HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG QUAN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
2008-2009
MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG HIỆN NAY
Chủ nhiệm đề tài: TS. LÊ VĂN ĐỊNH
Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
7489
21/8/2009
Đà Nẵng - Tháng 6 năm 2009 2
Chương 2
. THỰC TRẠNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI NẢY SINH TRONG
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KCN Ở VÙNG
KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG
44
1. Lao động và việc làm - vấn đề xã hội đáng quan tâm trong quá trình
xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
44
2. Đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong các KCN còn
thấp kém và nghèo nàn
54
3. Tái định cư trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN đang chứa
đựng nhiều vấn đề bức xúc
59
4. Bãi công, đình công, lãn công trong các KCN vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung đang báo hiệu nhiều vấn đề bất cập cần được giải quyết
70
5. Ô nhiễm môi trường sống do các KCN đang trở thành vấn đề nóng
bỏng
76
6. Hiện tượng khiếu kiện, khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện tập thể gia
tăng trong thời gian gần đ
ây
86
Chương 3
. QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT
CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT
TRIỂN CÁC KCN Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN
TRUNG HIỆN NAY
91
KH&CN
: Khoa học và công nghệ
Nxb
: Nhà xuất bản
PGS
: Phó giáo sư
SX-KD
: Sản xuất - kinh doanh
ThS
: Thạc sĩ
Tp
: Thành phố
TS
: Tiến sĩ
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
UBND
: Ủy ban Nhân dân
UNDP
: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
VKTTĐ
: Vùng kinh tế trọng điểm
VKTTĐMT
: Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
WB
: Ngân hàng Thế giới
XHCN
: Xã h
ội chủ nghĩa
5
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (có thể còn được gọi là vùng kinh
tế trọng điểm Trung bộ) bao gồm 5 tỉnh/thành là Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định có diện tích 27.879 km
2
(chiếm
8,47% diện tích đất nước), dân số năm 2007 khoảng 6,3 triệu người (chiếm
7,49% dân số cả nước). Do nằm trên các trục giao thông quốc gia, quốc tế về 1
Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.203.
6
đường sắt, đường bộ, đường biển, đường hàng không nên vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung được đánh giá là vùng có điều kiện thuận lợi cho phát triển.
Đây cũng là vùng có tài nguyên thiên nhiên và xã hội phong phú, đa dạng,
có thể khai thác tạo ra lợi thế so sánh cho vùng trong phát triển.
Quyết định 148/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phương
hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định: vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung là vùng kinh tế động lực, có vai trò "đầu tàu" kéo cả khu
vực miền Trung và Tây Nguyên cùng phát triển trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm qua, những chính sách, giải
pháp đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng đã làm cho tốc
độ tăng trưởng kinh tế - xã hội của vùng luôn cao hơn mức tăng bình quân củ
a
cả nước. Trong thời gian này, các địa phương trong vùng đã xây dựng nhiều
khu công nghiệp, khu chế xuất, (sau đây được gọi chung là khu công nghiệp
và xin được viết tắt là KCN)
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công và những lợi ích kinh tế - xã hội
to lớn mà các KCN mang lại, quá trình xây dựng, phát triển các KCN này
cũng đang làm nảy sinh một số vấn đề xã hội bức xúc. Đó là các vấn đề nh
ư:
- Mâu thuẫn giữa cung và cầu lao động diễn ra gay gắt. Trong khi
nguồn cung lao động trên địa bàn khá dồi dào, tỷ lê thất nghiệp đô thị (thất
nghiệp toàn phần) còn cao, tình trạng người lao động thiếu việc làm còn phổ
biến thì các doanh nghiệp trong các KCN lại luôn ở trong tình trạng thiếu lao
động một cách trầm trọng, nhất là lao động kỹ thuật, lao động trình độ cao.
Điều đó ảnh hưởng rất lớ
n đến hiệu quả kinh tế trước mắt cũng như xu hướng
phát triển bền vững của các KCN trong vùng.
- Vấn đề tái định cư và hậu tái định cư ngày càng trở nên bức xúc trong
dư luận xã hội. Trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN, việc giải
phóng mặt bằng, chuyển đổi một bộ phận đất ở, đất nông nghiệp sang đất
công nghiệp là tất yếu nhưng mối quan hệ
về lợi ích giữa các bên liên quan đã
không được giải quyết thỏa đáng: phương án giải tỏa, đền bù chưa thật công
khai, minh bạch; giá cả đền bù thấp hơn so với giá thị trường và luôn biến
động tăng; các khu tái định cư, khu dân cư xây dựng với tiến độ chậm, chất
lượng không đảm bảo; các vấn đề về việc làm, thu nhập, tổ chức đời sống,
cho người dân sau tái
định cư không được quan tâm giải quyết thỏa đáng
khiến cho chất lượng đời sống của người dân tái định cư bị sút giảm. Tình
trạng tố cáo, khiếu kiện vì thế đã gia tăng, gây nên bất ổn xã hội.
- Trong những KCN đã đi vào hoạt động, thời gian gần đây, hiện tượng
bãi công, đình công, lãn công bùng phát phức tạp. Mặc dù số lượng các cuộc
bãi công, đình công, lãn công trong KCN vùng kinh tế
trọng điểm miền Trung
chưa nhiều nếu so sánh với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhưng cũng đã
người dân của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng, phát
triển các KCN đang có nhiều vấn đề phức tạp cũng như cho thấy chính sách
của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề có liên quan vẫn còn nhiều bất cập,
chưa phù hợp. Đáng lưu ý rằng, ph
ần lớn các khiếu kiện của người dân là liên
quan đến vấn đề đất đai, việc đền bù, giải tỏa - một trong những lĩnh vực phức
tạp và nhạy cảm nhất hiện nay.
9
Tuy chưa phải là tất cả, nhưng những vấn đề xã hội trên đang phản ánh
những bất cập trong quá trình xây dựng, phát triển KCN vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung. Đến lượt nó, các vấn đề đó lại trở thành lực cản làm giảm
hiệu quả kinh tế - xã hội của các KCN, làm chậm quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong vùng. Nhất là trong thời đại ngày nay, xu hướng phát triển
bền vữ
ng của nền kinh tế nói chung, của mô hình KCN nói riêng đang đòi hỏi
bất kỷ một chương trình, chiến lược kinh tế - xã hội nào cũng phải đảm bảo
được tính toàn diện và cân đối trong phát triển, tức là phải đảm bảo giải quyết
đồng bộ hài hòa giữa “cái kinh tế” và “cái xã hội”, giữa giải quyết các vấn đề
kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, giữa giải quy
ết cái trước mắt
với cái lâu dài, UNESCO đã từng cảnh báo rằng: bất cứ quốc gia nào tự đặt
cho mình mục tiêu tăng trưởng kinh tế tách rời mục tiêu phát triển xã hội thì
sớm muộn quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó sẽ xảy ra sự mất cân đối nghiêm
trọng và sẽ sớm rơi vào tình trạng bất ổn. Đây là bài học kinh nghiệm quí báu
rút từ thực tế phát triển của nhi
ều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, việc nhận diện và tìm cách
giải quyết một cách căn bản các vấn đề xã hội nêu trên có vai trò rất to lớn đối
với sự phát triển bền vững của các KCN nói riêng và của nền kinh tế - xã hội
khác. Đây là một tài liệu tham khảo bổ ích khi nghiên cứu các vấn đề xã hội
của KCN ở vùng nói riêng, ở Việt Nam nói chung.
Ngoài 2 công trình có liên quan trực tiếp đến quá trình nghiên cứu đề
tài nêu trên, có thể tham khảo thêm một số công trình nghiên cứu ở nước
ngoài sau đây:
- Cuốn sách “The Sociology of Social Problems” (Tạm dịch là: Xã hội
học về các vấn đề xã hội) của Paul B. Horton, Gerald R. Leslie, Richard F.
Larson, and Robert L. Horton, do Nhà xuất bản Paperback ấn hành năm 1997.
- Cuố
n sách “Social Problems - Issues and Solutions” (Tạm dịch là:
Những vấn đề xã hội - hậu quả và những giải pháp) của Charles Zastrow, do
Nhà xuất bản Hardcover ấn hành năm 1999.
- Công trình “Social Problem Solving: Theory, Research, and
Training” (Tạm dịch là: Giải quyết vấn đề xã hội - Lý thuyết, nghiên cứu và
thực hành) của Edward C. Chang, Thomas J. D'Zurilla, and Lawrence J.
Sanna, do Nhà xuất bản Hardcover ấn hành năm 2004.
11
- Công trình “Social Problems” (Tạm dịch là: Những vấn đề xã hội)
của John J. Macionis do Nhà xuất bản Paperback xuất bản năm 2005.
- Tác phẩm “Mặt trái của những con rồng” của Walden Bello và
Stephanie Rosenfeld do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia dịch và phát hành
năm 1996.
Phần lớn các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã nêu trên bước đầu
thiết lập các lý luận cơ bản về các vấn đề xã hội nói chung, các vấn đề xã hộ
i
của quá trình công nghiệp hóa nói riêng cũng như đã đề xuất các cách thức,
giải pháp khác nhau để giải quyết chúng nhằm hướng đến sự phát triển bền
vững. Vì vậy, đây là những tài liệu tham khảo hữu ích khi nghiên cứu đề tài.
Ở trong nước, cho đến thời điểm này, trên bình diện lý luận cơ bản rất
ận định trong tài liệu cần phải được cập
nhật, bổ sung.
- Cuốn sách “Kết hợp giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề
xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” của Đoàn Minh Duệ và Đinh Thế Định xuất bản năm 2003. Phần có ý
nghĩa đối với đề tài là những luận giải về quan hệ biện chứng gi
ữa phát triển
kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và những giải pháp chủ yếu để kết
hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn vùng bắc
Trung bộ.
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở các
tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong giai đoạn công nghiệp hóa,
hi
ện đại hóa” của Trần Thị Bích Hạnh” (Bảo vệ năm 2003). Phần mà đề tài
có thể tham khảo hữu ích là đánh giá về nguồn lao động và tình hình sử dụng
nguồn lao động vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cũng như những đề xuất
nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động này trong giai đoạn hiện nay.
- Cuốn sách “Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu lực quả
n lý
nhà nước về bảo vệ môi trường ở các KCN, khu chế xuất” của Trương Thị
Minh Sâm do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2004. Cuốn sách
này là tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài khi nghiên cứu vấn đề ô nhiễm
môi trường trong các KCN vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
- Luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp hoàn thiện và phát triển KCN
ở Việt Nam” của NCS Trần Ngọc Hưng (B
ảo vệ năm 2004). Luận án này đã
đánh giá khái quát về tình hình phát triển và đề xuất các giải pháp hoàn thiện,
phát triển các KCN ở Việt Nam.
13
- Bài viết “Xây dựng và phát triển KCN, khu kinh tế - kết quả đạt đượ
c
trong năm 2006, những vấn đề đặt ra và nhiệm vụ cần triển khai trong năm
2007” của TS. Trần Ngọc Hưng đăng ở tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam,
14
số 1 năm 2007. Bài viết khái quát tình hình phát triển các KCN, khu kinh tế ở
Việt Nam, phát hiện những vấn đề đặt ra và những nhiệm vụ cần triển khai
tiếp trong năm 2007 nhằm thực hiện tốt các mục tiêu phát triển KCN và khu
kinh tế trên bình diện cả nước.
- Đề tài khoa học trọng điểm cấp bộ năm 2005 “Những giải pháp thu
hút đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động củ
a các khu công nghiệp ở vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung” do Lê Thế Giới làm chủ nhiệm (bảo vệ năm
2006) đã cho những đánh giá, nhận định khái quát tình hình xây dựng, phát
triển, thu hút đầu tư tại các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong
thời gian qua.
- Tập Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo quốc gia: “15 năm xây dựng và phát
triển các khu công nghiệp và khu chế xuất ở Vi
ệt Nam do Bộ Kế hoạch và
Đầu tư ấn hành tháng 7/2006 . Đây là tập kỷ yếu tập hợp các bài viết của
nhiều nhà khoa học, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý ở trung ương và các địa
phương đánh giá về quá trình xây dựng, phát triển các KCN, khu chế xuất
cũng như các vấn đề liên quan đến quản lý, phát triển các KCN và khu chế
xuất. Trong tập kỷ yếu này có một số bài viết đánh giá quá trình xây dựng,
phát triển các KCN, khu chế xuất ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Ngoài các cuốn sách, luận án, đề tài nghiên cứu, các bài tạp chí đã nêu
trên, liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài còn có một số bài viết ngắn
đã được đăng tải trên các tạp chí vùng và quốc gia:
- “Phát triển khu công nghiệp trong vùng kinh tế trọng điểm miền
,
Trong thời gian gần đây, dưới sự bảo trợ của Bộ Kế hoạch & Đầu tư,
Phòng Thương mại & Công nghiệp VN và UBND tỉnh Quảng Nam, Báo Tuổi
Trẻ và Công ty Hòa Nhan PR (Tp. Hồ Chí Minh) đã tổ chức Diễn đàn kinh tế
miền Trung. Tại Diễn đàn này các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà báo
và các nhà lãnh đạo quản lý đã trao đổi, bàn bạc các giải pháp cải thiện môi
trường đầu tư ở miền Trung, trong đó có đề c
ập đến những vấn đề xã hội nảy
sinh trong các KCN trong vùng. Các bài viết, các phát biểu tại diễn đàn này
có thể là những tài liệu tham khảo có giá trị trong nghiên cứu đề tài.
16
Như vậy, dù số lượng các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp
đến đề tài không nhiều, nhưng đó là những tài liệu tham khảo có giá trị khi
triển khai nghiên cứu đề tài này.
3. Mục tiêu của đề tài:
3.1. Mục tiêu tổng quát của đề tài là: Nhận diện một số vấn đề xã hội
nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các KCN ở vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung; trên cơ sở đ
ó đề ra được một hệ thống giải pháp đồng bộ,
khả thi giải quyết những vấn đề này.
3.2. Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, đề tài sẽ thực hiện các
mục tiêu cụ thể sau đây:
- Làm rõ khái niệm vấn đề xã hội và lý giải một số vấn đề lý luận liên
quan đến giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện
đại hóa, xây dựng và phát triển KCN.
- Phân tích làm rõ thực trạng, nguyên nhân, mức độ tác động của một
số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các
KCN ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
ức, quy mô và cấp độ
quản lý, nên để tiện cho việc nghiên cứu, đề tài chủ yếu chỉ nghiên cứu các
KCN tập trung có quy mô khá lớn do tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương
quản lý. Các KCN trực thuộc các khu kinh tế, các KCN, cụm công nghiệp nhỏ
do cấp quận/huyện quản lý không thuộc phạm vi nghiên cứu trong đề tài này.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này về mặt lãnh thổ là vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung gồm 5 t
ỉnh/thành phố là Thừa Thiên - Huế, thành phố Đà
Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này về mặt thời gian là giai đoạn hiện
nay khi vùng kinh tế trọng điểm miền Trung cùng cả nước bước vào quá trình
công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
6. Kết cấu của báo cáo tổng quan khoa học của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Báo cáo
tổng quan khoa học của đề tài được kết cấu thành 3 chương 10 tiết trong 160
trang. Sau đây là nội dung của Báo cáo tổng quan.
18
Chương 1
:
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM MIỀN TRUNG VÀ SỰ NẢY SINH CÁC VẤN
ĐỀ XÃ HỘI
Tiết 1:
Xây dựng, phát triển các KCN và tác động của chúng tới sự
phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
2.1. Khái quát về vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Theo Quyết định ngày 13 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ
về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội các vùng kinh tế trọng
lịch. Vớ
i những nguồn tài nguyên này, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
có thể phát triển nền kinh tế tổng hợp, trong đó có các ngành và các sản phẩm
mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh cao. Sau đây là một số lợi thế tài nguyên đáng
lưu ý:
- Với chiều dài bờ biển hơn 550 km, vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung có tiềm năng nổi trội về kinh tế biển. Bờ biể
n của vùng dài với thềm
lục địa khá rộng, có nhiều cửa sông, đầm, vịnh và bãi, có cảnh quan thiên
nhiên đẹp, có hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ,… là nơi chứa đầy tiềm năng trong
nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và chứa đựng nhiều lợi thế để phát triển
công nghiệp và du lịch biển.
- Với tổng diện tích đất tự nhiên 27.953,2km
2
, vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung có tiềm năng khá lớn về đất đai và tài nguyên thiên nhiên trên đất.
Toàn vùng hiện có 850,5 nghìn héc ta đất có rừng với trữ lượng gỗ trên 7,4
triệu m
3
. Rừng của vùng có nhiều loại gỗ quý như giáng hương, cẩm lai, gụ
mật, kiền kiền và sao đen, Động vật rừng cũng rất phong phú, trong đó có
nhiều loài quý hiếm như: hổ, báo, gấu, rùa vàng, bò rừng Nhiều vùng đất
của vùng có thể trồng nhiều loại cây có giá trị như cây nguyên liệu gỗ, cao su,
hồ tiêu, quế,…
- Trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đã hình thành một hệ
thố
ng đô thị phân bố khá đều trên toàn vùng: các đô thị lớn như Huế, Đà
Nẵng, Quy Nhơn,… cùng với các đô thị vừa và nhỏ như Lăng Cô, Hội An,
Tam Kỳ, Quảng Ngãi,… đang tạo nên một dải đô thị ven biển với các KCN,
khu kinh tế nằm xen kẽ hoặc kề cận (trong đó nổi bật nhất là KCN lọc hóa
Quảng Ngãi có tốc độ phát triển GDP khá ngoạn mục. Thu nhập của người
dân trong vùng không ngừng tăng nhanh (2000 - 2005, tốc độ tăng trưởng thu
nhập bình quân trên toàn vùng đạt tới 61%). Sự năng động, sáng tạo trong
phát triể
n thời gian qua bước đầu đã tạo nên thế và lực phát triển mới cho
vùng. Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu.
21
Về những khó khăn, thách thức:
- Khó khăn đầu tiên đối với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong
quá trình phát triển là điều kiện tự nhiên của vùng chứa đựng nhiều yếu tố
không thuận lợi cho phát triển. Những yếu tố này bao gồm: địa hình hẹp và
dốc, khí hậu khắc nghiệt, nhiều hạn hán vào mùa khô, nhiều bão, lốc, lũ lụt
vào mùa mưa. Có thể nói rằ
ng, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung thuộc vào
vùng không “mưa không thuận, gió không hòa” chứa đựng nhiều rủi ro tiềm
ẩn có thể làm tăng thêm chi phí ngoài dự tính của các nhà đầu tư. Chính vì
vậy, nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã không khỏi nản lòng khi họ
muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
- Với địa hình dài, hẹp và có độ dốc cao nên các điều kiện phát tri
ển
nông nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung rất hạn chế nếu so với
hai đầu đất nước. Vì vậy, cho đến nay, nền kinh tế trong vùng về cơ bản vẫn
là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu: chủ yếu dựa vào nghề trồng lúa
nước; chăn nuôi gia súc - gia cầm với quy mô nhỏ lẻ là phổ biến. Mặt khác,
do địa hình dốc, hẹp, chia c
ắt mạnh, hay bị xói lở nên chi phí cho xây dựng,
phát triển, bảo dưỡng kết cấu hạ tầng trong vùng rất cao. Đây là nhân tố góp
phần làm giảm khả năng cạnh tranh của vùng trong việc thu hút các nguồn
vốn đầu tư phát triển, nhất là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.
VKTTĐ
miền Nam
Thu nhập bình quân đầu người/tháng 424.620đ 576.560đ 1.436.360đ
Tăng trưởng thu nhập so với năm 2000 61% 69% 59%
FDI thực hiện trên đầu người giai đoạn
2000-2005
16,67 USD 20,26 USD 115,8 USD
Vốn đầu tư tư nhân trong nước bình
quân đầu người giai đoạn 2000-2005
37,64 USD 72,50 USD 66,53 USD
Nguồn: theo Vũ Thành Tự Anh tại “Diễn đàn kinh tế miền Trung lần 1” - Hội An tháng 4 năm 2007
- Vì nhiều lý do khác nhau mà vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến
nay vẫn là vùng có kết cấu hạ tầng kỹ thuật yếu kém nhất trong ba vùng kinh
tế trọng điểm. Mặc dù, xét về tổng quát, điều kiện về giao thông có nhiều lợi
thế nhưng nếu đi vào cụ thể thì kết cấu hạ tầng cứng ở đây, cho đến nay vẫn
còn nhỏ lẻ, thiếu đồng b
ộ. Chẳng hạn, địa phương nào trong vùng cũng có sân
bay quốc tế, có cảng nước sâu nhưng chất lượng, sản lượng thiết kế của cảng
hàng không lẫn cảng biển đều thấp hơn so với hai đầu. Trong khi đó, hệ thống
giao thông đường bộ nội vùng xuống cấp, nhỏ hẹp… lại rất chậm đựơc cải
thiện. Đây là một bất lợi rất đ
áng kể đối với vùng trong cạnh tranh phát triển.
- Do cơ cấu dân số trẻ nên nguồn nhân lực ở vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung khá dồi dào nhưng chất lượng hiện đang kém hơn so với hai đầu
đất nước. Lao động của vùng phần lớn là lao động nông nghiệp - nông thôn,
23
có trình độ học vấn thấp, ít được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Thêm vào
đó, phong cách làm việc của phần đông người lao động còn lạc hậu, ý thức tổ
chức kỷ luật kém, khả năng làm việc tập thể, làm việc theo nhóm không cao.
Lai - khu kinh tế mở đầu tiên của Việt Nam, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo Cao
đẳng Đại học chỉ chiếm chưa đến 1%, trong khi nhu cầu về nguồn nhân lực
trình độ cao tại đây lại rất lớn. Lao động chất lượng cao đã ít nhưng trong
những năm vừa qua, nhiều người trong số đó có xu hướng muốn chuy
ển ra
khỏi vùng đến vùng kinh tế trong điểm phía Nam và đến thủ đô Hà Nội. Một
nghiên cứu gần đây cho thấy, vùng Duyên hải Nam Trung bộ (trong đó có
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung) có tỷ lệ lao động di chuyển khỏi vùng
24
cao nhất trong cả nước, đạt 30,5%, so với 23,5% của đồng bằng sông Cửu
Long và 22,4% của đồng bằng sông Hồng.
Mặc dù có tốc độ tăng trưởng GDP cao trong những năm gần đây
nhưng đến nay, quy mô kinh tế vủa vùng kinh tế trọng điểm miền Trung vẫn
rất nhỏ bé. Tính đến 2005, tỷ lệ đóng góp của vùng trong GDP của cả nước
mới chỉ đạt 5% (trong khi chỉ s
ố tương ứng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc
bộ là 21% và vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ là 36%), mức đóng góp của
vùng trong thu ngân sách của cả nước là 4,6%. Giá trị xuất khẩu bình quân
đầu người/năm mới chỉ đạt 149 USD năm 2005 (con số tương ứng của vùng
kinh tế trọng điểm Bắc bộ là 447 USD và của vùng kinh tế trọng điểm Nam
bộ là 1.467 USD). Về sả
n lượng công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung chỉ mới đóng góp 10%. Trong khi đó, hơn một nửa sản lượng công
nghiệp quốc gia do vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đóng góp, vùng kinh tế
trọng điểm phía Bắc đóng góp 37%.
Những nghiên cứu so sánh đó cho thấy, bên cạnh những thế mạnh và
thuận lợi, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có rất nhiều khó khăn, bấ
t lợi
trong quá trình cạnh tranh phát triển. Tất nhiên, những tiềm năng, lợi thế nếu
điểm trong đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiệp - dịch vụ nói riêng, phát
triển kinh tế - xã hội địa phương nói chung.
Hiện nay, tất cả các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung đều
đã có KCN. Nếu không kể các KCN đang xây dựng chưa đưa vào
vận hành, toàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung hiện nay có 19 KCN đã đi
vào hoạt động với tổng diện tích là 2.395 héc ta, chiếm 8,1% tổng diện tích
các KCN cả nước. Đó là một nỗ lực lớn của các địa phương trong vùng. Xét
về diện tích lấp đầy thì các KCN của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đạt
tỷ lệ cao nhất c
ả nước là 71% so với 57,7% của vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam và 53,9% của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
4
Về mặt lịch sử, việc xây dựng, phát triển các KCN ở Việt Nam nói
chung, ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nói riêng đã được hoạch định,
triển khai thực hiện trước cả việc quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm. Cụ
thể, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, với việc khởi
xướng đường lối đổi mớ
i, Đảng ta đã có những chủ trương ban đầu về việc
đổi mới cơ chế kinh tế, mở cửa nhằm thu hút các nguồn vốn, công nghệ từ
nước ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước.
Quá trình tổng kết thực tiễn, học tập kinh nghiệm phát triển KCN, khu chế
xuất ở nước ngoài đã dẫn đến hình thành đường lố
i, chính sách xây dựng, 4
Trần Ngọc Hưng. Xây dựng và phát triển KCN, khu kinh tế - kết quả đạt được trong năm 2006, những vấn đề đặt ra và
nhiệm vụ cần triển khai trong năm 2007. Tạp chí KCN Việt Nam số 1/2007