Tài liệu môn lý luận văn học - Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1954 và Văn học Việt Nam những năm đầu Đổi Mới - Pdf 13

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1954 gắn liền với hai sự kiện có ảnh hưởng căn
bản và sâu rộng đến mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội Việt nam: Cách mạng
tháng Tám và cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài suốt 9 năm. Văn học Việt Nam
thời kỳ này đi những bước đầu tiên để chuyển sang một giai đoạn mới với xu hướng
hiện thực xã hội chủ nghĩa
[1]
do Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương. Cách mạng
tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên ngôn độc lập nhưng
nền độc lập đứng trước những thách thức to lớn. Cũng như bối cảnh xã hội lúc ấy,
văn học vừa diễn ra xu hướng hội tụ, vừa tiếp tục sự phân hóa của các khuynh hướng
văn học
[2]
. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã mở
đầu cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm với Pháp. Trong thời kỳ này, văn học đã được
xây dựng để phục vụ cho cuộc chiến đấu của người Việt Nam mà hạt nhân là Việt
Minh. Văn hóa được định hướng theo phương châm do Đảng Cộng sản Việt Nam đã
xác định từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943
[3]
là Dân tộc - Khoa học - Đại
chúng còn đối với văn học thì làm cho xu hướng tả thực xã hội chủ nghĩa thắng
[4]
.
Trong kháng chiến chống Pháp, khẩu hiệu Kháng chiến hóa văn hóa - Văn hóa hóa
kháng chiến của Hồ Chí Minh cũng phản ánh mục tiêu và đi kèm với nó là phương
pháp chi phối văn hóa nói chung và văn học nói riêng trong giai đoạn ấy. Về phong
cách, để có thể kháng chiến hóa văn hóa, văn học phải nhằm đến đối tượng quần
chúng đông đảo mà chủ yếu là nông dân và do vậy văn học giai đoạn này được
hướng đến phong cách hiện thực, đại chúng.
Trong bối cảnh đó, những người sáng tác mà trong số họ có rất nhiều nhà thơ của
phong trào Thơ mới, những nhà văn hiện thực phê phán với không ít cây bút tài năng
băn khoăn với câu hỏi: viết cho ai? viết cái gì? viết như thế nào? Người ta im lặng,

[9]
; Hồ Phương có
Thư nhà. Tô Hoài đã khắc họa cuộc sống, con người miền núi với Truyện Tây Bắc
(gồm Mường Giơn, Cứu đất cứu mường và Vợ chồng A Phủ). Người Tây Nguyên
sống và đánh Pháp được Nguyên Ngọc miêu tả trong Đất nước đứng lên
[10]
. Võ Huy
Tâm là nhà văn đầu tiên viết về đề tài người công nhân
[11]
với Vùng mỏ. Những gì
đang diễn ra ở nông thôn vùng đồng bằng cũng như hình ảnh người nông dân hiện ra
trong các tác phẩm Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Làng (Kim Lân)
Một mảng đề tài nữa cũng đã có nhiều truyện, ký là cuộc cải cách ruộng đất do Đảng
Lao động Việt Nam chủ trương. Có thể điểm qua: Địa chủ giết hại gia đình tôi
(Nguyễn Thị Chiên, Vũ Cao ghi), Vạch khổ (nhiều tác giả), Gợi khổ (Trọng Hứa),
Bóng nó còn bám lấy xóm làng (Nguyễn Tuân), Thửa ruộng vỡ hoang (Xuân
Trường) Những truyện, ký trong mảng đề tài này chủ yếu phục vụ cuộc đấu tranh
giai cấp giữa nông dân và địa chủ và sau này ít được nhắc đến. Từ sau năm 1950,
xuất hiện một loạt bản tự thuật của những người được phong tặng danh hiệu do thành
tích trong chiến đấu và lao động tập hợp thành Truyện anh hùng chiến sỹ thi đua
[12]
.
Những truyện, ký này đã được trao Giải ngoại hạng trong Giải thưởng văn nghệ
1951 - 1952 tuy vậy chất lượng văn chương không cao. Trong một bài viết có tính
chất tổng kết (bài Tám năm văn nghệ kháng chiến, Văn nghệ số 46, tháng 12 năm
1953), Hoài Thanh cho rằng những truyện, ký đó đã cho chúng ta thấy một hình ảnh
về anh hùng công nông nhưng mới kể chuyện một cách đơn giản, còn sơ lược, chưa
đi sâu vào diễn tả những cảnh sống và phân tích tư tưởng
[13]
.

lúa), Anh Thơ (Kể chuyện Vũ Lăng), Tế Hanh (Người đàn bà Ninh Thuận), Chế Lan
Viên (Bữa cơm thường trong bản nhỏ), (Quang Dũng (Đôi mắt người Sơn Tây),
Nông Quốc Chấn (Dọn về làng), Lưu Trọng Lư (Ngò cải đơm hoa, Chiến khu Thừa
Thiên, ), và Tố Hữu với Việt Bắc. Mảng đề tài thứ hai là hình ảnh người lính Vệ
quốc quân với Chính Hữu (Đồng chí), Hồng Nguyên (Nhớ), Vĩnh Mai (Lên Cấm
Sơn), Hoàng Lộc (Viếng bạn), Tố Hữu (Việt Bắc), Quang Dũng (Tây tiến) Người
lính từ làng quê nghèo khó nước mặn, đồng chua, đất cày lên sỏi đá rồi chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh với bao gian khổ và tất nhiên cả sự hy sinh. Tuy vậy còn ít thơ
viết về những trận đánh; đời sống chiến trường chưa được biểu hiện rõ nét. Có thể
nói rằng người lính được miêu tả gián tiếp nhiều hơn là trực tiếp.
[15]
. Hình ảnh người
lính gợi nhiều cảm mến ở người đọc nhưng ngoài tinh thần áo vải chân không đi lùng
giặc đánh, những khía cạnh tâm lý khác của họ hầu như chưa được phản ánh, các
nhà thơ chưa khai thác vào bề sâu tâm trạng của con người trong chiến tranh
[16]
. Bên
cạnh đó những nhà thơ cũng diễn đạt những suy nghĩ, tình cảm của mình về cuộc
Cách mạng tháng Tám, về lòng yêu nước, về đất nước, về cuộc chiến đấu đang diễn
ra: Xuân Diệu có Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông, Dưới sao vàng; Chế Lan Viên có
Gửi các anh, Nguyễn Bính có Ông lão mài gươm, Đồng Tháp Mười, Trần Mai Ninh
có Nhớ máu, Tình sông núi, Nguyễn Đình Thi có Đất nước Những năm kháng
chiến chống Pháp bắt đầu xuất hiện những bài thơ ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh như
Sáng tháng Năm (Tố Hữu); Ảnh Cụ Hồ, Thơ dâng Bác (Xuân Diệu) hay Đêm nay
Bác không ngủ (Minh Huệ). Thơ trong thời kỳ này hầu như không có những tác phẩm
về tình yêu trong chiến tranh, bài thơ Không nói của Nguyễn Đình Thi, một trong số
những bài thơ hiếm hoi về đề tài đó chưa tạo được sự thông cảm của dư luận đương
thời
[17]
hay Màu tím hoa sim của Hữu Loan cũng vậy. Trong giai đoạn đầy biến động

được một trữ lượng dồi dào những kinh nghiệm sống thấp thoáng ở phía sau. Truyện
ngắn mà nhiều khi có sức chứa của một tiểu thuyết lớn. Tham vọng khái quát của nhà
văn luôn được thể hiện thông qua cách ông sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác
nhau, nhưng tham vọng đó không hề khiến ông quên đưa ra những đường nét chạm
khắc rạch ròi về nhân vật, bối cảnh. Sự hứng thú quan sát, miêu tả ngôn ngữ, tâm lí
nhân vật, sự vận dụng đầy ý thức ngôn ngữ Nam Bộ trong trần thuật có mối liên hệ lô
gích với động cơ sáng tạo này. Ngoài ra, việc học tập kinh nghiệm của các nhà tiểu
thuyết hiện đại phương Tây trên vấn đề tái hiện dòng ý thức của nhân vật cũng được
chú ý đúng mức, tạo nên những trang viết xuất thần, hiếm quý (đoạn miêu tả dòng
hồi tưởng, suy nghĩ của nhân vật Việt khi bị thương nằm lại trên trận địa là một ví dụ
cụ thể, điển hình).
Tuy là một truyện ngắn hoàn chỉnh, có cấu trúc chặt chẽ, nhưng rất có thể, với
chính Nguyễn Thi, Những đứa con trong gia đình vẫn còn mang nhiều tính tư liệu.
Phải chăng, trong khát vọng sáng tạo của nhà văn, đây mới chỉ là bước chuẩn bị cho
một công trình đồ sộ hơn, xứng tầm với cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc mà ông
mong muốn được hoàn thành. Cảm nhận được điều đó, độc giả ngày nay không thể
không thấy tiếc nuối khi nghĩ về sự ra đi quá sớm của Nguyễn Thi - một hiện tượng
"bùng nổ về tài năng" (đánh giá của Nguyên Ngọc) trong thế hệ các nhà văn trưởng
thành sau cách mạng tháng Tám.
II. tiếp cận văn bản
Nguyễn Thi là một nhà văn - chiến sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp sáng tác đã để lại
nhiều bài học lớn cho cả một thế hệ nhà văn thời chống Mĩ. Ông đã hi sinh ở mặt trận
Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân 1968. Trong di sản văn học viết về chiến tranh
của ông, có tác phẩm đã hoàn chỉnh, có tác phẩm mới ở dạng phác thảo nhưng tất
thảy đều ngồn ngộn chất sống và giàu tính thẩm mĩ chứng tỏ tác giả của nó là một tài
năng văn học lớn.
Từng sống ở Nam Bộ trước Cách mạng và sau này lại tham gia chiến đấu trên
chiến trường ấy, Nguyễn Thi rất hiểu con người và cảnh vật nơi này. Có thể nói ông
là nhà văn của người nông dân đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc chiến tranh
chống Mĩ ác liệt. Ông đã trút tấm huyết xây dựng họ thành những nhân vật văn học

một gia đình, nó cho thấy truyền thống và sự tiếp nối. Nó là một hình thức giáo dục
lòng tự hào về truyền thống mà chú Năm rất có ý thức xây dựng cho thế hệ con cháu.
Chú nói : "Chừng nào bây trọng trọng (lớn lớn) tao giao cuốn sổ cho chị em bây".
Câu nói ấy cũng rất mực tự nhiên mà chứa đầy ý nghĩa. Chính thế hệ mới sẽ là người
viết tiếp những trang mới, vẻ vang cho truyền thống. Không thể nói mọi chiến công
mà Chiến và Việt lập được lại không liên quan tới cuốn sổ gia đình này. Kể lại sự
việc nhưng không bao giờ quên khám phá chiều sâu của nó chính là thuộc tính bản
chất của ngòi bút Nguyễn Thi.
Nguyễn Thi rất có biệt tài dựng người, dựng cảnh. Vốn sống của ông phong
phú khiến cho các chi tiết mà ông lẩy ra bao giờ cũng như giẫy trên trang sách, rất
sinh động. Nhiều nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua trong truyện nhưng đã kịp để lại
một ấn tượng khó quên, cả về hành động lẫn ngôn ngữ. Chú Năm của Chiến, Việt
thật dễ nhớ với "giọng hò đã đục và tức như gà gáy" ("Chú hay kể sự tích của gia
đình và cuối câu chuyện, thế nào chú cũng hò lên mấy câu"). Giọng hò của người đàn
ông trung niên này tuy không hay nhưng chứa đựng một cái gì đó thật tha thiết khiến
cho chị em Chiến, Việt tuy thấy buồn cười nhưng vẫn rất cảm động. Theo như lời kể
trong tác phẩm, ông ít nói, nhưng những câu nói của ông được hai chị em nhân vật
chính khắc ghi trong tâm khảm. Nó tương tự như những châm ngôn kết tinh của cả
một đời từng trải sông nước, lăn lộn với ruộng vườn và thuỷ chung một dạ với cách
mạng. Bên cạnh nhân vật chú Năm, hình ảnh người má của chị em Chiến, Việt cũng
hiện lên với những nét chạm khắc rạch ròi. Đó là người đàn bà xốc vác, gan dạ, giỏi
thu xếp cả việc chung lẫn việc riêng. Nguyễn Thi đã chọn được nhiều chi tiết thật tài
tình để xây dựng chân dung con người ấy. Nào là chuyện bà đi đấu tranh về bị cà
nông giặc bắn đuổi theo, một trái rơi bịch trước mặt, không nổ, "bà đén dòm dòm rồi
bỏ luôn vào rổ, cắp về" ; nào chuyện bà bế con, dắt con đi đòi đầu chồng từ ấp trong
tới ấp ngoài, vượt qua sông về tới quận ; nào chuyện bà tần tảo sớm hôm làm lụng
nuôi con, miệng nói, tay làm, chưa dứt câu dặn con mà chân đã "đẩy xuồng ra tuôt
giữa sông" Đặc biệt, chi tiết bà đối mặt với quân thù hai bàn tay to bản "phủ lên đầu
đàn con đang nép dưới chân" hoặc "dùa đàn con lại đàng sau tránh đạn" đã cho ta
hình dung đặc biệt rõ nét hình ảnh một người mẹ nơi Thành đồng Tổ quốc những

đất có mày, cả khu rừng này chỉ còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn
được mày. Nghe súng nổ, các anh tao sẽ chạy tới đâm mày ! Mày chỉ giỏi giết gia
đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy". Có bao nhiêu là quyết tâm, bao
nhiêu là niềm trìu mến với đồng đội, bao nhiêu là sự coi thường, khinh bỉ kẻ thù thể
hiện qua lời độc thoại ấy. Quả thực, Việt đã là một người lính chững chạc trong khi
còn mang đầy đủ nét thơ ngây, trong sáng, đáng yêu của một cậu bé vừa đến tuổi
thành niên.
Nhìn chung, trong khi xây dựng nhận vật, Nguyễn Thi rất quan tâm đến việc
cá thể hoá. Nhân vật nao cũng có những nét riêng, độc đáo hiện lên mồn một trước
mắt độc giả. Chú Năm nói khác má Việt và Việt nói khác chị Chiến. Lời nói của ai
thể hiện rõ tính cách người đó. Nhưng mặt khác, nhà văn cũng có ý thức nhấn mạnh
điểm giống nhau giữa họ. Chẳng thế mà ông nhiều lần qua lời chú Năm, qua lời Việt
so sánh Chiến với người má của cô, và để người má ấy nói về Việt : "Đó, lại giống
cái thằng cha nó rồi !". Nói lên điểm giống nhau ở đây tức là nói đến nét bền vững
trong truyền thống một gia đình giàu tinh thần cách mạng, có lòng căm thù giặc sâu
sắc, sống rất mực tình nghĩa thuỷ chung. Đây chính là điểm nút sẽ giúp ta lí giải được
sức mạnh tinh thần nào đã giúp các nhân vật vượt qua được những thử thách lớn lao,
gay gắt đến như vậy. Mở rộng ra, đấy cũng là điểm nút khiến cho mọi chi tiết, sự việc
được mô tả trong tác phẩm quy tụ lại, thống nhất ở tinh thần chung là khẳng định
những phẩm chất đẹp đẽ của người dân Nam Bộ trong chiến tranh chống Mĩ cứu
nước. Nhiều câu nói thốt ra từ miệng chú Năm hay từ miệng má Việt, vì vậy, có tầm
khái quát triết lí, mang âm vang triết lí của cả một dân tộc bất khuất, dù nó được biểu
hiện ra trong một hình thức rất mực giản dị - giản dị đến bất ngờ (chẳng hạn câu của
má Viêt : "người chết có cái vui của người chết, nếu không, người ta sanh con ra làm
gì ?"). ở đây, có thể nhận ra một đặc điểm trong sáng tác của Nguyễn Thi : tính triết lí
rất cao nhưng đấy là triết lí của chính cuộc đời - một cuộc đời được tái hiện sinh động
qua những biểu hiện mang tính bản chất. Ta có thể chứng minh thêm cho điều vừa
nói bằng vào chi tiết "cực đắt" sau đây mà nhà văn đã đưa vào cuối tác phẩm : chi tiết
hai chị em Chiến, Việt khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm : "Chị Chiến đứng
ra giữa sân, kéo cái khăn trên cổ xuống, cũng xắn tay áo để lộ hai bắp tay tròn vo sạm

tới hành trang trong chiếc ba lô ngày nhập ngũ, ngày nhập ngũ là ngày má Việt vừa
mất, thế là nỗi nhớ "chuyển vùng" sang hình ảnh của người má thân yêu. Việt tỉnh
dậy lần thứ tư trong tiếng súng thôi thúc. Sự thôi thúc ấy khiến Việt liên hệ tới ý nghĩ
thôi thúc ngày đi bộ đội, liên hệ chuyện chị em giành nhau nhập ngũ trước, sau đó là
chuyện mang bàn thờ má đi gửi bên nhà chú Nhìn chung nhà văn nắm rất chắc quy
luật diễn biến tâm lí con người. Ông đã khéo léo tạo cho tác phẩm một hình thức kết
cấu độc đáo tương đồng với "kết cấu" của những giấc mơ chập chờn, từ đó cứ mở
rộng dần đối tượng được miêu tả và đi mỗi lúc một sâu vào đời sống tâm hồn của
nhân vật.
Trong khi làm sáng tỏ tâm lí nhân vật, nhà văn đã sử dụng một ngôn ngữ trần
thuật đặc biệt phù hợp. Đấy là ngôn ngữ của chính nhân vật nói về mình và kể về
người khác, mặc dù bề ngoài có vẻ là ngôn ngữ khách quan của người trần thuật.
Điều đó thể hiện ngay ở cách xưng hô rất đỗi thân thương, gắn bó : "Việt" (chứ
không phải là "anh" hay "chú bé"), "chị Chiến" (chứ không phải là "cô", "chị"), "chú
Năm" (chứ không phải là "ông Năm"), "má" (chứ không phải là "má Việt") Điều đó
cũng thể hiện ở màu sắc địa phương của lời trần thuật (chưa kể đến lời nói thực thụ
của nhân vật): "Chú ít nói, nhưng đã nhậu vào ba hột là chú nói tới", "Thím Năm vừa
khóc vừa kể thôi là kể", "Hai bên giáp mặt, ba cười hề hề, nhưng má chẳng thèm
dòm, hai mắt hứ một cái "cóc", rồi đi thẳng" Thật khó kể hết được những ví dụ sinh
động như thế. Nhiều người từng biểu dương Nguyễn Thi rất thạo ngôn ngữ Nam Bộ.
Cần phải thấy rằng cách sử dụng ngôn ngữ của ông ở đây trước hết có tác dụng làm
nổi bật tâm lí những con người sống ở vùng đất ấy, sau nữa mới gọi dậy không khí
của một vùng, của một thời
Những đứa con trong gia đình thể hiện khá rõ tài năng của Nguyễn Thi trên
nhiều mặt : khả năng khái quát cao, khả năng dựng cảnh, dựng người và mô tả tâm lí
sâu sắc, khả năng vận dụng ngôn ngữ Nam Bộ đầy linh hoạt, biến hoá và cả chất triết
lí rất riêng, toát lên từ chính hiện thực chứ không phải từ những lời trữ tình ngoại đề
của tác giả. Tất nhiên, những phương diện tài năng ấy không biểu lộ riêng rẽ. Chúng
hoà lẫn vào nhau hết sức tự nhiên đưa đến sức thuyết phục lớn cho tác phẩm, làm cho
độc giả khi đọc tác phẩm không còn thấy đó là văn mà chỉ thấy đó là cuộc đời.

hùng cách mạng.Văn học ở Việt Nam hôm nay về cơ bản sự tiếp tục của dòng văn
học cách mạng có mầm mống từ những năm 30 của thế kỷ này, lớn lên trong kháng
chiến chống xâm lược Pháp, phát triển ở miền Bắc từ 1954 và tồn tại trong phạm vi
cả nước sau khi Việt Nam thống nhất. Đặc điểm của văn học cách mạng trong suốt
mấy chục năm qua sẽ giúp chúng ta nhận thức được đầy đủ và chính xác hơn diện
mạo của văn học Việt Nam hôm nay, nhất là những nét đổi mới của nó. Song cho đến
nay, phân tích và đánh giá để tìm ra những đặc điểm của văn học cách mạng và một
số đặc điểm của văn học cách mạng từ 1945 đến đầu những năm 80:
- Trước hết đó là văn học phục vụ chính trị. Văn học được xem như một mặt trận
và nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Những vấn đề chính trị trở thành nội dung trực
tiếp của tác phẩm và nhà văn có nghĩa vụ tuyên truyền những quan điểm chính trị,
những nhiệm vụ của công tác chính trị trong sáng tác của mình. Nhưng nhờ truyền
thống gắn bó với đời sống, nhờ sức mạnh của lý tưởng giải phóng dân tộc và thống
nhất đất nước, nhờ sự hấp dẫn của hình ảnh về một xã hội tương lai, văn học đã tích
cực tham gia vào hoạt động chính trị và đã tạo ra được những tác phẩm chân thành,
cảm động, góp phần vào thắng lợi của kháng chiến. Do việc phục vụ chính trị, văn
học đồng thời cũng phục vụ công nông binh, lấy công nông binh làm đối tượng miêu
tả, đối tượng tuyên truyền, coi công nông binh là người đọc duy nhất, quan trọng
nhất, người thẩm định giá trị của mọi sáng tạo nghệ thuật. Quan điểm này nhiều khi
bị vận dụng một cách đơn giản và thô thiển. Tuy vậy nó hết sức lợi hại trong việc
tuyên truyền chính trị và nhờ bắt gặp bản năng yêu thích văn chương của người Việt
Nam, nó đã kích thích được một phong trào đọc sách rất rộng rãi, làm cho văn học
càng có điều kiện đi sâu vào đời sống con người, nhất là quần chúng lao động, các tác
phẩm của văn học cách mạng trước hết vào việc ghi chép những thành tích, những
chiến công, những hành động tốt đẹp của con người trong lao động, chiến đấu, tức là
cuộc sống mới và con người mới. Đó là một yêu cầu quan trọng của phương pháp
hiện thực xã hội chủ nghĩa đó là nguyên tắc sáng tác cơ bản của các nhà văn, phương
pháp sáng tác này là quan niệm về bản chất của hiện thực trong xã hội Việt Nam, ở
đó cái tốt, người tốt chiếm ưu thế, chủ nghĩa anh hùng là nét cơ bản của hiện thực,
văn học chỉ cần phản ánh hiện thực, ghi chép trung thực đời sống cũng đã đủ, cũng

chương, chủ trương. Truyền thống này đã bắt đầu được cách tân trong văn học Việt
Nam. Bên cạnh tác dụng tuyên truyền chính trị và một số thành công nhất định về
nghệ thuật, nguyên tắc tính dễ hiểu và tính rõ ràng về tư tưởng đã tạo điều kiện cho
bệnh giản đơn được thể hiện qua nhiều tác phẩm trong giai đoạn văn học trên, trong
suốt quá trình vận động của văn học cách mạng Việt Nam.
Cơ hội ấy đối với sự phát triển của văn học Việt Nam chính là công cuộc đổi mới
do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng vào năm 1986. khẩu hiệu đổi mới đã thổi
một luồng gió đầy sinh khí vào đời sống xã hội Việt Nam, kích thích những cải cách
kinh tế và khơi dậy những suy nghĩ mới, những tìm tòi, sáng tạo trong giới trí thức,
văn nghệ sĩ là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật hưởng ứng hết
sức mạnh mẽ đường lối đổi mới và thực thi ngay tư tưởng đổi mới trong sáng tác,
trong tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, văn học cũng tự biến đổi
trong công cuộc đổi mới, có thêm những tác giả và tác phẩm mới, có những đặc điểm
về phong cách và nội dung khác với thời kỳ trước. Nội dung bao trùm: Hình ảnh
người lao động, những đổi thay của con người trong bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội với cảm hứng lãng mạn, lạc quan…Nền tảng của mọi sự đổi mới trong văn học
thời kỳ này bắt nguồn từ sự tự ý thức của văn học, tức là giác ngộ của văn học về vai
trò của nó trong xã hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, ý nghĩa của nó đối với con
người. Giờ đây văn học nghệ thuật không còn được hiểu đơn giản chỉ như là công cụ
của chính trị, là vũ khí của công tác tư tưởng, là phương tiện tuyên truyền, giáo dục
quần chúng, mà là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa”, “là
bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân,
thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế
hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội… ” Nhận thức ấy đã giúp
nhà văn hiểu rõ hơn đặc trưng của văn học cũng như vị trí và sứ mạng riêng của mình
đối với cuộc sống, giúp nhà văn thực hiện miêu tả số phận của con người, mang đến
cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng như sự từng trải, làm phong phú
thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề
của xã hội đang diễn ra hay đã lùi vào quá khứ, từ đó rút ra những bài học, những tư
tưởng mang tính khái quát, đạo đức, nhân sinh và nó mang ý nghĩa chính trị lớn lao.

mạng chủ yếu nói về cái chung, chỉ xem xét cái riêng xuất phát từ quyền lợi chung
của giai cấp, của dân tộc, thành ra vấn đề đời thường, số phận riêng của con người bị
chìm đi, thậm chí đôi khi còn bị xem như cái gì xa lạ với một nền văn học lành mạnh.
Điều này giải thích vì sao khi quay lại với chủ đề này, văn học được đánh giá như đã
có một hành động đổi mới. Sự quan tâm đến con người, đến đời thường đã làm thăng
bằng nền văn học nhiều năm qua thiên về cái vĩ đại, cái chung. Sau bao nhiêu năm
cách mạng và chiến tranh, tập cho con người quen với cuộc sống bình thường cũng
bổ ích như giúp họ nhận ra vẻ đẹp của những cái đơn giản ở xung quanh, một công
việc mà hình như chỉ riêng nghệ thuật là được giao cho chức phận để thực hiện. Cùng
với điều đó, việc đi sâu vào thế giới tinh thần của con người, vào quá trình tự ý thức
của nó đã góp phần củng cố thêm sự hình thành con người cá nhân trong xã hội Việt
Nam, làm cho văn học thời kỳ này đứng cao hơn văn học trước 1945, khi mà ở đó
vấn đề tự do cá nhân chủ yếu chỉ mới đặt ra trong phạm vi tự do tình cảm của con
người.
Điều dễ dàng nhận thấy và được dư luận chung thừa nhận là trong văn học những
năm gần đây đã xuất hiện một số cây bút mới với lối viết thực sự khác trước, người ta
đánh giá cao tài năng nghệ thuật của tác giả, những tác phẩm mới mẻ, tính chất mới
mẻ này bộc lộ ở nhiều mặt: sự thay đổi về đề tài, sự chuyển trọng tâm từ “con người
mới” sang con người đời thường, sự quan tâm đến cái bi, sự xuất hiện của những
hình tượng dị dạng, sự chú ý đến các quá trình ý thức bên trong, việc sử dụng các
huyền thoại dân gian, khả năng từ bỏ phong cách ngôn ngữ chính trị – hành chính
hay sử dụng nó dưới hình thức “nhại” v.v… Những cái vừa kể trên đây rất quan
trọng, song chúng chỉ là những biểu hiện cụ thể, những yếu tố có tính chất bộ phận.
Cần phải chỉ ra những đặc điểm cơ bản hơn, gắn liền và chi phối tất cả các yếu tố
trên.
Đó chính là những vấn đề thi pháp trực tiếp bắt nguồn từ sự biến đổi của ý thức
nghệ thuật đang chuyển từ quan niệm về văn học như hình thức giáo dục tuyên truyền
sang quan niệm về văn học như hoạt động sáng tạo, nhận thức và tác động vào cuộc
sống, mang lại sự thích thú cho con người. Biến chuyển này diễn ra rõ rệt nhất lần
đầu trong văn học Việt Nam, với sự xuất hiện của các tác phẩm văn học hiện thực và

nghệ thuật và vì vậy nó cũng trở nên đa nghĩa hơn. Người đọc có thể tiếp cận hình
tượng từ nhiều phía, có thể rút ra những kết luận khác nhau từ một tác phẩm. Điều
này không phải là dễ dàng đối với số đông công chúng đã nhiều năm quen với loại
tác phẩm có chủ đề tư tưởng rõ ràng, với loại hình tượng không mang tính “biểu
tượng hai mặt”.
Tính từ 1985, văn học Việt Nam đã thực sự có một giai đoạn phát triển mới. Đời
sống văn học phong phú và sôi động hẳn lên, số lượng sách báo in ra, kể cả sách dịch
và sáng tác trong nước, tăng hơn trước đây rất nhiều. Đặc biệt đã xuất hiện thêm một
số nhà văn có tiếng vang quốc tế với những tác phẩm được trao giải thưởng ở nước
ngoài và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Giai đoạn văn học này đang diễn
ra, vì vậy khó có thể nói về số phận của nó một cách quyết đoán. Tuy nhiên đã xuất
hiện những dấu hiệu cho thấy nó đang phải đương đầu với những thử thách lớn.
Song dù chọn lối đi và giải pháp nào, sứ mạng của văn học Việt Nam hôm nay
cũng rất rõ: nó phải thực sự trở thành một hoạt động sáng tạo độc lập, tích cực tham
gia vào quá trình đổi mới và dân chủ hóa xã hội bằng cách riêng của mình, làm phong
phú thêm đời sống tinh thần và nhận thức con người về thế giới và về chính mình,
mang đến cho mỗi con người tình yêu cái đẹp, sự rung động trước cuộc đời, lòng quý
trọng và xót thương đồng loại. Trong bối cảnh của một thế giới mà lý trí đang lấn át
tình cảm, sự phát triển của các phương tiện truyền thông lại có nguy cơ làm tê liệt ý
thức sáng tạo của cá nhân, văn học vừa phải tự mình tồn tại như một đối trọng, giúp
con người có thể sống hạnh phúc trong thế giới ấy, đồng thời phải gợi ra con đường
phát triển tối ưu, chỉ ra những giá trị đích thực mà con người phải bồi đắp và gìn giữ
trên con đường đi tới tương lai. Văn học Việt Nam hôm nay phải vươn lên đạt tới
trình độ đó bằng những tác phẩm có giá trị thẩm mỹ – nghệ thuật cao. Những tác
phẩm như vậy đã bắt đầu xuất hiện. Và đó chính là những sợi dây nối liền văn học
Việt nam với văn học thế giới, là dấu hiệu nói lên sự thay đổi, sự trưởng thành và
bước đầu hòa nhập của văn hóa Việt Nam vào cộng đồng nhân loại./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status