BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HUỆ
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT
NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN
CỦA TRẦN DẦN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THANH NGA
NGHỆ AN – 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………. 3
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………… 3
2. Lịch sử vấn đề…………………………………………………………………… 3
3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………… 6
4. Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu………………………………………… 6
5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………… …… 6
6. Cấu trúc của luận văn…………………………………………………… ……… 6
NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN, MỘT HIỆN TƯỢNG
ĐẶC BIỆT TRONG SÁNG TÁC CỦA TRẦN DẦN…………………………… 7
1.1. Vấn đề tiểu thuyết và tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 đến nay…………… 7
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết………………………………………………… …… 7
1.1.2. Tiểu thuyết Việt Nam 1945 – 1975…………………………………… 10
1.1.3. Tiểu thuyết Việt Nam từ 1975 đến nay…… ………………………… 13
1.2. Trần Dần - một trong những hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam hiện
đại………………………………………………………………………… ……… 17
1.2.1. Thời đại mà Trần Dần đã đi qua………………… …………… ………… 17
1.2.2. Hành trình số phận của Trần Dần…………………… ………… …… … 21
………………………………………………………………………… …… ….69
2.3.3. Tính biểu tượng trong những sắc màu………………… ………… ……… 71
3.3. Ngôn ngữ tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn……… … …………. 74
3.3.1. Ngôn ngữ được lạ hóa nhìn từ góc độ cú pháp………………… …………. 74
3.3.2. Ngôn ngữ giàu nhạc tính, chất thơ bởi các cấu trúc trùng điệp … … 78
3.3.3. Sự bất tuân các quy chuẩn chính tả tiếng Việt……………… … …………. 82
KẾT LUẬN…………………………………………………………… ………… 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO……
98
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trần Dần là một tác giả có số lượng tác phẩm lớn. Người ta biết đến ông
không phải bởi những lình xình quanh vụ án văn chương ông vướng phải mà trước hết
vì những cống hiến của ông cho văn học. Những tác phẩm của ông mang đến cho
người đọc sự cách tân mới mẻ. Ông thuộc số người đã ươm cái mầm đầu tiên về cách
tân trong sáng tác, làm mới mình và làm mới văn chương. Cho đến bây giờ dù nửa thế
kỷ đã trôi qua, các tác phẩm của ông vẫn mang một tư duy rất hiện đại.
1.2. Hầu hết các tác phẩm của Trần Dần đều có những điểm khác lạ mang dấu ấn
sâu sắc của nhà văn. Nhưng gây được chú ý hơn cả là tiểu thuyết Những ngã tư và
những cột đèn. Sự cách tân trong tiểu thuyết không chỉ nằm ở một yếu tố mà là nhiều
yếu tố khác nhau tạo nên một chỉnh thể vô cùng độc đáo. Lạ lẫm và cuốn hút là những
gì mà tiểu thuyết đưa đến cho người đọc, từ ngôn ngữ đến nhân vật, từ cách kể đến
cách viết đều rất mới mẻ. Nghiên cứu đặc điểm tiểu thuyết là làm nổi bật lên những sự
mới mẻ ấy và quan trọng hơn là chúng ta thấy được cống hiến của Trần Dần đối với
tiểu thuyết Việt Nam.
1.3. Thông thường tác phẩm của Trần Dần khó cảm nhận bởi vậy ý kiến của mọi
người là khác nhau, không phải ai cũng có thể cảm nhận được tức thì. Vì vậy việc giải
mã những cách tân trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn giúp mọi người
hiểu khái quát nhất về tác phẩm, đề tài “ Đặc điểm tiểu thuyết Những ngã tư và những
này không khó đối với ngòi bút Trần Dần. Nếu an phận, nộp quyển và quên đi nhanh
chóng cái viết ra đó. Nhưng ông đã không làm thế. Trần Dần, nhà văn luôn táo bạo
quyết liệt trong từng câu chữ, hiểu theo nghĩa đen và nghĩa bóng, trong từng cái viết.
Viết, với ông, bao giờ cũng là phải mới, phải khác, phải cách tân. Vì vậy, kết quả
chuyến thực tế ấy, dưới tay ông đã trở thành tiểu thuyết Những ngã tư và những cột
đèn. Trần Dần đã giải bài toán văn chương một cách xuất sắc”. Cũng theo Phạm Xuân
Nguyên, “Những ngã tư và những cột đèn là cuốn tiểu thuyết sau gần nửa thế kỉ mới
5
được xuất bản, nhưng đọc rất mới, đọc rồi lại vẫn mới, vẫn bất ngờ trước từng trang,
vẫn không dễ nắm bắt nội dung” [45].
Lại Nguyên Ân cũng bất ngờ không kém: “Tôi hoàn toàn bất ngờ vì cuốn tiểu
thuyết này. Vẫn biết sự nghiệp Trần Dần lớn và rất đa dạng, nhưng không thể ngờ ông
lại hiện đại đến thế. Tôi chỉ xét đơn thuần về mặt tác phẩm, đây có thể coi là một cuốn
tiểu thuyết trinh thám viết rất chuyên nghiệp, rất hấp dẫn với bạn đọc bình thường.
Các tuyến nhân vật được cài cắm lớp lang và tâm lý nhân vật đặc biệt là tâm lý tội
phạm, được nghiên cứu và trình bày rất khéo, đúng với kiểu tâm lý học hiện đại mà
các tiểu thuyết trinh thám phương Tây vẫn hay dùng. Có thể đọc một mạch từ đầu đến
cuối cuốn tiểu thuyết này vì sự hấp dẫn đó của nó. Ngay từ thời điểm ông đặt bút viết
vào năm 1964, ông đã dùng kĩ thuật tự sự đa chủ thể (nhiều nhân vật cùng kể chuyện)
– một kĩ thuật rất tiên tiến của văn chương thế giới cùng thời, mà chúng tôi – lúc đó
đang ngồi trên ghế giảng đường đại học – chưa hề được nghe các giáo sư nhắc tới,
mãi đến năm 1980 mới được biết đến qua các bản dịch tiếng Nga. Người đọc nắm bắt
câu chuyện rất thoải mái dù nó không đơn giản đó là vì nhà văn luôn chuyển vai kể
vào một thời điểm chính xác và bằng ngôn ngữ nhân vật rất đặc trưng cho từng cá
tính. Có những khi nhà văn sử dụng ngôn ngữ điêu luyện đến độ tôi chỉ có thể thán
phục một cách sung sướng vì được thưởng thức kĩ thuật của một bậc thầy: đó là đoạn
Dưỡng đến nhà mẹ xin đón vợ về sau khi bị cô giận dỗi bỏ đi. Bà mẹ cứ chửi sa sả,
vừa nghiệt ngã vừa chứa chan yêu thương, còn thằng con trời đánh cứ tưng tửng chửi
phụ với mẹ, mà nó tự chửi nó giống như ai đó đang nói về một thằng khác nữa, chứ
không phải vẫn thằng con trai ấy đang nói về chính nó. Ngôn ngữ ở đây ra hết chất
7
Chương 1
NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN,
MỘT HIỆN TƯỢNG ĐẶC BIỆT
TRONG SÁNG TÁC CỦA TRẦN DẦN
1.1. Vấn đề tiểu thuyết và tiểu thuyết Việt Nam 1945 đến nay
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại mà cho đến nay những vấn đề xung quanh nó còn có
nhiều tranh cãi, khái niệm tiểu thuyết chưa hoàn toàn thống nhất, với những hướng
khác nhau các nhà nghiên cứu đưa ra quan điểm của mình về tiểu thuyết cùng những
đặc điểm của nó. Theo M.Bakhtin: “Tiểu thuyết là thể loại sinh sau đẻ muộn, do đó nó
gắn liền với những thể loại có từ trước đó” và ông cho rằng dịch thuật tự do là cơ sở
tạo nên nó. “Tiểu thuyết là thể loại đang chuyển biến và chưa định hình. Những lực
cấu thành thể loại còn đang hoạt động trước mắt chúng ta, thể loại tiểu thuyết ra đời
và trưởng thành dưới ánh sáng thanh thiên bạch nhật của lịch sử. Nòng cốt của thể loại
tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán hết khả năng uyển chuyển
của nó” [4, 18], và “tiểu thuyết là thể loại ở thời hiện tại, một thể loại. đang vận động
và phát triển. Nó tiểu thuyết với tư cách như một thể loại đang vận động và phát triển.
Nó tiểu thuyết với tư cách như một thể loại chủ đạo của văn học hiện đại, nó giễu nhại
và thu hút các thể loại khác vào nó. Điều đó làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết có tính đa
thanh, các lớp ngôn ngữ soi sáng và bổ sung cho nhau (ngôn ngữ dân tộc, thổ ngữ,
phương ngữ…) thiết lập nên một quan hệ mới giữa ngôn ngữ và thế giới hiện thực”
[4, 24]. Nhà nghiên cứu Bêlinxki cho tiểu thuyết là “sự tái hiện thực tại với sự thực
trần trụi của nó”, là “xây dựng một bức tranh sinh động toàn vẹn và thống nhất”.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thể loại tiểu thuyết xuất hiện khá sớm với công
trình “Bàn về tiểu thuyết” của Phạm Quỳnh trên Tạp chí Nam Phong năm 1921, Phạm
Quỳnh cho rằng: “tiểu thuyết là một loại truyện viết bằng văn xuôi, đặt ra để tả tình tự
8
người khác, phong tục xã hội hay những sự tích lạ đủ làm người đọc có hứng thú” [42,
42].
như Tấn trò đời của Banzắc, Tội ác và trừng phạt của Đôxtôiepxki… Ở Việt Nam tiêu
biểu là Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố… và các tác giả tiểu thuyết sau này.
Nhân vật nếm trải trong tiểu thuyết là đặc điểm khác biệt để nhận diện nhân vật
tiểu thuyết, sử thi hay truyện trung cổ… Qua nhân vật thể hiện tư tưởng cách nhìn của
nhà văn, do vậy tiểu thuyết đi sâu vào khai thác từng mảnh đời, từng góc khuất trong
tâm hồn con người với những suy tư, dằn vặt, trăn trở, đấu tranh, tự ý thức để vươn
lên trong cuộc sống. Nếu trong sử thi và các thể loại khác, nhân vật gắn liền với hành
động và thông qua hành động bộc lộ tính cách và nói lên tư tưởng của mình. Nhân vật
trong tiểu thuyết hành động trong sự chi phối của hoàn cảnh để từ đó dẫn đến trải
nghiệm trong cuộc đời cùng bao suy nghĩ, hạnh phúc và đau khổ, là “con người trong
con người” (Bakhtin). Có thể tìm thấy những nhân vật này trong các tác phẩm của
Nam Cao, Nguyễn Tuân…
Trong tiểu thuyết khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật được rút ngắn. Khác
với sử thi, người trần thuật chỉ có một thái độ ca ngợi, ngưỡng mộ quá khứ điều này
tạo khoảng cách với nhân vật, là khoảng cách sử thi. Đối với tiểu thuyết, người trần
thuật có thể tiếp xúc, nhìn nhận nhân vật một cách gần gũi. Qua đó nhà văn thâm nhập
vào trong đời sống của con người để có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn, nội tâm
của nhân vật được khai thác trên nhiều khía cạnh khác nhau thể hiện qua ngôn ngữ
trần thuật. Sự gần gũi giữa người trần thuật với nhân vật “chính điều này đã tạo ra một
khu vực hoàn toàn mới của việc xây dựng hình tượng tiểu thuyết – khu vực tiếp xúc
gần gũi tối đa giữa đối tượng miêu tả với thực tại dang dở hôm nay và vì thế mà cả
tương lai” [4, 69].
Với dung lượng lớn, phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống, tiểu thuyết có
khả năng tổng hợp nhiều nhất loại hình nghệ thuật khác. Nó có thể dung nạp thông
qua ngôn từ nghệ thuật, phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ,
kịch… các thủ pháp nghệ thuật của những loại hình nghệ thuật ngoại biên như hội
hoạ, điêu khắc, âm nhạc và thậm chí cả những bộ môn khoa học như tâm lý học, đạo
10
đức học, khoa học viễn tưởng… “Tiểu thuyết cho phép đưa vào, lắp ghép vào trong
nó nhiều thể loại khác nhau, cả những thể loại nghệ thuật (những truyện ngắn, những
Nam thì tiểu thuyết lại là thể loại sinh sau đẻ muộn so với các thể loại khác. Đầu thế
kỷ XX xuất hiện các tiểu thuyết như: Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh, Tố
tâm của Hoàng Ngọc Phách, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng của Nhất Linh, Hồn
bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân của Khái Hưng… Sau đó có các tiểu thuyết hiện thực
phê phán của các nhà văn Vũ Trọng Phụng với Số đỏ, Nam Cao với Sống mòn… Tiểu
thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 phát triển trên cơ sở truyền thống và tiếp thu
từ những thành tựu trước đó, tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử của nước nhà, tiểu thuyết
đã tự rẽ sang hướng khác để đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần dân tộc trong
chiến tranh. Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ sự giao lưu quốc tế bị thu hẹp, chủ yếu
là ảnh hưởng từ Liên Xô, Trung Quốc. Sự tiếp thu và ảnh hưởng của văn học trước
đó, cùng với hoàn cảnh đất nước phải chống hai kẻ thù xâm lược lớn, thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, từ những nguyên nhân và hoàn cảnh đó tiểu thuyết 1945 -1975 đậm
khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, người ta quan tâm nhiều đến con người
cộng đồng hơn con người đời tư, tư duy sử thi đã trở thành tư duy nghệ thuật chủ đạo
trong sáng tác. Tư duy sử thi chi phối đặc điểm của tiểu thuyết giai đoạn này trên các
phương diện: đề tài, nhân vật, giọng điệu, kết cấu…
Cảm hứng lãng mạn kết hợp với khuynh hướng sử thi tạo nên một chủ nghĩa
lãng mạn anh hùng. Văn học giai đoạn 1945 – 1975 là văn học của những sự kiện lịch
sử, của số phận toàn dân. Do vậy mục đích của văn học giai đoạn này nói chung, của
tiểu thuyết nói riêng là phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu. Văn học phục vụ chính trị
nên quá trình vận động và phát triển hoàn toàn ăn nhịp với từng bước đi của cách
mạng, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước, ca ngợi khôi phục kinh tế, xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước. Với tinh thần đấu tranh cùng cảm hứng yêu nước, các nhà văn
hăng say viết về cuộc chiến đầy gian khổ mà anh dũng của nhân dân ta. Nhân vật
trung tâm của các sáng tác trong giai đoạn này là những con người đại diện cho giai
12
cấp dân tộc, thời đại và kết tinh phẩm chất cao quý của cộng đồng. Các nhà văn không
đứng trên lập trường cá nhân, nhìn bằng con mắt riêng mà đứng trên lập trường chung
của cả cộng đồng để xây dựng nhân vật anh hùng lý tưởng mang vóc dáng, sức mạnh,
Tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 - 1975 phát triển mạnh mẽ (trong khuôn khổ
nhiệm vụ của nó), có những thành công đáng kể, xây dựng khối lượng sáng tác đồ sộ
cùng đội ngũ nhà văn đông đảo. Phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt, tiểu thuyết Việt
Nam đã đạt được bước tiến mới về nội dung và nghệ thuật, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ trước lịch sử. Tuy nhiên tiểu thuyết giai đoạn này vẫn không tránh khỏi những hạn
chế nhất định, đường lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng phần nào gò bó sự sáng tạo độc
lập của nhà văn, cái nhìn một chiều của con người đã chi phối đến nhiều cấp độ của tư
tưởng nghệ thuật. Tiểu thuyết giai đoạn này mới chỉ dừng lại miêu tả cái bên ngoài
của sự kiện, của nhân vật, nhất là hình tượng nhân vật tập thể chưa đi sâu vào lý giải
bản chất bên trong sự kiện hay phân tích tính cách nhân vật. Bên cạnh những tác
phẩm mang đậm khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn cũng xuất hiện những tác
phẩm đi trật ra khỏi đường ray của văn học chính thống, phá bung mọi quy phạm của
tiểu thuyết sử thi như: Miền hoang tưởng của Đào Nguyễn… điển hình là tiểu thuyết
Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần, một tác phẩm mang đầy đủ đặc điểm
của tiểu thuyết thế giới, những tác phẩm như vậy trong giai đoạn này là không nhiều.
Nhìn chung tiểu thuyết giai đoạn này nếu đặt vào hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ và so
sánh với tiểu thuyết giai đoạn trước thì nó đã góp phần không nhỏ trong công cuộc
đấu tranh chống giặc bảo vệ tổ quốc và kho tàng văn học nuớc nhà.
1.1.3. Tiểu thuyết Việt Nam 1975 đến nay
Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nước ta thống nhất và bước sang trang sử
mới, giai đoạn khôi phục đất nước sau chiến tranh. Thời gian này đất nước, xã hội và
con người Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách, đối diện với nền kinh tế khủng
hoảng, trang thiết bị kĩ thuật nghèo nàn, lạc hậu. Bên cạnh những khó khăn đó, đất
nước tự do mở ra nhiều cơ hội cho việc giao lưu, hội nhập với thế giới về kinh tế, văn
hoá… Đây là điều kiện để sáng tác nghệ thuật phát triển trong sự tiếp thu những ảnh
14
hưởng văn hoá nghệ thuật khác nhau của nhiều quốc gia, mở ra một không gian cho
các nhà văn tiếp nhận luồng tư tưởng và thể loại văn học mới. Bước ra từ chiến tranh,
con người trở về với cuộc sống yên bình nhưng mặt khác hậu quả của chiến tranh quá
nặng nề, họ phải đối mặt với sự thay đổi của hiện thực xã hội, chính vì vậy quan niệm
rọi, đó không chỉ là chiến thắng mà còn có thương đau, mất mát. Nhân vật hiện lên
đầy đủ hơn với nhiều chiều cạnh khác nhau không còn là con người lý tưởng cách
mạng dưới cái nhìn một chiều của nhà văn.
Bước ra khỏi chiến tranh sống trong hoà bình, đất nước có sự thay đổi về diện
mạo, người ta nhận ra sự phức tạp của xã hội, cuộc sống bon chen, giá trị đạo đức
thay đổi. Với thời đại nhiều biến đổi như vậy, con người cần đổi mới để phù hợp, bên
cạnh ca ngợi là phê phán, phản ánh, miêu tả khách quan những mặt xấu, hạn chế của
con người đời thường. Do vậy ngoài cảm hứng chiêm nghiệm lại quá khứ lịch sử, tiểu
thuyết giai đoạn này xuất hiện cảm hứng phê phán xã hội, các nhà văn quan tâm đến
đề tài đời tư thế sự. Con người đời thường và con người bình thường được chú ý thể
hiện sâu sắc với số phận bất hạnh, những thân phận bi kịch. Các tác giả đi sâu vào
khám phá con người, đặt con ngưòi trong tổng hoà các mối quan hệ xã hội chính vì
vậy trong các tiểu thuyết xuất hiện con người phức tạp, nhiều chiều, con người đầy
mâu thuẫn với thế giới nội tâm, con người già dặn hơn sau những trải nghiệm, vấp ngã
của mình. Tính hai mặt của cuộc sống, của con người được khai thác rõ nét trong
Thời xa vắng (Lê Lựu), Côi cút giữa cảnh đời, Đám cưới không có giấy giá thú,
Ngược dòng nước lũ (Ma Văn Kháng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất
lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm
(Chu Lai)…
Tiểu thuyết giai đoạn 1975 đến nay mang nhiều đặc điểm khác với giai đoạn
trước. Nếu như giai đoạn trước nhìn hiện thực bằng cái nhìn của cả cộng đồng thì bây
giờ tiểu thuyết phản ánh hiện thực dưới góc độ đời tư. Các nhà văn đề cập đến nhiều
vấn đề, góc cạnh xã hội, cuộc sống gia đình, đạo đức, sự ngẫu nhiên may rủi trong đời
người… Chính vì vậy nhân vật ở mỗi tác phẩm mang trong mình giá trị riêng, nhân
cách riêng và được đánh giá dưới con mắt hiện thực trần trụi. Tiểu thuyết đã nhìn
16
thẳng vào thế giới hiện thực, nhìn vào cái chưa hình thành và cái đang hình thành để
bóc trần tất cả từ cuộc sống đến con người. Với xu hướng ấy một loạt các tác phẩm
được ra đời: Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Một cõi nhân gian bé tí
(Nguyễn Khải), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Ông cố vấn – hồ sơ
đẫm cảm hứng nhân văn. Về phương diện cốt truyện, xây dựng những xung đột gay
gắt trên cái bình thường, nhỏ nhặt trong đời sống, gây cảm giác như là không có
chuyện. Trên phương diện nội dung phản ánh, tiểu thuyết sau 1975 đa dạng hơn
những giai đoạn trước. Có thể nói tiểu thuyết giai đoạn này có bước phát triển mạnh
mẽ, tuy nhiên có những lúc bị chững lại. Dù vậy ta cũng không thể phủ nhận nỗ lực
của những người cầm bút trong công cuộc làm mới thể loại.
Thực ra, những gì vừa nói trên đây, nhiều khi chỉ là câu chuyện "biết rồi, khổ
lắm, nói mãi". Có thể có những ngờ vực về sự cần thiết của việc phác thảo trở lại một
và nét của tiểu thuyết Việt Nam từ 1945 đến nay. Tuy nhiên, bởi Những ngã tư và
những cột đèn đã được sáng tác từ năm 1966, trong bối cảnh của tiểu thuyết cách
mạng, và đưa i vào những thập niên cuối của thế kỉ XX, trong bối cảnh xôn xao của
những đổi mới cho nền văn học hậu chiến. Viết lại những điều trên, chúng tôi muốn
từ đó sẽ soi tỏ thêm nhiều vấn đề của tác phẩm, nhất là ở những cách tân. Những ngã
tư và những cột đèn hiển nhiên đã vượt khỏi những giới hạn chật chội của "một nền
văn nghệ minh họa" ở thời điểm nó được viết ra. Thêm nữa, trong bối cảnh hiện nay,
nó vẫn lấp lánh ánh sáng của tính độc đáo, cách tân. Và trong khi khi người ta không
ngừng cổ xúy cho những tác phẩm khác thuộc dòng "đổi mới", thì những đánh giá về
tiểu thuyết này của Trần Dần có lẽ chưa được tương xứng lắm với những đóng góp
của ông, qua cuốn sách này.
1.2. Trần Dần – một trong những hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam hiện
đại
1.2.1. Thời đại mà Trần Dần đã đi qua
Trần Dần (1927 – 1995) sinh ra trong thời đại với những biến động của lịch sử.
Đó là những khúc quanh đầy sóng gió của lịch sử mà còn tác động đến số phận của
18
từng cá nhân. Trần Dần là nhà văn có trách nhiệm sâu sắc với con người nên cuộc đời
và tác phẩm của ông chịu nhiều cay đắng.
Đất nước ta 1900 – 1945 đang chịu cảnh đô hộ của thực dân Pháp và nhà nước
phong kiến. Xã hội rối ren, nhân dân lầm than cơ cực một cổ hai tròng, sưu cao thuế
nặng, kinh tế và văn hoá bị kìm hãm bởi chính sách ngu dân mà thực dân Pháp đề ra.
việc mô tả khí thế hào hùng của dân tộc, về tiểu thuyết có Xung kích của Nguyễn Đình
Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm… Tuy nhiên không
ít nhà văn băn khoăn với đường lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng đề ra, “người ta im
lặng, hoặc cảm thấy bứt rứt vì không thể viết như cũ, nhưng cũng không thể viết được
cái mới như ý muốn của mình” [34, 334] và “đem nghệ thuật phục vụ chính trị có phải
là rẻ rúng nghệ thuật không? Quần chúng có khả năng thưởng thức nghệ thuật không?
[34, 337-338]. Và Trần Dần là một trong những trường hợp ấy, ông muốn mang sức
mình để phục vụ đất nước, nhưng là một văn nghệ sĩ ông không chịu nổi sự gò bó
chèn ép của các cán bộ chính trị, lấy ý kiến riêng làm định hướng chung sáng tác cho
các nhà văn. Tuy nhiên thời gian này ông vẫn chưa phá bức tường ấy để tự do sáng
tạo.
Năm 1954, cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp kết thúc với chiến thắng
Điện Biên Phủ, đây là sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc, miền Bắc hoàn toàn giải
phóng đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân, lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, nhằm giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất đất nước. Trong văn học,
chiến thắng Điện Biên Phủ trở thành đề tài lớn, hàng loạt các tác phẩm ra đời mang
âm hưởng hào hùng của cuộc chiến. Tiểu thuyết đầu tiên viết về chiến thắng Điện
Biên Phủ là Người người lớp lớp của Trần Dần, tác phẩm được viết ngay sau khi
chiến dịch kết thúc, tạo dựng lại một cách đầy đủ nhất về cuộc chiến tranh nhân dân
và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Sau Người người lớp lớp có Cửa sông của Nguyễn
Minh Châu, Thồ lên Điện Biên của Đào Phương, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai…
Văn học những năm về sau càng phát triển mạnh mẽ hơn với lực lượng sáng tác đông
đảo và số lượng tác phẩm đồ sộ: Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Hòn Đất của
20
Anh Đức, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu… Nhìn chung văn học thời kì
này gắn liền với vận mệnh của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần chiến đấu
của nhân dân. Cũng trong thời kì này, Trần Dần đã rẽ sang một hướng khác để sáng
tác, ông muốn viết lên những tác phẩm mà một ngày có cả nửa sáng và nửa tối, cũng
như viết về con người có cả phần người và phần thú. Trần Dần luôn khát khao sáng
trong góc tối với những ám ảnh của quá khứ, với bao suy tư, phiền muộn một đời
sóng gió. Số phận ông như như tảng băng trôi, luôn chìm trong những trớ trêu và nỗi
bất hạnh. Người ta nhớ đến Trần Dần không chỉ với các tác phẩm dị biệt mà còn là
cuộc đời đầy biến cố. Năm mười chín tuổi ông bắt đầu làm thơ mang hơi hướng của
Thơ Mới với bài Chiều mưa trước cửa và Hồn xanh dị kì. Nhưng lúc đó cả nước ta
đang trong công cuộc đấu tranh chống giặc Pháp gian khổ và ác liệt. Ông trở về quê
tham gia cuộc chiến với công tác tuyên truyền ở huyện Vụ Bản (Nam Định) rồi làm
việc ở Sở tuyên truyền khu IV. Khi quê hương Nam Định của ông bị Pháp chiếm
đóng, ông xung phong vào bộ đội và được cử lên Sơn La năm 1948. Trong thời gian
này ông tham gia Vệ quốc quân ở ban chính trị trung đoàn 148 Sơn La, làm công tác
tuyên truyền, làm báo và phụ trách văn công. Ông được các văn nghệ sĩ trong trung
đoàn vô cùng yêu mến. Với tinh thần cùng nhiệt huyết của người trai trẻ, ông được kết
nạp Đảng vào năm 1949. Tuy nhiên với một tư tưởng đổi mới mạnh mẽ, Trần Dần sẵn
sàng nói lên quan điểm sáng tác của mình trong khi giảng về văn nghệ nhân dân và
đường lối của Đảng đối với văn nghệ trong lớp đào tạo cán bộ văn công, chính vì vậy
ông đã bị phê bình, khiển trách.
Năm 1954, khi tham gia kháng chiến ở mặt trận Điện Biên Phủ, chứng kiến sức
mạnh của nhân dân trong cuộc chiến đấu, cùng với sự hi sinh anh dũng của người
đồng chí Tô Ngọc Vân, ông đã sáng tác tiểu thuyết Người người lớp lớp để ghi lại
khoảnh khắc hào hùng và oanh liệt ấy. Tiểu thuyết Người người lớp lớp xuất hiện trên
văn đàn, Trần Dần đựơc yêu mến trở lại, ông được cử sang Trung Quốc để thuyết
minh cho phim Chiến thắng Điện Biên Phủ, cùng đi trong đoàn có Đỗ Nhuận. Trong
quá trình công tác tại Bắc Kinh, Trần Dần không được tự do viết lời văn trong bản
22
thuyết minh mà phải viết theo yêu cầu của cấp trên. Chính vì thế khi từ Bắc Kinh trở
về trong tư tưởng của ông dần thay đổi, nhen nhóm một hướng đi mới cho mình.
Trong nhật kí ông có ghi: “Cơ quan văn nghệ chưa có gì thay đổi. Vẫn những tư
tưởng: “coi rẻ lao động nghệ thuật”, “đơn giản coi văn nghệ bộ đội là bộ đội, không
tin văn nghệ” vẫn những chính sách gò bó, mệnh lệnh và máy móc “quân sự hoá văn
nghệ”. Đời tôi chìm chết trong cuộc sống này, cũng như những anh em khác. Khó
để ghi lại khoảnh khắc cuộc đời ông và hơn nữa nó là phương thức để ông làm vơi bớt
nỗi buồn cất giấu trong sâu thẳm trong tâm hồn. Ông nói: “mình ngồi ba chục năm
quen rồi. Ngồi mà vẫn đi, vẫn ngao du. Mình có cuốn “sổ bụi”, sổ “ngao du”. Mình đi
chơi lang thang trong cuốn sổ này. Đây là sổ để ghi tất cả những gì mới nghĩ ra. Có
khi ngoài cả ý thức. Đó là cách đi của mình”.
Cuộc đời Trần Dần cái mất nhiều hơn cái được, hi sinh nhiều hơn sự sống, đó là
cả chuỗi những đau khổ, day dứt trong tâm hồn, những năm tháng đời ông như một
bản nhạc trầm nhiều hơn bổng. Với bản lĩnh của mình, ông đã vuợt qua mọi rào cản
của cuộc sống, vượt lên chính bản thân mình để cầm bút, để viết lên những cái còn
mong mỏi trong khát vọng với nghệ thuật. Con người Trần Dần dù bất hạnh hay
không thì ông luôn giữ vững quan niệm của mình đối với văn nghệ, sống phải biết
sáng tạo, biết làm mới những cái cũ, và ông cũng biết tạo cho mình cái tự do cần có
của một nhà văn, đó là sự tự do về không gian, thời gian, quan trọng hơn là tự do về tư
duy sáng tác.
1.2.3. Sự nghiệp văn học của Trần Dần
Trần Dần sống và sáng tác trong bóng tối, sau vụ án Nhân văn các tác phẩm của
ông hầu như không được xuất bản do người ta vẫn còn e dè những vấn đề liên quan
đến chính trị, vì vậy sự nghiệp sáng tác lớn nhưng ông lại ít được người đọc biết đến.
Khi ông mất đi người ta tìm được tổng cộng hơn 200 hồ sơ (soạn di cảo), và nhiều tác
phẩm chưa được in.
Khi vừa trưởng thành Trần Dần đã bắt đầu viết, với tác phẩm đầu tay Chiều
mưa trước cửa (1943), Hồn xanh dị kì (1944), đánh dấu chính thức sự xuất hiện của
ông trên văn đàn. Năm 1946, Trần Dần lập nhóm thi sĩ tượng trưng cùng anh em Vũ
24
Hoàng Chương, Vũ Hoàng Địch, Trần Mai Châu, Đinh Hùng với tuyên ngôn sáng tạo
phá vỡ mọi cùn mòn, định kiến: “Chúng tôi, một đoàn vong gia thất thổ, đã đầu thai
nhằm lúc sao mờ…”. Đến 19/12/1946, ông cùng nhóm Dạ Đài ra số báo Dạ Đài 1.
Trần Dần đích thân chấp bút bản tuyên ngôn “Chôn Thơ Mới”. Kháng chiến bùng nổ,
mọi người dồn sức chiến đấu chống kẻ thù. Trần Dần từ con người thi sĩ chuyển sang
con người “chiến sĩ”, làm tuyên truyền, tham gia vào các lớp bồi dưỡng chính trị. Để