượng môi trường bị suy
giảm… Vì vậy làm thế nào để phát triển bền vững nông thôn vùng đồng bằng
Bắc Bộ trong quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp không chỉ
là một vấn đề lớn đặt ra cho các địa phương trong vùng, mà còn là vấn đề lớn
của toàn xã hội. Việc nghiên cứu nhằm góp phần tìm ra hướng giải quyết cho
vấn đề này là một nộ
i dung có ý nghĩa thiết thực, bức xúc cả về mặt lý luận
và thực tiễn hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn vấn đề “Phát triển bền
vững nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát
ao, chuồng, rừng (VACR) kinh tế trang trại, hầm biogas. Nhà tiêu sinh thái.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý. Các chương trình giảm thiểu ô nhiễm
môi trường. Kế hoạch thuỷ lợi hợp lý nhằm phát triển bền vững. . .
2.2. Về các công trình nghiên cứu: Đến nay các nghiên cứu riêng rẽ
về phát triển bền v
ững nông thôn và phát triển các khu công nghiệp đã được
nhiều nhà kinh tế học, các chuyên gia trong và ngoài nước quan tâm nghiên
cứu. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu xung quanh vấn đề này như:
- Về phát triển bền vững nông thôn:
• Góp phần phát triển bền vững nông thông Việt Nam (2004) do
TS. Nguyễn Xuân Thảo chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia. Công
trình này mang tính thực tiễn, tính tổng quát cao. Song đây là tập
hợp các bài viết của tác giả nên vấn đề phát triển bền vữ
ng nông
thôn nằm rải rác ở nhiều bài trong cuốn sách, và ít mang tính lý
luận.
• Cuốn “công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
ở Việt Nam, con đường và bước đi” Đề tài KX-02-07 do GS.TS
Nguyễn Kế Tuấn làm chủ nhiệm. Đây là công trình đề cập chủ
yếu đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn ở nước ta thời gian qua; đề xuất phương hướng thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệ
p, nông thôn Việt
Nam thời gian tới. Tuy nhiên phần nào công trình cũng đã đề
cập đến khía cạnh phát triển nông thôn bền vững trong quá trình
công nghiệp hoá.
• Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (2003) do
PGS. TS Nguyễn Sinh Cúc chủ biên, Nxb Thống kê. Công trình
10
nông thôn vùng đồng bằng B
ắc Bộ nói riêng như: “Hội nghị phát triển bền
vững toàn quốc lần thứ 2” tháng 5/2006; “Hội nghị nông thôn phát triển bền
vững các tỉnh phía Bắc” do Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức ngày
7/6/2006. Báo cáo “Phát triển bền vững trong nông nghiệp nông thôn” của
Bộ Nông nghiệp và PTNT tại Hội nghị phát triển bền vững tháng 06/2005…
11
và hàng loạt bài viết khác của các tác giả trong trong và ngoài nước đăng trên
các tạp chí chuyên ngành.
- Về xây dựng và phát triển các khu công nghiệp:
• Cuốn “Phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do TS Nguyễn Chơn
Trung, PGS.TS Trương Giang Long chủ biên, Nxb Chính trị
Quốc gia (2004). Đây là tập hợp gần 40 báo cáo của các nhà
quản lý và khoa học liên quan đến vấn đề phát triển khu công
nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt
Nam.
•
Đề tài “Các giải pháp hoàn thiện và phát triển các khu công
nghiệp Việt Nam” Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Ngọc Hưng.
Đề tài đã đánh giá tổng quát thực trạng phát triển các khu công
nghiệp của Việt Nam; đề xuất các giải pháp về cơ chế, chính
sách nhằm phát triển hơn nữa các khu công nghiệp của Việt
Nam.
• Đề tài: “Tác động của tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số
khu công nghiệp phía Bắc tới sức khoẻ cộng đồng” đề tài cấp Bộ
2004 do TS. Trần Văn Tùng làm chủ nhiệm. Đề tài đã đánh giá
tình trạng ô nhiễm đến sức khoẻ người dân xung quanh một số
- Đề tài đánh giá thực trạng phát triển các vùng nông thôn Đồng bằng Bắc
Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp trên các góc độ: (1)
kinh t
ế - kỹ thuật, (2) Xã hội, (3) Tài nguyên môi trường.
- Đề xuất định hướng, quan điểm và những giải pháp cơ bản phát triển
bền vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển
các khu công nghiệp trong thời gian tới.
4. Nội dung nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển bền vững, phát
triển bền vững nông thôn, phát triển các khu công nghiệp, tác động qua lại
giữ
a phát triển khu công nghiệp với phát triển bền vững nông thôn.
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển bền vững nông thôn đồng
bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp thời
gian qua; từ đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm phát triển bền
vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong thời gian tới.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1.Đối tượng nghiên cứu
Phát tri
ển bền vững nông thôn là một đề tài rộng và có rất nhiều nhân
tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững nông thôn. Đối tượng nghiên cứu
của đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu tác động của quá trình xây
13
dựng và phát triên các khu công nghiệp đến phát triển bền vững nông thôn
đồng bằng Bắc Bộ trên góc độ kinh tế-xã hội thời gian qua.
5.2.Phạm vi nghiên cứu
5.2.1.Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu phát
triển bền vững nông thôn vùng Đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng,
phát triển các khu công nghiệp, qua khảo sát các tỉnh: Vĩnh Phúc, Hải
hưởng của khu công nghiệp đến phát triển bền vững nông thôn ở những nơi
điều tra.
6.2.3.Phương pháp đàm thoại được sử dụng để trao đổi với người nông
dân ở nông thôn; các chủ doanh nghiệ
p trong khu công nghiệp; các cán bộ
quản lý ở xã, huyện; các cán bộ và lãnh đạo ở các Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Sở Tài nguyên, Ban quản lý Khu công nghiệp…. về những
ảnh hưởng của quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiêp đến phát
triển bền vững nông thôn ở địa phương.
6.2.4.Phương pháp phỏng vấn sâu, nhất là đối với những cán bộ được
Nhà nước giao thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, nông
thôn, và các khu công nghiệ
p. Phương pháp này được sử dụng để hỗ trợ các
phương pháp trên, góp phần khái quát bức tranh chung về đối tượng nghiên
cứu.
6.2.5.Phương pháp tổng kết thực tiễn:
-Thu thập các thông tin cơ bản về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
của các địa phương qua các báo cáo chính thức, và trên Internet.
-Thống kê sự biến động của nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ sau khi
có các khu công nghiệp theo các tiêu chí cơ bản để nghiên cứu. Trên cơ sở đ
ó
phân tích những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực đến phát triển bền
vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng và phát
triển các khu công nghiệp thời gian qua.
6.3.Phương pháp toán, thống kê:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp, tính toán, xử lý các số liệu
về tác động của quá trình xây dựng các khu công nghiệp đến phát triển bền
vững nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.
15
tế- xã hội khác nhau. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi hình thái kinh tế-xã hội
nếu muốn phát triển
đều phải tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng đỏi
hỏi xã hội phải đạt trình độ năng suất lao động vượt ngưỡng của sản phẩm tất
yếu và tạo ra sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều. Sản phẩm thặng dư là
nguồn gốc để tích luỹ tái sản xuất mở rộng. Vì thế tái sản xuất mở rộng là
loại hình đặc trưng phổ biến của những xã hội có nền kinh tế phát triển, năng
suất lao động xã hội đạt đến trình độ cao. Trong bất cứ xã hội nào, để quá
trình tái sản xuất diễn ra bình thường, ổn định và bền vững đòi hỏi phải đảm
bảo thực hiện đầy đủ bốn nội dung của tái sản xuất xã hội đó là: Tái sản xuất
ra c
ủa cải vật chất, tái sản xuất ra sức lao động, tái sản xuất môi trường sinh
thái, tái sản xuất quan hệ sản xuất. Trong xã hội nào mà không thực hiện đầy
đủ, cân đối, hợp lý giữa bốn nội dung trên thì tất yếu xã hội đó sẽ khó có thể
đảm bảo tái sản xuất bền vững ở các giai đoạn tiếp theo.
Đến thế kỷ thứ XX, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ
đã bùng nổ
đến đỉnh điểm cao, chất lượng sống của xã hội loài người đã có những bước
tiến rõ rệt do khoa học, công nghệ và năng suất lao động xã hội mang lại.
Những của cải được nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng
loại đã phần nào thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người, đã
đưa tới sự phát triển nhanh c
ủa nền văn minh nhân loại. Song cũng chính từ
sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng
17
trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên,
năng lượng, thiên tai bão, lũ, lụt, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày càng gia
tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đối với phát
triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng sống, đe doạ cuộc sống hiện tại của
18
chất lượng giáo dục, kỹ thuật và kiến thức (vốn con người) cũng như vốn vật
chất. Nhưng cũng có thể con người tương lai được hưởng lợi từ những sự đầu
tư vào tài nguyên thiên nhiên, như canh tác hợp lý làm tăng độ mầu mỡ của
đất trồng trọt, trồng rừng và bảo vệ rừng làm tăng độ che phủ trên toàn cầu và
trong từng quố
c gia. Như vậy, khi xem xét những thứ mà thế hệ hiện tại
chuyển cho các thế hệ tương lai, chúng ta cần phải cân nhắc toàn bộ các
nguồn vốn vật chất, vốn con người và vốn thiên nhiên. Những loại vốn này sẽ
quyết định phúc lợi của các thế hệ tương lai. Và những gì mà họ sẽ để lại cho
những người kế tục họ.
Phát triển ý tưởng của Liên Hợ
p Quốc, Uỷ ban quốc tế về phát triển và
môi trường (1987) đã đưa ra định nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình
của sự thay đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu
tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là
thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai củ
a con
người.
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio de Jạneiro đã
đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững và được sử dụng một cách
chính thức trên quy mô quốc tế đó là: "Phát triển bền vững là sự phát triển
nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc
đáp ứng nhu cầ
u của các thế hệ mai sau". Hay nói cách khác: Đó là sự phát
triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm
không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người.
Sự phát triển hài hòa trong phát triển bền vững thể hiện, kinh tế có tốc
độ tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài tất yếu kéo theo chuyển dịch
y
đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội.
Bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên thiên
nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm
khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái
tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không
khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên ) và môi trường xã hội (dân s
ố, chất
lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con
người ) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy
thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý,
tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống
trong môi trường trong sạch
20
1.1.2.Quan niệm về nông thôn và phát triển nông thôn bền vững
1.1.2.1.Quan niệm về nông thôn
Hiện nay các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân
các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn.
Theo các nhà xã hội học, sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và thành thị
được phản ánh rõ nét dựa trên các tiêu chí như: sự khác nhau về nghề nghiệp,
môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của
dân số, hướng di cư, s
ự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội
Bảng 1: Tiêu chí phân biệt nông thôn và thành thị
Tiêu chí Khu vực nông thôn Khu vực thành thị
Nghề nghiệp
Những người sản xuất nông
nghiệp, một số ít phi nông nghiệp
Những người sản xuất công
hội nhiều hơn nông thôn
Di động xã
hội
Di động xã hội theo lãnh thổ, theo
nghề nghiệp không lớn, di cư cá
nhân từ nông thôn ra thành thị
Cường độ di động lớn hơn,
có biến động xã hội mới có di
cư từ thành thị về nông thôn
Tác động xã
hội
Tác động xã hội tới từng cá nhân
thấp hơn. Quan hệ xã hội sơ cấp,
láng giềng, huyết thống.
Tác động xã hội tới từng cá
nhân lớn hơn. Quan hệ xã hội
thứ cấp, phức tạp, hình thức
hoá 21
Tuy nhiên, việc xác định nông thôn chỉ có tính chất tương đối. thực tế
cho thấy, vẫn còn có sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động
kinh tế-xã hội, đặc biệt là ở những vùng giáp ranh, thị tứ, thị trấn. Vì vậy,
hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn
nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào ch
ỉ tiêu
trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ
tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Có quan điểm khác lại cho rằng nên
dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định
Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt
và là nguồn sinh kế chính của
đại bộ phận nông dân. Cùng với sự phát triển
và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi. Các vùng nông thôn
trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông
nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế
khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương
mại dịch vụ. Theo đó, tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh t
ế ở
nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ.
- Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường
sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to
lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng,
sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và cả do con
người tạo ra.
- Cư dân nông thôn có mối quan hệ h
ọ tộc và gia đình khá chặt chẽ với
những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình. Ở nông thôn, có nhiều gia
đình trong một dòng họ sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu
đời. Những người ngoài dòng họ cùng chung sống, góp sức phòng tránh thiên
tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu
bền.
- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá của quố
c gia như
các phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp
và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng
cảnh Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc, đồng thời là
khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú, hấp dẫn đối với mọi người.
23
Phát triền nông thôn bền vững có tác động theo nhiều chiều cạnh khác
nhau. Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương
24
trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các dân cư
nông thôn. Đồng thời phát triển nông thôn bền vững là quá trình thực hiện
hiện đại hoá nền văn hoá nông thôn, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị
truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ.
Hơn nữa, phát triển nông thôn bền vững mang tính toàn diện và đa
phương, bao gồm phát triển các hoạ
t động nông nghiệp và các hoạt động có
tình chất liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các
ngành nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, nguồn nhân lực nông
thôn và xây dựng, tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng
nông thôn. Ngoài ra phát triển nông thôn bền vững phải đảm bảo sự bền vững
về môi trường.
Như vậy, có th
ể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn
là sự phát triển nông thôn đảm bảo bền vững về kinh tế, xã hội, văn hoá và
môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
Cách hiểu trên đây tuy chưa đầy đủ và hệ thống, song tất cả đều thoả mãn
đồng thời 3 mục tiêu: kinh tế - môi trường - xã hội trong quá trình phát triển
nông thôn. Ba mục tiêu này tương hỗ với nhau, b
ổ sung và điều khiển lẫn
nhau, cũng chính vì vậy mà phát triển nông thôn bền vững là quá trình tổng
hoà của nhiều quá trình tương tác và gắn bó hữu cơ với nhau.
1.1.3.Vai trò của phát triển bền vững nông thôn
Phát triển bền vững nông thôn có vai trò và vị trí quan trọng trong sự
phát triển của mỗi quốc gia. Nhất là đối với Việt Nam, một nước có nền sản
xuất nông nghiệp làm nền tảng thì sự đóng góp của nông thôn và sự