Vân dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của khối văn phòng Công ty cổ phần Gas Petrolimex giai đoan 2002 – 2006 - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN I
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường hiện đại sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là vô
cùng gay gắt. Các doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu kinh doanh của mình phải
triệt để lợi dụng các yếu tố thuận lợi của môi trường khách quan và sử dụng tối ưu
các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm dịch vụ thoả mãn nhu cầu
thị trường. hay nói một cách khác là phải không ngừng tìm tòi các biện pháp để
không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình. Đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước đã trở thành một thành viên của tổ
chức thương mại thế giới WTO thì thách thức đối với công ty lai càng lớn.
Trong những năm vừa qua, Công ty cổ phần Gas Petrolimex dù đã có được
tiến bộ trên nhiều mặt nhưng việc nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh vẫn là một
vấn đề được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu. Trước tình hình đó Tổng Công ty đã và
đang đặt ra những yêu cầu nghiêm túc để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Để tìm hiểu sâu hơn và có cái nhìn toàn diện
hơn về vấn đề này, đồng thời trang bị thêm kiến thức cho mình về phân tích hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, em đã quyết định chọn đề tài :
“Vân dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động sản xuất
kinh doanh của khối văn phòng Công ty cổ phần Gas Petrolimex giai đoan
2002 – 2006.”
Trong quá trình làm bài do còn nhiều hạn chế về kiến thức và thực tế nên
không thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy để bài làm được hoàn thiện hơn, em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên
Phạm Thị Kim Thu
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I

dùng xã hội,tạo điều kiện cho tích luỹ vốn phát triển sản xuất.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh phải tính được chi phí nguyên vật liệu, chi
phí lao động, chi phí về công tác quản lý và các chi phí khác cho một đơn vị sản
phẩm. Từ đó xác định được giá thành toàn bộ của một đơn vị sản phẩm và hoạch toán
lãi lỗ trong kinh doanh.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn nắm bắt những thông tin đòi hỏi về chất
lượng, mẫu mã sản phẩm, giá cả sản phẩm, chất lượng phục vụ của người tiêu dùng
trên thị trường. Đồng thời, phải nắm bắt kịp thời những thông tin về nhu cầu của thị
trường về loại hàng hoá gì.
Nhự vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự kết hợp hài
và không thể tách rời nhau của hai loại hoạt động của sản xuất và hoạt động kinh
doanh. Hoặc ta có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh là nói sản phẩm theo hai
quan điểm vật chất và quan điểm tài chính (H-H, T-T). Một doanh muốn tồn tại và
phát triển bền vững thì cần phải biết kết hợp tốt giữa hai loại hoạt động trên sao cho
phù hợp với thi trường hiện nay.
1.1.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.1.2.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Có nhiều vấn đề được đặt ra cho những nhà khoa học, nhà quản lý và nhà điều
hành sản xuất quan tâm nghiên cứu đó là : Thế nào là quá trình sản xuất kinh doanh
có hiệu quả kinh tế? Những biểu hiện kinh tế là gì?...Do đó, vấn đề về hiệu quả trong
sản xuất kinh doanh được nhiều nhà kinh tế học trên thế giới đi sâu nghiên cứu từ
thập kỉ 30 của thế kỷ XX.
Các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh của doanh nghiệp:
- Coi hiệu quả sản xuất kinh doanh là biểu hiện của kết quả sản xuất trên mỗi
lao động hay mừc doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh. Quan điểm này là chưa
hợp lý. Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí hoặc mở rộng việc sử dụng
các nguồn dự trữ.
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân

Môi trường kinh doanh là một trong các nhân tố lớn có ảnh hưởng tới hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì môi trường bao gồm tất cả các yếu tố từ
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp,tác động hầu hết lên mọi mắt của quá trình sản
xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy mà có 2 nhóm nhân tố cần xem xét khi
tìm hiểu tác động của các nhân tố tới hiệu quả sản xuất kinh doanh đó là: nhân tố bên
ngoài doanh nghiệp và các nhân tố của bản thân doanh nghiệp.Từ đó xem xét ảnh
hưởng của chúng để biến các cơ hội của môi trường thành các lợi thế của bản thân và
hạn chế những bất lợi mà môi trường mang lại để có thế đạt được những hiệu quả cao
giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
- Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp :
Là những nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Đối với những nhân tố này,doanh nghiệp chỉ có thể dự báo
để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh theo hướng có lợi cho mình giúp cho hoạt
động kinh doanh trở nên có hiệu quả hơn.
Và để có thể điều chỉnh được một cách đúng đắn để hoạt động kinh doanh đạt
được những hiệu quả đích thực thì các nhà quản ly phải nắm bắt và lý giải được các
nhân tố ảnh hưởng đó. Các nhân tố đó có thể gồm:
- Yếu tố về pháp lí: Đòi hỏi các nhà quản lý nắm chắc để hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp không vi phạm pháp luật.
- Yếu tố chính trị: Là cở sở cho một nền kinh tế ổn định, là cơ sở để các doanh nghiệp
yên tâm đầu tư phát triển tìm cách nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường, và để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
- Môi trường kinh tế: Là các nhân tố có tác động không nhỏ đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh,bao gồm lạm phát, biến động tài chính tiền tệ thông qua việc xác định
cung cầu, quy mô sản xuất, tốc độ tiêu thụ sản phẩm…
- Nhân tố từ bản thân doanh nghiệp:
Mỗi doanh nghiệp đều có tiềm năng riêng phản ánh thế lực của doanh nghiệp.

sản vật chất và tài sản tài chính, được chính các cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp
bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích.
Về bản chất vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất
được sử dụng trong quá trình kinh doanh, đây là điều kiện đầu tiên quyết định đến sự
ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Yêu cầu của vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp là không ngừng nâng
cao hiệu quả sử dụng trong quá trình sản xuất, tức là làm thế nào để đồng vốn luân
chuyển nhanh tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Công nghệ: Là việc áp dụng những khoa học vào công nghệ, bằng việc sử dụng các
kết quả đã nghiên cứu và xử lý có một cách có hệ thống và có phương pháp
Công nghệ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả hoạt động của sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp có tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ hay không là
phụ thuộc không nhỏ vào yếu tố công nghệ.
Quản lý doanh nghiệp: Trình độ và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh được
coi là yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Nguồn lực dù có dồi dào
đến đâu mà việc quản lý điều hành doanh nghiệp yếu kém thì các nguồn lực sẽ không
đựơc sử dụng một cách có hiệu quả.
Thước đo hiệu quả quản lý chính là việc đưa ra những quyết định đúng đắn cụ
thể, là xác định quy mô sản xuất phù hợp với đường lối, mục tiêu của doanh nghiệp.
Do đó, trong quá trình sản xuất kinh doanh không ngừng nâng cao hiệu quả cao, chất
lượng các nhà quản lý để giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Chiến lược mặt hàng: Chiến lược mặt hàng là nhân tố quan trọng trong hệ thống các
nhân tố. Mỗi một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng phải tự lập ra cho mình
một chiến lược mặt hàng. Căn cứ vào chiến lược đó doanh nghiệp có kế hoạch xuất
nhập khẩu hàng hoá cho phù hợp.
- Các nhân tố về thị trường:
Khách hàng: Nhân tố khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định quy mô và

hoặc những nguồn thông tin không đảm bảo độ chính xác.
- Kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích: lợi ích xã hội, lợi ích tập thể, lợi ích
của người lao động. Quan điểm này đòi hỏi nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
một cách trực tiếp.
- Đảm bảo tính thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khi đánh giá và xác định mục tiêu, biện pháp và nâng cao hiệu quả kinh doanh, phải
xuất phát từ đặc điểm kinh tế, điều kiện kinh tế xã hội của ngành, của địa phương và
của các doanh nghiệp, trong từng thời kỳ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
phải được xem xét một cách toàn diện về thời gian và không gian trong mối quan hệ
với hiệu quả chung trong nền kinh tế:
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Về mặt thời gian: Trên thực tế không ít các trường hợp chỉ thấy được lợi ích
trước mắt mà thiếu xem xét đến hiệu quả lâu dài, do đó mà mối tương quan về thu chi
giảm đi, đó không thể được coi là hiệu quả toàn diện được.
+ Về mặt không gian: Hiệu quả sản xuất kinh doanh đạt đươc khi nó có
tác động tích cực ( không có tác đông tiêu cực) đến các ngành kinh tế, các bộ phận
trong một hệ thống.
+ Về mặt định lượng: Hiệu quả sản xuất kinh doanh phải đựơc thể hiện qua
mối tương quan giữa thu và chi theo hướng tăng thu, giảm chi. Tiết kiệm đến mức tối
đa chi phí sản xuất kinh doanh mà thực chất là hao phí lao động ( lao động sống và
lao động vật hoá) để tạo ra một sản phẩm có ích nhất.
+ Về mặt định tính: Hiệu quả doanh nghiệp đạt được phải gắn chặt với hiệu
quả của xã hội. Trong một số trường hợp thì hiệu quả xã hội lại là mặt quyết định khi
lựa chọn một giải pháp kinh tế, dù xét về mặt kinh tế nó chưa được thoả mãn.
1.1.2.2 Kết quả sản xuất kinh doanh
Với hoạt động sản xuất thì kết quả của nó được tính vào kết quả sản xuất, còn
với hoạt động kinh doanh thì kết quả được tính vào kết quả kinh doanh. Sự kết hợp
hai hoạt động trên gọi là hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả của nó được tính vào

Về không gian : là toàn bộ các hoạt động kinh doanh diễn ra liên quan tới
doanh nghiệp. Về thời gian thường là tháng, quý, năm hoặc thời kỳ nhiều năm để có
thể phản ánh được tính quy luật , tính hệ thống của các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đảm bảo tính hướng đích đáp ứng yêu cầu đúng với đối tượng cần cung cấp
thông tin nhằm đảm bảo tác dụng thiết thực trong công tác quản lý.
Do đó, trong hoạt động kinh tế nói chung cũng như trong hoạt động sản xuất
kinh doanh nói riêng các doanh nghiệp tìm mọi cách để đạt được hiệu quả cao nhất
hay nói cách khác đó là tính hướng đích.
* Đảm bảo tính hệ thống:
Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
phải được quy định một cách thống nhất, có hướng dẫn cho các doanh nghiệp và
phương pháp tính toán phải đảm bảo những yêu cầu sau: Nội dung tính toán phải
thống nhất từ chi tiết đến tổng hợp, phạm vi tính toán phải thống nhất. Ngoài ra tính
hệ thống còn thể hiện ở các yêu cầu sau:
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đầy đủ : Phải bao quát được mọi lĩnh vực quan trọng nhất của hiện tượng
kinh tễ xã hội. Xét đến mối quan hệ xã hội với các hiện tượng kinh tế và ngược lại.
- Hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu được mối liên hệ giữa các bộ phận,
các mặt giữa hiện tượng nghiên cứu với hiện tượng có liên quan.
- Hệ thống chỉ tiêu phải có các chỉ tiêu mang tính chất chung , các chỉ tiêu
mang tính chất bộ phận và cả các chỉ tiêu nhân tố nhằm phản ánh tổng thể vấn đề ta
nghiên cứu.
- Đảm bảo thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán của các
chỉ tiêu cùng loại mối quan hệ hữu cơ với nhau, được phân tổ và sắp xếp một cách
khoa học. Điều này liên quan đến việc chuẩn hoá thông tin. Hệ thống chỉ tiêu phải
bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu và thứ yếu, các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu bộ
phận phản ánh từng mặt của bộ phận sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các chỉ

thức trạng, đề ra được giải pháp khắc phục khó khăn hay phát huy lợi thế.
1.2 ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GAS PETROLIMEX.
1.2.1 Khái quát chung về ngành xăng dầu.
Xăng dầu là mặt hàng vật tư thiết yếu và mang tính chiến lược đối với sự phát
triển của đất nước, thuộc độc quyền Nhà nước. Nhà nước Việt Nam thực hiện độc
quyền của mình đối với xuất nhập khẩu xăng dầu thông qua quản lý quyền trực tiếp
xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và quy định hạn ngạch nhập khẩu. Trên cơ sở cân
đối nhu cầu xăng dầu hàng năm của nền kinh tế quốc dân, Nhà nước giao hạn ngạch
nhập khẩu cho 10 doanh nghiệp đầu mối; trong đó, Petrolimex được giao với khối
lượng tương ứng với thị phần 55-60%. Như vậy, Petrolimex giữ vị trí thống lĩnh thị
trường xăng dầu nội địa. Vị trí quan trọng này do Nhà nước xác lập tương ứng với
vai trò chủ đạo của Petrolimex trong việc bảo đảm xăng dầu cho sự phát triển kinh tế-
xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, bình ổn giá cả xăng dầu trên thị trường nội địa
và phục vụ đắc lực, có hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam
(Petrolimex) là xăng dầu- cụ thể là các sản phẩm lọc dầu ( xăng ô tô, diesel, nhiên
liệu đốt lò (mazút) và dầu hoả). Doanh thu xăng dầu chiếm tỷ trọng 92% tổng doanh
thu hàng hoá và dịch vụ của Petrolimex.
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hoạt động kinh doanh xăng dầu của Petrolimex được thực hiện chủ yếu dưới
các hình thức: Mua xăng dầu thông qua nhập khẩu trực tiếp; bán xăng dầu tại thị
trường nội địa gồm trực tiếp bán buôn, bán lẻ và bán qua hệ thống đại lý, tổng đại lý;
bán xăng dầu ra nước ngoài gồm tái xuất và chuyển khẩu. Ngoài ra, Petrolimex còn
cung ứng dịch vụ kho cảng; vận tải xăng dầu bằng đường bộ (ô tô si-téc), đường sông
(xà lan, tàu sông), đường ven biển và đường biển viễn dương; v.v…
Thương hiệu Petrolimex ngày càng được củng cố vững chắc trên thị trường
Việt Nam và quốc tế. Petrolimex luôn là bạn hàng tin cậy của đại đa số khách hàng

mặt, thì ngành dầu khí nói chung hay ngành Gas nói riêng giữ một vai trò cực kỳ
quan trọng, không những là yếu tố đầu vào thúc đẩy quá trình sản xuất cho rất nhiều
ngành công nghiệp khác, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của tiêu dùng xã
hội.
Tuy nhiên, môi trường kinh doanh ngày càng đa dạng các loại hình, các nhãn
hiệu thì việc làm sao đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của tiêu dùng để nâng khả
năng cạnh tranh, phát triển thương hiệu lại là một việc không hề đơn giản. Công ty cổ
phần Gas Petrolimex thuộc Tổng Công ty xăng dầu Việt Nam có nền tảng từ một
doanh nghiệp nhà nước, là 1 trong số ít các doanh nghiệp đi đầu trong việc cung ứng
sản phẩm Gas nói riêng trên thị trường nội địa và xuất khẩu, nhìn chung đã có chỗ
đứng trong sự lựa chọn của người tiêu dùng. Một mặt, giữ vững vị trí trên thị trường
tiêu dùng. Mặt khác, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động, tăng doanh thu lại
là một thách thức không nhỏ.
Trong thời gian gần đây, khi sàn giao dich chứng khoán ở Việt Nam được
biết tới nhiều hơn, Cổ phiếu của Công ty cổ phần Gas Petrolimex hiện là sự lựa chọn
khá an toàn cho người chơi chứng khoán, nhưng làm thế nào để họ luôn có thể yên
tâm lựa chọn chứng khoán của Công ty và để Công ty có thể huy động được nguồn
vốn đầu tư lớn cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng lại là một
thách thức không đơn gian chút nào .
Vậy fải làm thể nào để giải quyết những khó khăn và thách thức đó ?
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần gas Petrolimex.
1.2.2.1 Nhân tố bên ngoài
Gas tuy có tính năng sử dụng ưu việt so với nhiều loại chất đốt khác, nhưng
đối với một nước có nền kinh tế lạc hậu như nước ta (mặc dù nền kinh tế tăng trưởng
ở mức cao trong những năm qua , xấp xỉ 8,5 %) thì yếu tố giá cả lại trở nên hết sức
nhạy cảm tới cung - cầu, đặc biệt là các ngành có sử dụng LPG làm nguyên liệu đầu

ra không những làm thiệt hại đến các đơn vị kinh doanh gas lớn làm ăn chân chính
mà còn tạo ra nguy cơ rủi ro rất cao đối với người tiêu dung.
Đây cũng là một trong số nguyên nhân chính dẫn đến sản lượng gas bình
Petrolimex có phần chững lại ở một số năm gần đây, thị phần bị chia sẻ.
1.2.2.2 Nhân tố từ bản thân doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Gas Petrolimex trực thuộc Tổng công ty Xăng Dầu Việt
Nam, trước là một bộ phận của Tổng Công ty nên có thể nói hoạt động của bản thân
Công ty đã phát triển ngay từ khi ngành dầu khí còn là ngành độc quyền và vì thế
thương hiệu của Gas Petrolimex đã được biết đến và được khẳng định từ trước khi
trở thành một doanh nghiệp Cổ phần như hiện nay.
Với lượng vốn lớn và nguồn lao động có trình độ, dầy dặn kinh nghiệm trong
lĩnh vực Gas và dầu khí đã hoạt động khá lâu năm trong Công ty cùng với lực lượng
lao động trẻ năng động, mặc dù thị phần Gas bị chia sẻ, những lương Gas tiêu thụ
hàng năm của Công ty vẫn tăng đặc biệt là đối với Gas rời(sử dụng trong các ngành
Công nghiệp). Vì Công ty Cổ phần Gas Petrolimex vẫn được coi là lựa chọn an toàn
đối với những nhà sản xuất trong nước và người tiêu dùng không chỉ bởi chất lượng,
giá thành mà cũng bởi uy tín mà cán bộ nhân viên Công ty đã xây dựng trong nhiều
năm qua.
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
HẾ THỐNG CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN GAS PETROLIMEX.
2.1 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GAS PETROLIMEX- ĐẶC ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHẢP TÍNH TOÁN.
Hệ thống chỉ tiêu là tập hợp những chỉ tiêu có quan hệ với nhau, có thế phản
ánh các mặt,các tính chất cơ bản,các mối quan hệ cơ bản giữa các mặt của hiện tượng

2.1.1.1 Các chỉ tiêu về yếu tố sản xuất
2.1.1.1.1 Chỉ tiêu về lao động
* Khái niệm
Số lượng lao động của doanh nghiệp là những người được ghi tên vào danh
sách lao động của doanh nghiệp và do doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng sức
lao động rồi trả lương.
* Phân loại
Theo tính chất của lao động có thể chia lao động thành hai bộ phận là số lao
động không được trả công và số lao động làm công ăn lương.
- Số lượng lao động không được trả công: bao gồm các chủ doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân tham gia vào làm việc và số công
nhân gia đình không được trả lương.
- Số lao động làm công ăn lương: là những người lao động làm việc trong
doanh nghiệp và được doanh nghiệp trả lương theo mức độ hoàn thành công việc
được giao.
Theo tác dụng của từng loại lao động đối với quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp mà lao động được phân thành hai ba bộ phận : là lao động trực tiếp
sản xuất và lao động làm công khác.
- Chỉ tiêu lao động là một chỉ tiêu được thống kê theo số thời điểm và số bình
quân.
- Chỉ tiêu lao động giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do đó, nhân tố lao động có vai trò rất lớn đến quá trình tăng trưởng và phát
triển của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Và để đạt
được tốc độ phát triển cao và hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra thì ngoài việc giảm chi
phí sản xuất, doanh nghiệp còn phải tăng năng suất lao động, cải tổ bộ máy của công
ty…Tăng năng suất lao động cũng là một trong những biện pháp hạ giá thành sản

năng thanh khoản, thị trường khách hàng và mức độ thành công của những dự án đầu
tư.
2.1.1.2 Các chỉ tiêu hiệu quả
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là phản ánh trình độ khai thác
các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất và thực hiện những mục tiêu kinh tế đã đề
ra, nó còn thể hiện mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí
sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề khá phức tạp nên
việc nghiên cứu nó phải thông qua hệ thống chỉ tiêu.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh có liên quan đến toàn bộ các yếu tố của quá
trình kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi sử dụng các yếu
tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Để đánh giá có cơ sở khoa học hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp, bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp
và các chỉ tiêu cụ thế. Các chỉ tiêu đó phải phản ánh được sức sản xuất, xuất hao phí
cũng như sức sinh lời của từng yếu tố, từng loại vốn.
2.1.1.3 Các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh
2.1.1.3.1 Tổng doanh thu
Đây là chỉ tiêu tổng hợp, biểu hiện bằng tiền phản ánh toàn bộ giá trị tiêu thụ
vật tư của Công ty cổ phần gas Petrolimex.
Chỉ tiêu tổng doanh thu là toàn bộ chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả sản xuất
kinh doanh theo toàn bộ doanh số đã thu được trên thực tế. Là cơ sở để công ty đánh
giá việc thực hiện những mục tiêu kinh doanh đã đề ra ở kỳ trước.
Công thức:
DT =

p’
i
q’
i
Trong đó:

Là tổng lượng sản phẩm vật chất và dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ
trong kỳ. Đây cũng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh
theo doanh số thực tế tiêu thụ được , là một trong những cơ sở để đánh giá mục tiêu
kinh doanh của doanh nghiệp.
2.1.1.3.6 Sản lượng hàng hoá
Hệ thống chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được biêu hiện qua
sơ đồ sau:
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.2 Đặc điểm tính toán của từng chỉ tiêu
2.1.2.1 Các chỉ tiêu về lao động, vốn
*Các chỉ tiêu về lao động.
Chỉ tiêu lao động là chỉ tiêu được thống kê theo số thời điểm và số bình quân do đó:
+ Nếu khoảng cách không bằng nhau thì chỉ tiêu lao động bình quân được tính theo
công thức:
n
L
L
i

=
hoặc


=
i
ii
n
nL

sử
dụng

Hiệu
quả
sử
dụng
vốn

cấu
doanh
thu
Lượng
hàng
hoá tiêu
thụ
Lợi
nhuận
Sản
lượng
hàng
hoá
Hệ thống chỉ tiêu phản
ánh hoạt động SXKD
Doanh
thu
Doanh
thu
thuần
Hiệu

n: tổng số thời điểm thống kê.
* Các chỉ tiêu về vốn
+ Vốn cố định
Do mỗi lần tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh giá trị của vốn cố
định bị giảm dần nên khi tính chỉ tiêu này thường tính theo qui mô còn lại của nó, tức
là sẽ tính theo công thức sau:
Quy mô VCĐ tại = Tổng giá trị của VCĐ và đầu tư
thời điểm thống kê dài hạn tại thời điểm đó
Hoặc
Nguyên giá (hay Giá trị hao mòn Tổng giá trị các
= Giá đánh giá lại) - luỹ kế + khoản đầu tư
của TSCĐ dài hạn
+ Vốn lưu động.
VLĐ chỉ tham gia 1 lần vào quá trình sản xuất nên được tính theo công thức:
Quy mô VLĐ tại
=
Tổng giá trị của VLĐ và đầu tư
thời điểm thống kê ngắn hạn tại thời điểm đó
2.1.2.3 Các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh
2.1.2.3.1 Tổng giá trị sản xuất (GO)
Khoa Thống kê Đại học Kinh tế Quốc dân
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Giá trị sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gas là một chỉ tiêu
tổng hợp được tính theo đơn vị tiền tệ bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và
dịch vụ của Công ty tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Nếu GO được tính theo giá hiện hành thì tổng giá trị sản xuất phản ánh được
giá trị thực tếm còn khi tính theo giá so sánh thì nó lại phản ánh được quy mô sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. GO còn phản ánh trình độ sử dụng các yểu tố sản
xuất như năng suất lao động (sống), hiêu suất sử dụng vốn.

1
+ C
2
+ V + M )
GO = ( C + V + M )
Trong đó:
C
1
: Khấu hao tài sản cố định của tất cả các hoạt động có trong Công ty
C
2
: Chi phí trung gian ( là toàn bộ chi phí sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ
cho nhu cầu sản xuất thường xuyên của doanh nghiệp, không kể chi phí khấu hao).
V : là nhu cầu lần đầu của người lao động bao gồm: tiền lương, tiền thưởng, các
khoản thu nhập có tính chất lương khác, tiền trích vào các quỹ như: BHXH, BHYT…
của chủ doanh nghiệp.
Thu nhập lần đầu = Thù lao + BHXH + Thu nhập hỗn hợp của
của người lao động lao động thay lương hộ sản xuất cá thể

M : là thu nhập lần đầu ( tổng lãi gộp) của doanh nghiệp bao gồm : các khoản nộp
ngân sách nhà nước( trừ thuế thu nhập doanh nghiệp), tổng lãi thuần trước thuế, lợi
nhuận, lãi trả tiền vay ngân hàng, mua bảo hiểm nhà nước.
2.1.2.3.2 Giá trị tăng thêm (VA) và giá trị tăng thêm thuần.
* Giá trị tăng thêm (VA)
Là phần giá trị tăng thêm của kết quả sản xuất của Công ty trong một thời lỳ,
được tạo ra bởi hai yếu tố sản xuất ó vai trò tích cực là lao động sống và tư liệu lao
động.
Chỉ tiêu được tính theo hai phương pháp: phương pháp sản xuất và phương
pháp phân phối
- Phương pháp sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status