1
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – Năm 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN DƯƠNG THỊ HƯƠNG
2
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT
CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
1.1.Khái quát chung về tiểu thuyết và tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại 14
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 14
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam đương đại 14
1.2. Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú trong sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam
đƣơng đại 21
1.2.1. Con người và sự nghiệp 21
1.2.2. Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú 23
Chƣơng 2. CUỘC SỐNG VÀ CON NGƢỜI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
NGUYỄN ĐÌNH TÚ 29
2.1.Những mảng sáng trong cuộc sống đời thƣờng 29
2.1.1. Vẻ đẹp tình người 30
2.1.2. Khẳng định quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người 35
2.1.3. Sex- khát vọng tình yêu mãnh liệt 41
2.1.4. Tôn giáo- điểm tựa tinh thần trong đời sống con người 50
2.1.5. Truy tìm nguyên nhân sa ngã phía sau bản án 57
2.2. Những góc khuất của cuộc sống đời thƣờng 66
2.2.1. Nền kinh tế thị trường và sự xuống cấp của giá trị đạo đức. 67
2.2.2.Thế hệ trẻ và nỗi hoang mang trong việc xác lập bảng giá trị 74 5
2.2.3.Sự hoành hành của thế giới tội phạm 80
2.2.4.Sự tha hóa của nhu cầu bản năng, dục vọng 88
2.2.5.Sự lụi tàn niềm tin vào cuộc sống 91
Chương 3. PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN
ĐÌNH TÚ 96
3.1. Nghệ thuật kết cấu 96
3.1.1.Kết cấu song song 97
3.1.2.Kết cấu đa tuyến 100
3.1.3.Kết cấu dòng ý thức 102
trước, các cây bút tiểu thuyết hàng ngày vẫn không ngừng thể nghiệm, khám phá,
tìm tòi những hướng đi mới cho tiểu thuyết. Và người yêu văn học không khỏi băn
khoăn: sau thế hệ “vàng” ấy là sự hiện diện của những tác gia nào? Sự xuất hiện
của họ sẽ đưa tiểu thuyết đi đến đâu?
Năm 2002, văn đàn Việt Nam chứng kiến sự ra mắt của cây bút trẻ Nguyễn
Đình Tú với tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù gây được không ít tiếng vang. Lúc
đó Nguyễn Đình Tú 28 tuổi và đây mới chỉ là bước mở đầu cho sự thể nghiệm toàn
diện của anh. Những tiểu thuyết tiếp theo như Bên dòng Sầu Diện (2005), đặc biệt
là qua ba cuốn tiểu thuyết được trình làng liên tiếp trong ba năm: Nháp (2008),
Phiên bản (2009), Kín (2010), người đọc thực sự thấy được khả năng sáng tác tiểu
thuyết của Nguyễn Đình Tú. Nhà văn trẻ dường như đang cố gắng viết tên tuổi của
mình vào làng tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Sau ba cuốn tiểu thuyết, với những
tiếng vang không nhỏ, tác giả đã từng bước khẳng định được chỗ đứng của mình.
7
Ma Văn Kháng- “nhà tiểu thuyết lực lưỡng” đã không kiệm lời khi nói rằng: “cây
bút Nguyễn Đình Tú, một triển vọng đầy hứa hẹn của văn xuôi hiện nay” [17, tr.9].
Có thể nói, sự xuất hiện và những đóng góp trong tiểu thuyết Nguyễn Đình
Tú trong thời gian qua là điều không thể phủ nhận nhưng thực tế tiểu thuyết của
nhà văn vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Xung quanh việc nghiên
cứu Nguyễn Đình Tú luôn có những dòng đánh giá trái chiều, những nhận xét khen
chê mang đậm chất cảm tính, chủ quan.
Chọn tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú làm đối tượng của đề tài nghiên cứu,
trước hết xuất phát từ mối quan tâm với tiểu thuyết đương đại. Từ mối quan tâm
này, chúng tôi muốn chú ý đến một đối tượng tiêu biểu với hy vọng thông qua đó
để có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói chung.
Với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú, chúng tôi mong muốn tìm
ra những nét mới trong nội dung và nghệ thuật sáng tác tiểu thuyết của nhà văn về
tất cả các mặt như: Từ phương diện thể hiện con người ở những mảng sáng và góc
tối của cuộc sống đời thường đến nghệ thuật kết cấu, tổ chức cốt truyện, điểm nhìn
Lê Quốc Hiếu trong bài Nguyễn Đình Tú và những ám ảnh mang tên Nháp
có viết: “Khác với những cuốn sách khai thác đề tài đồng tính xuất hiện trong thời
gian gần đây, Nguyễn Đình Tú còn cho ta một loại người dù bẩm sinh không có xu
hướng tình dục đồng tính nhưng vì những tò mò cá nhân, những suy nghĩ nông cạn
và cả những đam mê nhất thời đã tự biến mình thành một cái tôi khác. Qua cuốn
sách này, chúng ta có thể hiểu hơn về thế giới thứ ba, và còn hơn tất thảy hiểu hơn
về một thế hệ không dám sống đúng với bản thân mình, không dám đối diện với
những ẩn ức khó giãi bày” [56].
Đoàn Minh Tâm trong Từ Hồ sơ một tử tù đến Nháp- một chặng đường tiểu
thuyết Nguyễn Đình Tú có nhận xét: “Đọc Nháp trong so sánh liên văn bản với hai
tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù và Bên dòng Sầu Diện chúng tôi cho rằng đây là tác
phẩm đánh dấu một chặng đường sáng tác của anh. Sau Nháp, chúng ta sẽ gặp một
9
Nguyễn Đình Tú với phong cách sáng tác hoàn khác trước. Ngôn ngữ trong Nháp
có tiết tấu nhanh, thẳng băng, nhiều trường đoạn tạo cho người đọc “ảo giáo” tác
giả đang trong quá trình phôi thai đứa con tinh thần chứ đây chưa phải là sản phẩm
hoàn chỉnh. Nhưng thực tế, đây là những ngôn từ được sử dụng đầy dụng công
nhằm hướng độc giả đến cái đích là hòa nhịp cùng âm hưởng chủ đạo của tác phẩm
thông qua nhan đề có sức biểu trưng cao” [37, tr.2].
Ma Văn Kháng trong bài Phiên Bản- một mệnh đề mang tính tường luận lý
thú đã có những nhận xét: “Thế giới tội phạm, một lát cắt của đời sống hiện thực!
Xa lạ chăng chỉ là, ở nơi đây không có cái thường quy, cái phổ biến. Thống trị ở
nơi đây là cái hỗn mang chi sơ, là những bản năng kinh thiên động địa, là cái ác
độc, là thói bạo tàn thâm căn. Thế giới tội phạm! Một bước lùi của lịch sử nhân
loại! Tôi đã hơn một lần rất có cảm tình và thật sự khâm phục năng lực hiểu biết thấu
đáo cái lĩnh vực đời sống, cái đối tượng nghệ thuật mà cây bút Nguyễn Đình Tú, một
triển vọng đầy hứa hẹn của văn xuôi hôm nay, đã cày xới trong tiểu thuyết Hồ sơ một tử
tù và mới đây, trong cuốn sách có tên rất lạ tai là Phiên bản của anh” [43, tr.7].
Nguyễn Thị Minh Thái trong bài viết Kín- một dòng tiểu thuyết miên man đã
góc tiếp cận nhân văn; Nguyễn Tuấn Anh với Phiên bản những mảng tối của cuộc
đời; Nga Sơn với Phiên bản hay một cuộc vượt thoát để tìm về với bản ngã; Hương
Giang với Phiên bản của bạo lực và tình người; Phong Lan với Nguyễn Đình Tú và
hé lộ Kín, Lãm Nguyên với Kín – cuộc tìm lối của người trẻ, Tiểu Quyên với Kín-
Những vòng tròn mồ côi, Dương Tử với Kín và nỗi hoang mang thời đại…
Ngoài ra còn có một số luận văn Thạc sĩ như: Hiện thực trong tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú của Phạm Anh Hào đã chỉ ra một số vấn đề hiện thực được phản
ánh trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú. Tiếp đó còn có luận văn Tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú của Nguyễn Thị Bình, Tuy nhiên luận văn mới chỉ khảo sát ba
cuốn tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Nháp, Phiên bản nên chưa có được cái nhìn toàn
diện hệ thống tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú. Với luận văn có nhan đề: Tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú: sự dung hợp văn học đặc tuyển và văn học đại chúng của Tiết
11
Tuấn Anh đã làm rõ được sự tương tác, chuyển dịch, dung hợp, giao thoa giữa cái
đặc tuyển và cái bình dân, đại chúng như một quy luật vận động phổ quát của văn
chương ở mọi thời, trong đó nền văn học Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật
đó. Đồng thời, đi sâu khẳng định tài năng của nhà văn trong việc dung hợp hai bộ
phận đó.
Song hành cùng những luận văn còn có một số khóa luận và báo cáo khoa
học nghiên cứu về tác giả này…Tuy chỉ nghiên cứu trên quy mô nhỏ nhưng cũng ít
nhiều đề cập đến một khía cạnh nào đó trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú như: Tạ
Thị Lan Phương với đề tài: Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú; Nhóm
ngành khoa học xã hội với: Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết Nguyễn
Đình Tú.
Thông qua những công trình lớn nhỏ như nêu trên, chúng tôi rút ra một số
nhận xét như sau:
Thứ nhất, mỗi bài viết đề cập đến các khía cạnh khác nhau và cũng có không
ít ý kiến trái chiều nhau nhưng các bài viết đều có chung một đặc điểm là thừa nhận
những cách tân mới mẻ ở cả phương diện nội dung lẫn hình thức trong tiểu thuyết
Và một số tiểu thuyết của các nhà văn cùng thời để đối chiếu so sánh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích nhân vật
13
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp loại hình
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ như :
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp cấu trúc
5. Mục đích của luận văn
Đi sâu tìm hiểu những đặc điểm độc đáo, những cách tân nổi bật nổi bật trên
cả phương diện nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú. Trên cơ sở
đó khẳng định những đóng góp của tác giả trong đời sống văn học đương đại nói
chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Sáng tác của Nguyễn Đình Tú trong sự vận động của tiểu thuyết
Việt Nam đương đại.
Chương 2: Cuộc sống và con người trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú.
Chương 3: Phương thức biểu hiện trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú. 14
khứ đến tương lai thì tiểu thuyết là dòng cảm xúc chủ đạo mãnh liệt nhất, liên tục
nhất của hơi thở ấy” [22, tr.163]. Tiểu thuyết là loại hình “công nghiệp nặng” đòi
hỏi sự dũng cảm thử sức, đòi hỏi tài năng, vốn sống và độ tập trung cao đối với
người cầm bút.
Thế giới từ lâu đã nói đến “cái chết của tiểu thuyết” nhưng thực tế tiểu
thuyết vẫn không ngừng được sáng tạo. Ở Việt Nam thực tại và tương lai của thể
loại này đã trở thành nội dung quan trọng trong hàng loạt hội thảo, tranh luận:
“Tiểu thuyết Việt Nam đang đi về đâu? Tiểu thuyết Việt Nam thừa lượng nhưng
thiếu chất? Đang có một sự chuyển động không nhỏ trong tiểu thuyết Việt Nam, sự
già hóa của đội ngũ nhà văn viết tiểu thuyết của Việt Nam” [9, tr.17]. Để hiểu rõ
hơn về vấn đề này chúng ta cần đi sâu tìm hiểu về bối cảnh chung của tiểu thuyết
đương đại Việt Nam.
Có thể nói, cùng với bước đi của lịch sử văn học nhân loại, nền văn học của
dân tộc ta đã có những bước chuyển biến góp phần tạo nên một diện mạo mới cho
nền văn chương nhân loại thế kỷ XXI.
Tiểu thuyết Việt Nam trong nhiều thập niên đã trải qua những bước thăng
trầm, chuyển biến. Sự xuất hiện những cây bút trẻ cùng với cách viết mới đã tạo
nên bầu không khí khá sôi động trên văn đàn. Sự phong phú đa dạng của tiểu
thuyết được thể hiện trong cảm hứng, khuynh hướng, phong cách, cũng như lối
viết.
Dường như các nhà tiểu thuyết luôn ngầm lựa chọn một trong hai hướng:
truyền thống hay cách tân. Bên cạnh đó, xu hướng tiểu thuyết mạng, tiểu thuyết
thương mại cũng đang dần có một vị trí khá ổn định trong lòng độc giả. Một trong
16
những đề tài chiếm được sự quan tâm của nhiều cây bút trong giai đoạn này là đề
tài lịch sử: những nhìn nhận đánh giá lại quá khứ ở những góc cạnh khác nhau. Các
tiểu thuyết nay có tham vọng đi dọc chiều dài thời gian, khái quát những thời kỳ đã
qua, theo sát từng các sự kiện, những cuộc cách mạng song hành với việc lý giải
những bức xúc của hiện tại. Những hiện thực rộng lớn đã được soi chiếu từ nhiều
với những chiến thắng oai hùng, những nhân vật mang tính huyền thoại mà thay
vào đó là một cái nhìn trầm lắng sâu sắc hơn về thân phận con người trong chiến
tranh và sau chiến tranh. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai, Thời xa vắng của Lê Lựu là những tác phẩm ít nhiều đã chạm tới những
cách tân về nội dung biểu hiện cũng như hình thức trần thuật. Chúng ta dễ nhận ra
việc đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới cách nhìn là cơ sở quan trọng để có được
sự đa dạng về phong cách và giọng điệu với nhiều phương thức biểu hiện mới mà
trước đó chưa có, như sử dụng hiện thực tâm linh, yếu tố kì ảo, dòng ý thức.
Trong không khí hội nhập, với nhiều luồng văn hóa, ý thức cách tân của nhà
văn cũng trở nên phù hợp với sự phát triển của chính bản thân văn học và phù hợp
với nhu cầu đổi mới, khát vọng dân chủ trong xã hội. Các quy luật, các sự kiện của
lịch sử, của xã hội bắt đầu được nhìn qua lăng kính cá nhân mang màu sắc riêng
của mỗi cá tính sáng tạo, của mỗi nhân vật. Bên cạnh những tiểu thuyết về đề tài
chiến tranh thành công, tiểu thuyết về thế sự đời tư ngày càng chiếm tỉ lệ lớn.
Những tác phẩm như: Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Gặp gỡ cuối năm, Cha và
con và…(Nguyễn Khải), Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá
thú (Ma Văn Kháng), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Bến không chồng (Dương
Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Tường Thành
(Võ Thị Xuân Hà), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Thanh), Ngụ cư (Thùy
Dương), Người Sông Mê (Châu Diên), Dòng sông Mía (Đào Thắng)…. nghiêng
về khai thác những cảnh ngộ, số phận con người cả trong chiều thuận và nghịch của
nó, một hướng tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái đời thường của cuộc sống cá
nhân. Về mô hình tính cách, bên cạnh những con người anh hùng- con người cộng
đồng, đã xuất hiện con người thân phận, cá thể, con người mang bi kịch cá nhân.
Vấn đề tình dục là vấn đề rất đỗi bình thường của con người nhưng đó cũng là một
18
vấn đề vô cùng nhạy cảm. Ở giai đoạn trước vấn đề này ít được đề cập đến, nếu có
thì cũng rất tế nhị. Sang giai đoạn sau, nó đó được khai thác nhiều hơn và phong
phú hơn. Các tác giả Hồ Anh Thái ( Mười lẻ một đêm), Thuận (Chinatown, Pari
thuẫn. Dường như đó là bức tranh đời sống tinh thần của con người trong cuộc
sống hiện tại. Các nhà tiểu thuyết muốn đi tìm một lối thoát và lời giải cho những
bế tắc trong nội tâm của con người. Dấu hiệu cách tân mà chúng ta dễ nhận thấy ở
những cuốn tiểu thuyết theo khuynh hướng này là sự đổi mới trong nghệ thuật viết:
kết cấu phân mảnh, tính đa âm, sự va chạm các loại ngôn ngữ… Tất cả đều thể hiện
sự tìm tòi trong lối viết và khát vọng đổi mới của một thế hệ mới nhiệt tình, năng
nổ.
Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống. Nhưng sự phản ánh đó lại phụ
thuộc vào nhãn quan của mỗi nhà văn và quan niệm của từng thời đại. Có người
cho rằng văn học hôm nay có cái nhìn bi quan về con người và cuộc sống, con
người và cuộc sống vốn rất phức tạp nên không thể dùng một tiêu chí cố định để
mà áp đặt cho nó, mọi sự lí tưởng hóa đều làm cho nó trở nên giả dối và không thật.
Tuy nhiên, thể hiện những mặt trái của xã hội và con người không phải là cái nhìn
bi quan, mà bên cạnh đó là tiếng nói thẳng thắn, tạo niềm tin vào thiên lương, vào
những hạt mầm tốt đẹp ở đời, đấy mới là điều cao cả mà nhà văn hướng tới, để mỗi
nhà văn tự hoàn thiện mình, hoàn thiện ngòi bút của mình đóng góp hơn nữa cho
nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đưa tiểu thuyết đạt đến một trình độ nghệ
thuật cao hơn để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của mình: “Tiểu thuyết đang là
một nhu cầu cấp bách, khẩn cấp của đời sống văn học và bạn đọc. Tiểu thuyết sẽ
tồn tại mãi mãi với tầm cao văn hóa, nghệ thuật, cho con người, với tư cách là đại
biểu lương tri và ngôn ngữ dân tộc” [9, tr. 58].
M.Bakhtin cũng từng nhận định tiểu thuyết: “Đó là thể loại duy nhất nảy sinh
và nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới vì thế mà thân thuộc, sâu sắc
với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được kế thừa của thời đại
mới ở dạng đã hoàn tất, do đó tiểu thuyết phản ánh sâu sắc, cơ bản hơn, nhạy bén
20
hơn về hiện thực. Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi” [4, tr.25]. Nói ngắn
gọn, có thể hiểu rằng tiểu thuyết là một thể loại năng động, thích ứng và biến đổi
theo sự phát triển của từng thời đại. Tiểu thuyết biến đổi không có giới hạn, nên
Quân chính Quân khu 3 năm 1997. Từ năm 1997 đến năm 2001 Nguyễn Đình Tú
công tác tại Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 3. Từ năm 2001 anh về công tác tại
Ban Văn- Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hiện tác giả đang giữ các chức vụ: Phó ban
Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn. Phó Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Quân đội và
Trưởng ban Văn xuôi - Tạp chí Văn nghệ quân đội.
Các tác phẩm chính mà Nguyễn Đình Tú đã xuất bản: Bên bờ những dòng
chảy (tập truyện ngắn, 2001), Không thể nào khác được (tập truyện ngắn, 2002),
Nỗi ám ảnh khôn nguôi (tập truyện ngắn, 2003), Điệu Mambo hư ảo (tập truyện
ngắn, 2006), Hồ sơ một tử tù (tiểu thuyết, 2002), Bên dòng Sầu Diện (tiểu thuyết,
2005), Nháp (tiểu thuyết, 2008), Phiên bản (tiểu thuyết, 2009), Kín (tiểu thuyết,
2010). Trong đó tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù đã được chuyển thể thành phim truyền
hình dài tập có tựa đề Lời sám hối muộn màng trong seri phim Cảnh sát hình sự
phát sóng trên VTV1 năm 2006.
Trong quá trình hoạt động ở lĩnh vực văn chương, Nguyễn Đình Tú đã gặt
hái được khá nhiều thành công. Ngoài sự yêu mến, đón đợi từ phía độc giả còn có
thể kể đến một số giải thưởng như: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ
quân đội 1999- 2000 với các phẩm Bên bờ những dòng chảy, Qua sông, Những
chàng trai sống cùng hoa săng đắng, Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Công
an nhân dân phối hợp với Hội nhà văn năm 2002 với tác phẩm Hồ sơ một tử tù,
năm 2010 với tác phẩm Phiên bản. Giải thưởng 10 năm Bộ Công an với tiểu thuyết
Hồ sơ một tử tù. Giải thưởng 5 năm Bộ Quốc phòng với tiểu thuyết Bên dòng Sầu
Diện. Gần đây nhất tiểu thuyết Kín của Nguyễn Đình Tú cũng đã lọt vào vòng
chung khảo của hội Nhà văn Việt Nam năm 2011.
22
Nhà báo Dương Tử trong một bài viết đã gọi Nguyễn Đình Tú bằng biệt
danh “gã trai phố vác rìu” để miêu tả sự cần mẫn, chăm chỉ của anh trong nghề
viết: “Nguyễn Đình Tú là trai phố, chẳng nên ví gã như một gã tiều phu và gã cũng
chẳng thích được gọi là tiều phu, thế nhưng nếu “lỡ” phải ví như thế thì tôi vẫn
nghĩ đến hình ảnh một gã tiều phu miệt mài vung rìu giữa khu rừng có tên gọi cuộc
Chính khả năng nắm bắt hiện thực một cách nhanh nhạy này, mà ngay từ khi ra đời,
các phẩm của Nguyễn Đình Tú đã được người đọc đón nhận, là nguồn động lực lớn
để nhà văn tiếp tục với công việc sáng tác của mình.
Vì vậy, mặc dù sau nhiều năm, rất nhiều người cùng thời đã rời bỏ văn
chương hoặc coi văn chương như món đồ trang sức, thì Nguyễn Đình Tú vẫn ngụp
lặn vào chữ nghĩa, tìm kiếm những giá trị của ngôn từ, bỏ lại bên cạnh những toan
tính về bạc tiền hay những lo toan về đời sống. Bởi với anh ngoài tình yêu văn
chương, còn có sự dũng cảm dấn thân của một người cầm bút. Chính vì thế, mà trải
qua những thăng trầm thay đổi của thời gian, Nguyễn Đình Tú đã thực sự khẳng
định được vị trí của mình trong lòng người đọc.
1.2.2. Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú
Đại hội Đảng khóa VI (năm 1986) đã mở ra một cánh cửa mới cho văn học
nghệ thuật nói chung. Tiểu thuyết Việt Nam đứng trước những nhu cầu đổi mới tư
duy tiểu thuyết”, bắt đầu có những vận động nhất định về cả đề tài chủ đề lẫn
phương thức biểu hiện. Có thể nói, dòng chảy âm thầm và quyết liệt đổi mới của
tiểu thuyết Việt Nam vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Nguyễn Đình Tú khi
chọn thể loại “công nghiệp nặng” này để sáng tác. Trong thập niên đầu thế kỷ XXI,
Nguyễn Đình Tú đã ra mắt bạn đọc 5 cuốn tiểu thuyết: Hồ sơ một tử tù (2002),
Bên dòng Sầu Diện (2005), Nháp (2008), Phiên bản (2009), Kín (2010). Đó là nỗ
lực rất đáng ghi nhận của nhà văn này.
Tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù ban đầu có tên là Bên kia là cát bụi
được in năm 2002 ở Nhà xuất bản Công an nhân dân. Nội dung cuốn sách dường
24
như không có gì mới. Câu chuyện xoay quanh một kẻ tội phạm có tên Phạm Bạch
Đàn bị khép án tử hình sau quá trình diễn biến khá phức tạp để biến một thanh niên
nhà quê hiền lành chất phác trở thành một tên giết người nguy hiểm. Nhưng đọc
xong cuốn tiểu thuyết ta không có cảm giác như “thế là đã rõ”, “thế là xong việc”,
và rồi chúng ta có thể yên tâm bỏ cuốn sách xuống để chìm vào giấc ngủ hay thanh
thản bước vào những công việc thường nhật mà không còn bất kỳ sự vương vấn
chí là rất khác với những tiểu thuyết còn lại của Nguyễn Đình Tú. Cuốn sách tương
đối dễ đọc này là cách tiếp cận chiến tranh của một người lính trẻ, viết về chiến
tranh bằng chất giọng cảm thương, xót xa, điều mà ít cây bút cùng trang lứa với tác
giả quan tâm. Trong khi không ít người băn khoăn: “Viết về người lính không mấy
mặn mà?” thì hình ảnh sống động về chiến tranh, người lính, những con người đi ra
từ cuộc chiến trong Bên dòng Sầu Diện của Nguyễn Đình Tú là một cố gắng đáng
trân trọng.
Tiểu thuyết thứ ba có cái tên khá độc đáo: Nháp (Nxb Thanh niên, 2008),
với câu đề từ: “Cuộc đời nháp tôi bằng những số phận” [42, tr.5] nhà văn Nguyễn
Đình Tú gợi lên cho độc giả nhiều liên tưởng khi tiếp cận tác phẩm, đặc biệt là đối
với độc giả trẻ. Có thể hiểu Nháp tức là tiểu thuyết đang được nói đến một “thế hệ
Nháp” lúc giao thời của một đất nước, hoặc thi pháp tiểu thuyết được triển khai
dưới dạng bản nháp, hay những nhân vật đang thử nghiệm cuộc sống bằng cách
nháp cuộc đời mình dưới nhiều dạng thức…Và quả thật cuốn sách này đã lôi cuốn
ngay từ những trang đầu tiên với một giọng dẫn chuyện rất tự nhiên. Việc không
chia ra chương hồi cũng nằm trong dụng ý của tác giả nhằm thu hút sự liên tưởng
và kích thích sự đồng sáng tạo của độc giả. Những bất ngờ ở các quãng chuyển
đoạn và khả năng diễn tả những biến động tâm lý của nhân vật gây được hiệu quả
thẩm mỹ và chứng tỏ nội lực tiểu thuyết của nhà văn.
Mới ngỡ đầu như đây là cuốn sách viết về sex, bởi lẽ hơn 300 trang sách thì
có đến một phần ba là những trường đoạn nóng bỏng và phập phồng với những
cảnh huống ái ân. Có điều lạ là tác giả không bị lặp lại những hình ảnh chăn gối,
cảm xúc giao hoan hay vẻ đẹp của cơ thể con người. Ngay cả lạc thú đồng tính
tưởng như khó viết thì ngọn bút của tác giả cũng “vẽ” rất khéo, tưởng như dữ dội
26
mà chừng mực, tưởng như sa đà mà biết tiết chế. Điều này giúp cho “Nháp không
bị đánh giá là một cuốn “văn học sex” thông thường bởi Nháp đã mượn sex để bày
tỏ thái độ của một thế hệ đang muốn bung khởi khỏi những ẩn ức gia đình, những
áp chế xã hội và áp lực của cuộc sống đương đại” [34]. Thông qua sự biến đổi đầy