TIỂU LUẬN:
Vận dụng một số phương pháp thống kê phân
tích hoạt động huy động vốn của Ngân Hàng
Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam giai đoạn 2003-
2008 và dự đoán quy mô huy động vốn 2010
LỜI MỞ ĐẦU
Vốn là cơ sở, tiền đề cho mọi hoạt động kinh doanh sản xuất nói chung, ở Việt
Nam hiện nay vốn đang trở thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và phát
triển nền kinh tế đất nước.Tuy nhiên để huy động được khối lượng vốn lớn là một thách
thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với hệ thống ngân hàng
thương mại nói riêng.Trong điều kiện hiện nay thị trường chứng khoán nước ta phát triển
chưa tương xứng với nhu cầu vốn rất lớn của nền kinh tế thì quá trình nhận và điều
chuyển vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương
mại. Ngân hàng thương mại là nơi tích tụ, tập trung, khơi dậy và động viên các nguồn lực
cho sự phát triển kinh tế đất nước ta. Thực tế đã cho thấy hơn 80% số lượng vốn huy
động được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy việc
tăng cường công tác huy động vốn, đảm bảo chất lượng và số lượng luôn luôn và vấn đề
quan tâm hàng đầu trong quá trình hoạt động của bất cứ một ngân hàng thương mại nào.
Là thành viên trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Đầu Tư và Phát
Triển Việt Nam phải chung sức thực hiện nhiệm vụ chung của toàn ngành, làm thế nào để
huy động vốn đáp ứng sự nghiệp Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước.
ngân hàng…Nguồn vốn huy động trong nước vô cùng quan đối với mỗi nền kinh tế bất
kỳ vì nó tận dụng được các nguồn lực trong nước phát triển đất nước và nhằm đảm bảo
sự kiểm sóat trong nền kinh tế quốc dân. Vốn huy động trong nước những năm qua ở
nước ta không ngừng tăng lên, tăng cả về chất lượng lẫn số lượng nó đã ngày càng góp
phần giải quyết nhu cầu về vốn rất lớn ở nước ta và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước.
Nguồn vốn huy động nước ngoài được thực hiện thông qua viện trợ của nước ngoài
ODA, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta FDI, bán trái phiếu chính phủ …Nguồn
vốn huy động từ nước ngoài ở nước ta trong những năm qua không ngừng tăng lên nó
góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho đầu tư xây dựng của đất nước.
Nguồn vốn huy động của Việt Nam trong những năm qua không ngừng tăng cao
giúp nước ta đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế đất nước. Nhờ vào nguồn vốn huy
động trong nước và nước ngoài đã giúp kinh tế nước ta trong những năm qua có tốc độ
phát triển tương đối cao để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
1.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thương mại
1.2.1 Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số
tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiếu khấu và làm phương tiên thanh toán.
1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò
là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân
hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và
hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp
phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay:
Ngân hàng với tư cách là một tổ chức trung gian tín dụng đã làm tăng thu nhập
cho người tiết kiệm, từ đó khuyến khích họ tiết kiệm đồng thời cũng khuyến khích các
Để phát triển sản xuất kinh doanh các đơn vị kinh tế cần phải có một số lượng
vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác, khi số vốn mà
của các đơn vị kinh tế này không đủ để thực hiện cho đầu tư phát triển các đơn vị này cần
phải đi vay. Bằng vốn huy động được trong xã hội thông qua hoạt động tín dụng, Ngân
hàng thương mại đã cung ứng vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn kịp
thời cho quá trình sản xuất. Nhờ hoạt động của hệ thống NHTM mà đặc biệt là họat động
tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc
công nghệ để tằng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế và tăng chất lượng sản phẩm cho
xã hội.
Hai là: NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô
Cùng với sự vận động của nền kinh tế hệ thống ngân hàng cũng được chia ra làm
hai cấp: Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng thương mại. NHTM được Ngân hàng nhà
nước cung cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như một công cụ để quản lý hoạt động tiền
tệ, điều chỉnh chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết Ngân hàng, Ngân hàng dẫn
dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống
từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thông qua cung tín
dụng cho các ngành trong nền kinh tế. NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập
và phân chia vốn của thị trường, đỉều khiển chúng một cách có hiệu quả.
Ba là: NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh
tế như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu,quy luật cạnh tranh…Sản xuất phải trên cơ sở
đáp ứng nhu cầu cuả thị trường, sự thỏa mãn như cầu của thị trường trên mọi phương
diện không chỉ gía cả, chất lượng, mẫu mã, mà còn đỏi hỏi có sự thỏa mãn trên phương
diện thời gian và địa điểm. Để đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường doanh nghiệp phải
không ngừng cải tiến máy móc thiết bị hiện đại và tiên tiến, năng cao chất lượng, tăng
năng xuất…những hoạt động này của doanh nghiệp cần một số lượng vốn lớn nhiều lúc
nó vượ quá khả năng tài chính của công ty. Vậy để giải quyết vấn đề khó khăn đó doanh
nghiệp tìm đến ngân hàng vay vốn để đầu tư cho phát triển kinh doanh,sản xuất. Thông
qua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị
được diễn ra thường xuyên và liên tục.
1.3.2. Tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hệ thống NHTM
Cũng như các ngành nghề kinh doanh khác, để cho hoạt động kinh doanh diễn ra
thường xuyên và liên tục thì cần phải có tư liệu sản xuất. Ngân hàng thương mại là doanh
nghiệp kinh doanh tiền tệ trong đó tiền là nguyên liệu chính trong sự tao ra sản phẩm
ngân hàng, là một thứ nguyên liệu độc tôn khong thể thiếu. Hoạt động tìm kiếm tư liệu
sản xuất của Ngân hàng là hoạt động huy động vốn. Do đặc trưng của nguồn vốn huy
động luôn là một lượng tồn khoản rất lớn và ngân hàng sử dụng lượng tồn khoản này để
phục vụ cho qúa trình hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy hoạt động của Ngân hàng
phục thuộc rất vào tình hình huy động vốn của chính Ngân hàng đó.
Thứ nhất: Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của các Ngân hàng
Nguồn vốn khả dụng của Ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng hay
thu hẹp tín dụng. So với các ngân hàng nhỏ thì các ngân hàng lớn có các khoản mục về
đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng tín dụng cũng lớn hơn, trong khi đó
các Ngân hàng nhỏ có giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong một khu vực nhỏ hay
một quốc gia nhỏ. Nếu khả năng vốn của Ngân hàng lớn thì Ngân hàng có thể mở rộng
quy mô (về quy mô tín dụng, thời gian tín dụng…) và sẵn sang đáp ứng nhu cầu của
khách hàng về các dịch vụ của Ngân hàng.
Thứ hai: Nguồn vốn huy động giúp Ngân hàng chủ động trong kinh doanh
Một ngân hàng không thể chỉ hoạt động với nguồn vốn tự có và vốn đi vay vì
nguồn vốn tự có của Ngân hàng chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn, còn vốn đi
vay thì Ngân hàng phụ thuộc vào đối tượng cho vay, thời gian cho vay, số lượng và các
chi phí khác do đó Ngân hàng có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh. Ngược lại nếu Ngân
hàng có lượng vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động của mình, nguồn vốn lớn
làm tăng khả năng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như chủ động đa dạng hóa hình
thức và phương thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro và tăng lợi nhuận, phục vụ cho mục
tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lời.
Thứ ba: Vốn huy động giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình trong lòng thị trường
Để đảm bảo cho việc thu hút khách đến quan hệ giao dịch với mình thì Ngân hàng
tiếp đối với ngân hàng.
1.3.3.2.Mục đích của việc huy động vốn của NHTM
Mục tiêu trong công tác huy động vốn là cơ sở cho việc đề ra kế hoạch và chiến
lược về nguồn vốn của ngận hàng. Nguồn vốn của Ngân hàng khá đa dạng, bao gồm
nhiều thành phần một số thành phần không ổn định nhưng có khả năng giao dịch cao và
lãi suất thấp, bên cạnh đó lại có các thành phần ổn định nhưng lãi suất lại cao. Do đó chi
phí vốn, cơ cấu vốn, thời hạn của nguồn vốn là yếu tố quan trong đánh giá chất lượng của
nguồn vốn và là mục tiêu của các ngân hàng đều hướng tới. Đây là yếu tố để thực hiện
mục tiêu vừa an toàn vừa đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Một là: Tìm kiếm nguồn vốn rẻ
Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của Ngân hàng. Trong
đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn và trả lãi trái phiếu và kỳ
phiếu Định kỳ Ngân hàng lập biểu về số dư và lãi suất tương ứng để xác định vốn huy
động bình quân và tính toán chi phí trả lãi.
Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thường xuyên và quan trọng của các Ngân
hàng, với mỗi sự thay đổi về lãi suất hay cơ cấu nguồn vốn đều có thể làm thay đổi chi
phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng. Việc tính chi phí của từng
nguồn vốn cụ thể cho phép các nhà quản lý xác định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay
đổi lãi suất hay không, thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn
tăng thêm hay không.
Tính chi phí một cách chính xác cho phép Ngân hàng chủ động lựa chọn những
nguồn vốn khác nhau và đảm bảo doanh thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập
mong đợi.
Hai là: Tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp.
Một Ngân hàng có chất lượng huy động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ
cấu vốn cân đối, tránh cho Ngân hàng rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong
điều kiện môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi.
Trong quá trình hoạt động của mình Ngân hàng phải dự đoán xu hướng biến đổi
cơ cấu nguồn vốn huy động. Yếu tố này cũng rất quan trọng trong việc xây dựng kế
phương pháp khác nhau để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình vừa đảm bảo an
toàn lại đem lại lợi nhuận cao. Dưới đây là một số hình thức huy động vốn của Ngân
hàng
1.3.4.1 Huy động vốn theo thời gian
Đây là hình thức huy đông vốn có ý nghĩa rất quan trọng với Ngân hàng vì nó liên
quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn cũng như thời gian
hoàn trả khách hàng. Theo hình thức huy động này ngân hàng có thể chia ra nguồn vốn
huy động sau: ngắn hạn, dài hạn, trung hạn
Một là: Huy động vốn ngắn hạn:
Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn có thời hạn dưới 12 tháng. Đây là hình thứcchủ
yếu của ngân hàng thông qua việc phát hành các công cụ ngắn hạn và nghiệp vụ nhận
tiền gửi thanh tóan, tiền tiết kiệm của dân cư và các tổ chức kinh tế xã hôi. Khoản huy
động này thường được ngân hàng sử dụng để cho vay ngắn hạn, hạn chế cho vay trung
hạn và dài hạn. Đặc điểm của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp do thời gian
ngắn nhưng tính ổn định kém, mà tỷ lệ dự trữ bắt buộc lại cao. Mặc dù tính ổn định kém
nhưng do được khách hàng ưa chuộng nên nó chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn
huy động.
Hai là: Huy động vốn trung hạn
Ngân hàng huy động vốn trung hạn qua việc phát hành các công cụ nợ trung hạn
trên thị trường tài chính, nhận tiền gửi trung hạn ( chủ yếu là tổ chức).Nguồn vốn này có
thời gian huy động từ một đến ba năm, đây là nguồn vốn được sử dụng khá ổn định các
NHTM thường sử dụng để cho các doanh nghiệp vay trung hạn đối với các dự án đầu tư
mở rộng sản xuất, mua sắm các tài sản cố định, đầu tư công nghệ mới …Tuy nhiên chi
phí cho nguồn vốn này cao hơn nguồn vốn ngắn hạn nhưng nguồn vốn trung hạn rất quan
trọng và rất cần thiết đối với ngân hàng để thực hiện các hoạt động đâu tư, thay đổi công
nghệ và cho vay trung hạn, dài hạn với lãi suất cao.
Ba là: Huy động vốn dài hạn
Nguồn vốn này có thời gian huy động trên ba năm và được NHTM sử dụng và
nhiệm vụ đầu tư phát triển theo định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước: đầu
nắm giữ giấy tờ có giá không được rút trước thời hạn nhưng có thể mang bán, cần cố trên
thị trường. Khi thực hiện huy động vốn dưới hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ
vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động vốn, mức lãi suất, thời gian đáo hạn…
Ba là: đi vay
Ngoài nguồn tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, trong lúc cần vốn Ngân hàng có
thể tiến hành vay vốn từ NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác. Các NHTM thường vay
tiền của các NHTW trong các trường hợp thiếu vốn tạm thời, ngân hàng không đáp ứng
được nhu cầu chi trả trong thời gian ngắn như thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh
toán…thông qua các hình thức chủ yếu là tái chiết khấu (tái cấp vốn). Các thương phiếu
mà NHTM đã được chiết khấu hoặc tái chiết khấu trở thành tài sản của họ đến khi cần
các ngân hàng mang thương phiếu này lên tái chiết khấu tại NHTW. Để được vay chiết
khấu nộp cho NHTW các giấy tờ có gía trị mà thời hạn còn lại là ngắn hạn xin chiết khấu
như thương phiếu, chứng khoán của chính phủ…Lãi suất chiết khấu do NHTW quy định
tùy thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Nguồn vốn đi vay có tỷ trọng thấp hơn so với nguồn tiền gửi, các khoản đi vay
thường có hạn và quy mô xác định trước do đó tạo thành nguồn vốn ổn định cho ngân
hàng. Nguồn vốn đi vay không phải trích dự trữ bắt buộc hoặc bảo hiểm tiền gửi, Tuy
nhiên do tính rủ ro nên lãi suất của khoản đi vay thường cao hơn các khoản tiền gửi cùng
kỳ hạn.
1.3.4.3. Nguồn vốn huy động theo đối tượng
Nguồn vốn huy động ngày bao gồm: huy động vốn từ dân cư, huy động vốn từ tổ
chức kinh tế và tổ chức xã hội, huy động vốn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Thứ nhất: Huy động vốn từ dân cư:
Dân cư luôn là đối tượng có nguồn tiền dư thừa, các khoản tiền tiết kiệm trong
thời gian nhất định. Họ luôn muốn bảo toàn và thu được một phần lợi nhuận nào đó trên
số tiền tiết kiệm của mình. Nắm được nhu cầu đó các NHTM luôn tìm cách để huy động
nguồn vốn này, khi đời sống dân cư được nâng cao thì trong dân cư luôn có khoản tiền
nhàn dỗi. Đối tượng này thường đầu tư mua ngoại tệ mạnh, vàng bạc, bất động sản, cổ
phiếu, trái phiếu… để sinh lời nhưng các khoản đầu tư này có rủi ro rất lớn. Do vậy vừa
CHƯƠNG II
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ PHÂN TÍCH HOẠT
ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Sự cần thiết của phân tích thống kê hoạt động huy động vốn trong NHTM
Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng
thương mại, hoạt động này tuy không trực tiếp mang lại lợi nhuận nhưng nó là yếu tố
quyết định để đem lại lợi nhuận cho các ngân hàng. Nó là bước đầu tiên trong hoạt động
tín dụng của tất cả các ngân hàng mà hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận lớn nhất cho
các ngân hàng,việc phân tích hoạt động huy động vốn tại các NHTM bằng phương pháp
thống kê là hết sức quan trọng và cần thiết. Việc đó nhằm thấy rõ được mục tiêu, kế
hoạch,chiến lược về các nguồn vốn:
- Thấy được thực trạng hoạt động huy động vốn của các ngân hàng và những
nhân tốt ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn.
- Thấy được cơ cấu nguồn vốn huy động.
- Tạo nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp.
- Xây dựng quy mô và sự tăng trưởng của nguồn vốn ổn định.
- Điều hành nguồn vốn phục vụ cho trong kinh doanh.
Khi thực hiện tốt các công việc này thì hoạt động huy động vốn trong các NHTM
sẽ được đẩy mạnh và phát triển.
2.2. Nguyên tắc xây hệ thống chỉ tiêu thống kê hoạt động vốn của NHTM
- Đảm bảo tính hướng đích: Tức là hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với
mực đích nghiên cứu và phải đảm bảo đạt được mục đích nghiên cứu một cách hiệu quả
nhất. Ví dụ trong hoạt động huy động vốn khi xây dựng tổng nguồn vốn huy động theo
loại tiền và cơ cấu tổng nguồn vốn thao loại tiền để có thể biết được khả năng huy động
vốn của từng loại tiền nào trong ngân hàng là bao nhiêu rồi từ đó đưa các phương thức
huy động vốn cho từng loại tiền làm sao cho hiệu quả nhất.
- Đảm bảo tính hiệu quả: Tức là hệ thống chỉ tiêu được xây dựng phải nhằm thu
nhập được thông tin đầy đủ, phục vụ cho việc áp dụng các phương pháp thống kê để phân
hd i
V V
Trong đó:
hd
V
: tổng nguồn vốn huy động
i
V
: nguồn vốn huy động i
Ý nghĩa: - Quy mô tổng nguồn vốn huy động phản ánh tổng số tiền nhàn rỗi mà ngân
hàng huy động được trong nền kinh tế.
- Quy mô tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng còn cho biết khả năng
cung cấp vốn cho nền kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng.
- Quy mô tổng nguồn vốn huy động cho biết uy tín của ngân hàng trên thị
trường tài chính mặt khác nó cũng cho biết thị phần của ngân hàng trong hệ
thống ngân hàng.
Quy mô tổng nguồn vốn huy động là chỉ tiêu tuyệt đối- thời kỳ.
2.3.2. Cơ cấu nguồn vốn huy động
* Theo loại tiền huy động:
Cơ cấu vốn theo loại hình huy động cho biết tỷ trọng nguồn vốn nội tệ hay nguồn
vốn ngoại tệ trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.
hd hdnt hdngt
V V V
: nguồn vốn huy động theo loại tiền i
Ý nghĩa: Cơ cấu tổng nguồn vốn theo loại tiền huy động cho biết tỷ trọng của vốn
huy động theo từng loại tiền chiếm bao nhiêu % hoặc bao nhiêu lần trong tổng vốn huy
động của ngân hàng. Qua đó ta có thể xác định được huy động vốn theo loại tiền nào sẽ
giúp ngân hàng hoạt động tốt nhất.
Cơ cấu tổng nguồn vốn huy động theo loạii tiền là chỉ tiêu tương đối- thời kỳ
* Theo hình thức huy động:
Ngân thương mại huy động vốn theo các hình thức khác nhau như:
tiền gửi, tiền vay, giấy tờ có giá trị, vay nợ khác.
ht
hd i
V V
ht
ht
i
i
hd
V
d
V
Đơn vị tính : lần hoặc %
Trong đó:
V
d
V
Đơn vị tính: lần hoặc %
Trong đó:
hd nh
V
: Vốn huy động ngắn hạn
hd tdh
V
: Vốn huy động trung – dài hạn
tg
i
V
: Vốn huy động theo thời gian i
tg
i
d
: Tỷ trong vốn huy động theo thời gian i
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng vốn huy động theo thời gian huy động vốn
chiếm bao nhiêu % hoặc bao nhiêu lần trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Từ đó xác định được huy động vốn theo thời gian nào là hiệu quả nhất, vốn huy động
V
: Vốn huy động trong tổ chức kinh tếp- xã hội.
hd k
V
: Vốn huy động khác.
dt
i
V
: Vốn huy động của đối tượng i.
dt
i
d
: Tỷ trọng vốn huy động theo đối tượng i.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng vốn huy động theo từng đối tượng vay
chiếm bao nhiêu % hay bao nhiêu lần trong tổng vốn huy động từ ngân hàng xác định
được những đối tượng nào chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn, tính ổn định của nó ra sao
mặt khác ngân hàng cũng biết được đối tượng nào có tỷ trọng kém từ đó đưa ra các
chính sách thu hút vốn từ đối tượng hơn nữa. Qua việc nghiên cứu tỷ trọng vốn theo đối
tượng huy động ngân hàng còn biết được xu hướng biến động của từng đối tượng huy
động từ đó đưa ra các biện pháp, chính sách phù hợp huy động tối đa vốn từ các đối
tượng này.
Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng là chỉ tiêu tương đối – thời kỳ.
2.3.3. Lãi suất huy động vốn
Lãi suất huy động vốn là tỷ lệ phần trăm (%) giữa số tiền lãi ngân hàng phải trả
cho khách hàng trên tổng số tiền huy động trong khoảng thời gian.
100
tiền trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
i i
TL V r
Trong đó: TL: Tổng tiền lãi phải trả khách hàng.
V
i
: Vốn huy động theo kỳ hạn i .
i
r
: Lãi suất theo kỳ hạn i.
Ý nghĩa: Tổng tiền lãi phải trả cho khách hàng cho biết để huy động được một
khối lượng vốn trong một thời kỳ nào đó thì ngân hàng sẽ phải chi trả tổng số tiền lãi cho
khách hàng là bao nhiêu.
Tổng tiền lãi phải trả cho khách hàng là chi tiêu tuyệt đối – thời kỳ.
2.3.5. Chi phí huy động vốn
Chi phí huy động vốn là chi phí phát sinh trong quá trình huy động vốn của ngân
hàng trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Chi phí huy động vốnbao gồm
tiền lãi phải chi trả cho khách hàng, chi phí dịch vụ, chi phí quảng cáo…
i i i i
CP L D K
Trong đó:
i
CV
: Cho vay đối tượng i
Ý nghĩa: Việc phân tích chỉ tiêu doanh số cho vay phản ánh quy mô cho vay của
ngân hàng từ đó tìm ra các nguyên nhân làm cho doanh số tăng giảm để có những biện
pháp điều chỉnh cho phù hợp với chiến lược của ngân hàng.
Doanh số cho vay là chỉ tiêu tuyệt đối – thời kỳ.
2.4.2. Cơ cấu doanh số cho vay
* Theo thời gian cho vay:
Doanh số cho vay theo thời gian cho vay chia làm hai loại đó là: cho vay ngắn
hạn, cho vay trung và dài hạn
tg
i
DSCV DSCV
Trong đó: DSCV: doanh số cho vay
tg
i
DSCV
: doanh số cho vay theo thời gian i
tg
tg
DSCV
d
DSCV
x 100 (%)
Trong đó:
dt
i
DSCV
: doanh số cho vay theo đối tượng i.
dt
i
d
Tỷ trọng của vốn cho vay theo đối tựợng i.
Ý nghĩa: Việc nghiên cứu chỉ tiêu này cho ngân hàng biết được trong tổng doanh
số cho vay thì đối tượng doanh nghiệp nào chiếm tỷ trọng lớn hay ít từ đó giíup cho ngân
hàng đưa ra các chính sách phù hợp cho từng đối tuợng.
Cơ cấu doanh số cho vay theo đối tượng là chỉ tiêu tuyệt đối – thời kỳ.
* Theo loại tiền cho vay:
Theo loại tiền cho vay ta chia ra làm hai loại đó là: cho vay nội tệ và cho vay
ngoại tệ.
lt
i
DSCV DSCV
ng
ng
i
i
DSCV
d
DSCV
x 100 (%)
Trong đó:
ng
i
DSCV
: doanh số cho vay theo loại tiền i.
ng
i
d
Tỷ trọng của vốn cho vay theo loại tiền i.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu cho biết tỷ trọng doanh số cho vay theo từng ngành chiếm bao
nhiêu % trong tổng doanh số cho vay. Từ đây cho phép ngân hàng xác định được ngành
nào đang cần hỗ trợ thức đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần giúp nhà nước trong việc
thúc đẩy những ngành mũi ngọn.
Cơ cấu cho vay theo ngành là chỉ tiêu tuyệt đối – thời kỳ.
2.4.3. Lãi suất cho vay:
Lãi suất cho vay là tỷ lệ phần trăm giữa khoản tiền lãi mà ngân hàng thu được từ
khách hàng trên số tiền chô vay theo một thời gian nhất định.
cv
Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết số tiền mà ngân hàng thu được trong kỳ khi cho
khách hàng vay vốn.
Đây là chỉ tiêu tuyệt đối – thời kỳ.
2.4.5. Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà khách hàng vay vốn đã hoàn trả lại cho ngân
hàng trong một kỳ.
i
TN N
Trong đó: TN Doanh số thu nợ .
i
N
doanh số thu nợ khoản i.
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu hồi các khoản nợ cho vay trong kỳ.