đặc điểm tiểu thuyết vi hồng - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

THIỀU THỊ PHƢƠNG NGA

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT VI HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học 1 : PGS. TS Đào Thuỷ Nguyên
Người hướng dẫn khoa học 2 :TS. Cao Thị Hảo
Thái nguyên năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 1

3.1.2 Yếu tố ngoài cốt truyện. 92
3.2. Nhân vật. 96
3.2.1. Khắc hoạ nhân vật qua yếu tố ngoại hình. 97
3.2.2 Khắc hoạ nhân vật qua tính cách, nội tâm 101
3.2.3 Khắc hoạ nhân vật qua hình ảnh thiên nhiên. 107
3.3 Nghệ thuật ngôn từ 115
3.3.1 Hệ thống từ ngữ gắn với cuộc sống và con người miền núi. 115
3.3.2 Ngôn từ giàu hình ảnh, giàu chất thơ 118
KẾT LUẬN 122
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, mảng văn học các dân tộc thiểu số
tuy chiếm một tỉ lệ khiêm tốn nhưng lại có một vị trí quan trọng, góp phần không
nhỏ làm nên diện mạo phong phú của nền văn học Việt Nam hiện đại. Vì vậy việc
nghiên cứu mảng văn học miền núi là một việc làm cần thiết khi dựng lại bức tranh
toàn cảnh văn hoá, văn học Việt Nam, nhất là trong thời kì hiện đại.
1.2 Trong đội ngũ nhà văn dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, Vi Hồng là một
cái tên được nhiều người biết đến. Tác phẩm của ông không chỉ được khẳng định ở
trong nước mà giá trị của nó còn vượt ra ngoài biên giới quốc gia (tác phẩm Vãi
Đàng của Vi Hồng được dịch ra tiếng Nga in trong “Tuyển tập chọn lọc 6 nhà văn
châu Á” được ấn hành tại Liên Xô cũ). Tính từ tác phẩm đầu tay năm 1959 đến lúc
nhà văn qua đời năm 1997, Vi Hồng đã sáng tác được một số lượng tác phẩm không
nhỏ, ở nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, tiểu luận, phê

2. Ma Thị Ngọc Bích (2004), Thế giới nhân vật trong tác phẩm của Vi
Hồng, luận văn thạc sĩ.
3. Phạm Mạnh Hùng (2006), Bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ tác phẩm Vi
Hồng, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 4.
4. Phạm Mạnh Hùng, Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Vi Hồng, tạp chí
Nghiên cứu Văn học số 2.
5. Ngô Thu Thuỷ (2006), Giọng điệu trần thuật trong một số tiểu thuyết
của Vi Hồng, kỉ yếu HTKH khoa Ngữ văn trường ĐHSPTN.
6. Lâm Tiến (2006), Cách viết tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng, tạp chí
Non nước Cao Bằng số 3.
7. Phạm Mạnh Hùng (2006), Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi
Hồng, đề tài nghiên cứu KH cấp bộ.
8. Vũ Tú Anh (2006), Tiểu thuyết Gã ngược đời của Vi Hồng, kỉ yếu HTKH
khoa Ngữ văn trường ĐHSPTN.
9. Nguyễn Long (2006), Người trong ống của Vi Hồng, kỉ yếu HTKH khoa
Ngữ văn trường ĐHSPTN.
10. Dương Thị Xuân (2007), Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi
Hồng, luận văn thạc sĩ.
11. Nguyễn Thị Thu Hương (2008), Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết
của Vi Hồng, luận văn tốt nghiệp đại học.
12. Phạm Duy Nghĩa (2009), Đặc điểm văn xuôi Vi Hồng, tạp chí Hội Nhà
văn Việt Nam. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Những công trình nghiên cứu về nhà văn Vi Hồng kể trên đã chú ý và phát
hiện được một số phương diện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết
của nhà văn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Về nghệ thuật:
Hai phương diện được các tác giả đi trước chú ý nghiên cứu là ngôn ngữ và
nghê thuật xây dựng nhân vật.
Về phương diện ngôn ngữ: Các tác giả (nhất là tác giả Nguyễn Thu Hương trong
khóa luận tốt nghiệp đại học Đặc điểm ngôn ngữ trong tiểu thuyết Vi Hồng) đã
nghiên cứu các phương thức tu từ và nghiên cứu trên 2 cấp độ của ngôn ngữ trong tác
phẩm là từ ngữ và lời văn. Từ đó chỉ ra một số đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ trong
tiểu thuyết của Vi Hồng. Có thể nói đây là phương diện nghệ thuật được nghiên cứu
một cách toàn diện, sâu sắc nhất trong tiểu thuyết của nhà văn Vi Hồng. Chính vì vậy
trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ dành một dung lượng nhỏ viết về
phương diện này trên cơ sở kế thừa và cố gắng phát hiện thêm một vài yếu tố mới khi
đặt Vi Hồng trong thế đối sánh với ngôn ngữ tiểu thuyết của Triều Ân và Cao Duy Sơn
để làm rõ thêm đặc trưng ngôn ngữ tiểu thuyết của Vi Hồng.
Phương diện nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng đã được Phạm Mạnh Hùng
chú ý đến. Tuy nhiên tác giả chỉ nhấn mạnh tới những tới những thành công của Vi
Hồng ở nghệ thuật miêu tả nhân vật qua ngoại hình và ngôn ngữ mà chưa khai thác
những mặt hạn chế (dù không nhiều) về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu
thuyết của Vi Hồng. Các phương diện được tác giả công trình nghiên cứu cũng mới
chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và khá sơ sài (nghiên cứu phương diện miêu tả
ngoại hình, tác giả chỉ dừng lại ở chưa đầy một trang viết). Trong công trình của
mình, chúng tôi không chỉ đi sâu nghiên cứu các phương diện ngoại hình, nội tâm
mà còn phát hiện ra một đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng nhân vật của Vi
Hồng là miêu tả, khắc hoạ nhân vật qua hình ảnh thiên nhiên. Đồng thời, bên cạnh
việc khẳng định những nét độc đáo, đóng góp của nhà văn trong tiến trình phát triển
của văn xuôi miền núi nói chung và của thể loại tiểu thuyết nói riêng, chúng tôi
cũng chỉ rõ những hạn chế trong cách xây dựng nhân vật của Vi Hồng.
Nhà nghiên cứu Lâm Tiến đã chỉ ra một số nét riêng trong cách viết tiểu thuyết

nội dung và nghệ thuật.
- Phạm vi nghiên cứu: Vi Hồng sáng tác ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, kịch,
truyện vừa, truyện ngắn… Tuy nhiên, do điều kiện thời gian và khuôn khổ của đề
tài chúng tôi chỉ nghiên cứu các tác phẩm thuộc thể loại tiểu thuyết của nhà văn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp khái quát, tổng hợp
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, nội dung chính của đề
tài gồm 3 chương:
Chƣơng 1. Tiểu thuyết của Vi Hồng trong dòng chảy của văn xuôi các dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện đại.
Chƣơng 2. Hiện thực cuộc sống và con người miền trong tiểu thuyết của Vi Hồng.
Chƣơng 3. Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
CHƢƠNG 1
TIỂU THUYẾT VI HỒNG TRONG DÒNG CHẢY CỦAVĂN XUÔI
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI


năng, tâm huyết là nguyên nhân thứ ba, có lẽ cũng là nguyên nhân quan trọng nhất
cho sự ra đời của văn xuôi các dân tộc thiểu số.
Trong các thể loại của văn xuôi thì truyện ngắn là thể loại đầu tiên xuất hiện
trên tiến trình phát triển của văn học dân tộc thiểu số hiện đại. Người ghi công đầu
trong lĩnh vực này là Nông Minh Châu với truyện ngắn Ché Mèn được đi họp in
năm 1958, tức là vào những năm mở đầu của công cuộc chống Mĩ cứu nước và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tiếp đó vào những năm 50, 60 xuất hiện hàng
loạt những truyện ngắn Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Cuộn chỉ màu hột đỗ của
Lâm Ngọc Thụ, Đêm giao thừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình, Mường Nà Pàng
của Nông Viết Toại, Về nhiệm vụ của Huy Hùng, Nước suối tiên đào của Vi Hồng,
Ké Nàm của Hoàng Hạc, Hoa trong men của Vương Trung Bước sang thập kỉ 70,
80, truyện ngắn của văn học dân tộc thiểu số phát triển một cách mạnh mẽ với sự
xuất hiện liên tiếp những tuyển tập truyện ngắn của nhiều tác giả hoặc của riêng
từng tác giả: Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc, Triều Ân (1969), Mây tan của
nhiều tác giả (1973), Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại (1973), Tiếng chim
gõ của Nông Minh Châu (1979), Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (1979), Tiếng
khèn A pá của Triều Ân (1980), Những bông ban tím của Sa Phong Ba (1981),
Người tạc tượng nhà mồ của nhiều tác giả (1988), Đường qua đèo mây của Triều
Ân (1988), Đuông thang của Vi Hồng (1988), Xứ lạ mường trên của Hoàng Hạc
(1989), Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành (1990)
Có thể nói sự xuất hiện của thể loại truyện ngắn trong văn xuôi các dân tộc thiểu
số đã đem đến một cách cảm nhận con người, cuộc sống vừa giống lại vừa khác với
những tác phẩm của người miền xuôi viết về miền núi, góp phần làm cho hình tượng
con người miền núi trở nên có xương thịt, có hồn hơn rất nhiều. Tuy nhiên cũng không
thể phủ nhận rằng, những non yếu ban đầu khó có thể tránh khỏi về mặt nghệ thuật,
cũng như những hạn chế nhất định về mặt thể loại (dung lượng tác phẩm ngắn) đã làm
giảm không ít tầm khái quát, diện phản ánh của tác phẩm. Những hạn chế này dần dần
đã được khắc phục cùng với sự xuất hiện và phát triển của thể loại tiểu thuyết.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

thang (1992), La Quán Miên với tập truyện ngắn Hai người trở về bản (1996),

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Hlinh Niê với tập truyện ngắn Con rắn màu xanh da trời (1997), tập kí Trăng Xí
Thoại (1999), Kim Nhất với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002),
Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003) và Niê Thanh Mai với Về bên kia
núi (2007)
Trước thập niên 80, văn xuôi các dân tộc thiểu số chủ yếu phản ánh cuộc
kháng chiến chống Mĩ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, rất ít tác phẩm
viết về thời kì kháng chiến chống Pháp. Điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng
nguyên nhân chính có lẽ là do hầu hết các tác phẩm văn xuôi đều ra đời trong thời
kì chống Mĩ và chủ nghĩa xã hội. Các nhà văn thời kì này đều có ý thức lấy văn học
phục vụ nhiệm vụ trước mắt. Văn học luôn bám sát những chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, đi sâu khai thác các đề tài: xây
dựng hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng công trình thuỷ điện, xây dựng quê hương
mới, cuộc sống định canh, định cư, chống mê tín dị đoan, chống bảo thủ lạc
hậu Văn học còn phản ánh nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, cưới xin, ma
chay, săn bắn, lễ hội của các dân tộc. Một mảng hiện thực nữa được tái hiện trong
văn xuôi là cuộc sống của nhân dân miền núi trước Cách mạng tháng Tám. Tác
phẩm tiêu biểu cho đề tài này là cuốn tiểu thuyết Muối lên rừng của Nông Minh
Châu và Vãi Đàng của Vi Hồng. Muối lên rừng - tác phẩm có ý nghĩa mở đường
cho thể loại tiểu thuyết của văn học thiểu số hiện đại, phản ánh hiện thực cuộc sống
cay cực và nạn thiếu muối trầm trọng do chính sách hà khắc của thực dân Pháp ở
miền núi Việt Bắc trước cách mạng. Thông qua nhân vật trung tâm là Pảo, một
thanh niên dân tộc Tày, tác giả kể lại quá trình giác ngộ cách mạng của người dân
miền núi, đồng thời ca ngợi tình bạn, tình yêu chung thuỷ của họ. Ngoài giá trị nội
dung thì đóng góp nổi bật nhất của Muối lên rừng chính là ở phương diện ngôn ngữ
và cách diễn đạt đầy màu sắc dân tộc. Ngôn ngữ trong tác phẩm rất trong sáng, giàu

Bước sang thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90, với sự xuất hiện của
cây bút tiểu thuyết rất “sung sức” Vi Hồng, đề tài được phản ánh trong văn xuôi nói
chung và nhất là trong thể lọai tiểu thuyết nói riêng được mở rộng hơn rất nhiều. Vi
Hồng không chỉ làm phong phú thêm những vấn đề vốn quen thuộc của văn xuôi
dân tộc thiểu số như vấn đề chống mê tín dị đoan, khẳng định cái lỗi thời, lạc hậu
phải nhường chỗ cho cái tiên tiến, phơi bày những cái xấu xa cần được xoá bỏ trong
xã hội miền núi mà ông còn đưa vào những cuốn tiểu thuyết của mình những đề tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
hoàn toàn mới như: đề tài công nghiệp ( Thung lũng đá rơi), đề tài người trí thức
dân tộc ở các trường đại học (Người trong ống, Gã ngược đời). Các tiểu thuyết
Người trong ống, Gã ngược đời, Vào hang, Chồng thật vợ giả đã đề cập đến
những vấn đề có tính thời sự như sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu
trĩ của việc ngăn cấm làm giàu cá nhân và gióng hồi chuông cảnh báo về sự hoành
hành của cái ác. Những tiểu thuyết của Vi Hồng dù vẫn tồn tại không ít những hạn
chế nhưng cũng đã đạt được một bước tiến khá dài so với hai cây bút tiểu thuyết
trước đó là Nông Minh Châu và Y Điêng. Vi Hồng đã phần nào khắc phục được
kiểu kết cấu đơn giản theo mạch thời gian ngay từ tác phẩm Vãi Đàng, ông cũng đã
chú ý hơn trong việc phân tích, thể hiện tâm lí của nhân vật, đặt nhân vật trong
những mâu thuẫn xung đột gay gắt hơn, thiên nhiên trong tác phẩm của Vi Hồng
cũng trở thành một đối tượng nghệ thuật có vẻ đẹp riêng của nó chứ không phải là
thiên nhiên được miêu tả khá mờ nhạt trong sự hoà nhập chia sẻ với vui buồn của
con người như trong tác phẩm của Nông Minh Châu. Đặc biệt, qua các tiểu thuyết
của mình Vi Hồng đã thể hiện một ngòi bút tài hoa, điêu luyện trong cách sử dụng
ngôn từ.
Những năm cuối thập niên 90 và thập niên đầu của thế kỉ XXI với sự xuất hiện
của rất nhiều cây bút văn xuôi trẻ, tài năng, văn xuôi (nhất là tiểu thuyết) các dân tộc
thiểu số ngày càng phát triển đạt đến trình độ hiện đại. Không những đề tài được mở

ngày càng nhiều những tác phẩm có dấu hiệu mới trong cách nhìn và cách tư duy
nghệ thuật, với cái nhìn sâu vào mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, chú ý soi
chiếu nhân vật ở góc độ đời tư, tính cách nhân vật khá rõ nét và dần có xu hướng đa
diện phức tạp. Ngôn ngữ cũng ngày càng đậm chất văn xuôi, tiểu thuyết.
Qua việc tìm hiểu khái quát diện mạo văn xuôi dân tộc thiểu số hiện đại,
chúng ta nhận thấy rằng văn xuôi dân tộc thiểu số dẫu còn tồn tại một số hạn chế về
cả nội dung và hình thức nhưng cũng không thể phủ nhận rằng bộ phận văn học này
đang trên đà phát triển và ngày càng đạt đến trình độ hiện đại. Văn xuôi các dân tộc
thiểu số đã thực sự khẳng định được vị trí của mình và góp phần quan trọng vào
việc tạo nên diện mạo phong phú của nền văn học Việt Nam trong thời kì hiện đại.
Trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, nhất là ở thể loại
tiểu thuyết, Nông Minh Châu, Vi Hồng và Cao Duy Sơn là ba cái tên giữ vai trò

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
quan trọng. Nếu như Nông Minh Châu là người mở đường, người đặt viên gạch đầu
tiên xây dựng nền móng cho tiểu thuyết các dân tộc thiểu số với Muối lên rừng thì
Vi Hồng là người có công đầu trong việc khẳng định giá trị, vị trí của thể loại này
với gần hơn mười cuốn tiểu thuyết, và Cao Duy Sơn chính là cây bút đã đưa tiểu
thuyết dân tộc thiểu số hội nhập cùng xu thế hiện đại của nền văn học nước nhà.
1.2 Vài nét về nhà văn Vi Hồng.
1.2.1 Quê hương, gia đình, bản thân
Vi Hồng (tên đầy đủ là Vi Văn Hồng) sinh ngày 13/7/1936 tại bản Phai Thin
xã Đức Long, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng trong một gia đình nông dân nghèo,
dân tộc Tày.
Quê hương Cao Bằng của Vi Hồng là miền đất địa đầu Tổ quốc, có từ thời
kỳ Thục Phán An Dương Vương thế kỉ II trước công nguyên. Trải qua quá trình
hình thành và phát triển, tỉnh Cao Bằng đã có một bề dày truyền thống lịch sử, văn
hoá rất đáng tự hào và trân trọng. Cao Bằng là một vùng văn hoá đa dạng, phong

Thương đứa cháu sớm mồ côi mẹ lại thông minh, hiếu học, người bác cả đã dành
cho Vi Hồng nhiều sự quan tâm, chăm sóc. Sau này, việc học hành của ông hầu hết
đều được người bác cả lo liệu, giúp đỡ. Do hoàn cảnh gia đình,Vi Hồng phải tự học
đến năm 14 tuổi mới được thi vào lớp 3 của trường tiểu học và đến khi hoà bình lập
lại, Vi Hồng cùng một số rất ít học sinh Cao Bằng vượt con đường hơn 200 cây số
đầy “gian nan, vất vả và cả nguy hiểm” xuống Thái Nguyên học tại trường phổ
thông cấp III Lương Ngọc Quyến. Hành trình trên con đường về với “Mẹ chữ
Lương Ngọc Quyến” được nhà văn tái hiện một cách chân thực và xúc động qua
truyện ký Đường về với Mẹ chữ sáng tác năm 1994.
Sau khi tốt nghiệp cấp 3, Vi Hồng vào học Trường Đại học Sư phạm. Năm
1960 ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên công
tác tại Ty giáo dục Hà Giang (bây giờ là sở giáo dục Hà Giang). Sau đó Vi Hồng lại
trở về làm cán bộ giảng dạy khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Tháng 10/ 1966, trường Đại Học Sư phạm Việt Bắc được thành lập, Vi
Hồng lên Thái Nguyên và trở thành một trong những giáo viên đầu tiên của khoa
Ngữ văn- trường Đại học Sư phạm Việt Bắc (nay là trường Đại học Sư phạm Thái

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Nguyên). Từ năm 1966 đến khi nhà văn qua đời (1997), Vi Hồng là cán bộ giảng
dạy và là chủ nhiệm bộ môn Văn học dân gian của khoa Ngữ Văn.
Nhìn vào những gì Vi Hồng đã đạt được, là giảng viên một trường đại học, là
chủ nhiệm một bộ môn, lại là một trong số không nhiều nhà văn dân tộc thiểu số
đương thời có tên tuổi, không ít người cho rằng ông là một người may mắn. Thế
nhưng rất ít người biết rằng cuộc đời riêng của cố nhà văn phải chịu không ít bất
hạnh, khổ đau. Và những gì mà ông đạt được thực sự là những thành quả xứng đáng
cho sự nỗ lực không mệt mỏi của nhà văn cho đến tận những năm tháng cuối của
cuộc đời. Ngay từ ngày thơ bé, Vi Hồng đã sớm phải gánh chịu nỗi đau tinh thần
lớn lao, mẹ ông mất khi ông chỉ mới 7, 8 tuổi. Cha ông sau này lấy 3 người vợ

ông, bà thực sự trở thành chiếc cầu “nối hai bến bờ của tâm hồn và sáng tạo” (Vi
Hồng), là động lực, là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo, người mà cho đến những năm
tháng cuối đời ông vẫn trân trọng gọi là “đuông thang”, là bông hoa út của đời ông.
Không chỉ có những mất mát về tinh thần, Vi Hồng còn chịu không ít khó khăn
về vật chất. Sau này, dù đã trở thành giảng viên đại học, lại là một nhà nghiên cứu, một
nhà văn, xong Vi Hồng vẫn phải sống rất chật vật. Vợ cố nhà văn kể lại: “Lương của
thầy chỉ đủ sống một cách tằn tiện trong nửa tháng, còn lại thầy phải cố viết để kiếm
thêm thu nhập. Những lúc trong nhà không còn tiền để mua thức ăn thì thầy đi đánh
cá. Thời bao cấp, dù cuộc sống khó khăn nhưng mặc cho người khác tranh giành, thầy
không bao giờ màng tới, đợi đến lúc cuối cùng, còn cái gì thì thầy nhận cái đấy. Nhiều
lúc, có người thương còn phải đấu tranh để lấy phần cho thầy”. Mặc dù gặp không ít
những khó khăn, bất hạnh nhưng cái đáng trân trọng của Vi Hồng là những khổ đau,
những bất hạnh trong cuộc đời riêng lại được nhà văn biến thành động lực để sống và
nhất là để sáng tác. Nhà văn tâm sự: “Với riêng tôi thì nỗi buồn là động lực chính thôi
thúc tôi sáng tác - lúc đầu cũng coi như đó là một việc làm mình có thể say mê, để có
thể quên đi bầu trời buồn thảm trên đầu, có thể ẩn náu mỗi khi nỗi khổ trào dâng. Tuy
tôi chưa viết được bao nhiêu nhưng văn chương bao giờ cũng là một chiếc phao trong
những năm tháng tôi ngoi ngóp giữa biển cả khổ đau của riêng mình.” Chính nghị lực
và nhất là cái cách mà nhà văn dùng để vượt qua nỗi đau đã làm nên một nét đẹp trong
nhân cách của nhà văn miền núi Vi Hồng.
Vi Hồng là một người luôn hết lòng tận tuỵ với công việc. Dẫu ở cương vị
nào, là một người thầy, một nhà văn hay một nhà nghiên cứu văn học dân gian, ông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
cũng luôn dồn hết tâm sức của mình vào đấy. Với cương vị của một giảng viên đại
học, Vi Hồng đã làm tốt chức trách của một người thầy tận tuỵ, yêu nghề, hết lòng
vì học sinh, dẫu cho cuộc sống riêng của cố nhà văn không phải lúc nào cũng suôn
sẻ, thuận lợi. Có lẽ cũng vì vậy mà người thầy Vi Hồng đã để lại một ấn tượng sâu

Hồng cứ lớn dần theo năm tháng và trở thành một phần máu thịt, con người của nhà
văn, trở thành nguồn nuôi dưỡng không bao giờ cạn trong sự nghiệp sáng tác của
ông. Dẫu cho sau này, vì điều kiện công tác, Vi Hồng ít có dịp trở về quê hương
nhưng ông vẫn luôn hướng về vùng đất Cao Bằng và những di sản văn hoá của quê
hương vẫn luôn sống trong kí ức, trong những trang văn của ông như là một cách
giúp ông nguôi đi nỗi nhớ và cũng như là để nhà văn “trả nợ” cho những gì đã nuôi
dưỡng tâm hồn ông từ thuở còn bé thơ.
Qua tìm hiểu về cuộc đời của nhà văn Vi Hồng, ta có thể thấy rằng quê
hương, gia đình là những nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp sáng tác
của ông. Thế nhưng cái làm nên con người Vi Hồng với một nhân cách đáng trân
trọng, làm nên một phong cách rất riêng của một nhà văn miền núi lại chính là yếu
tố tự thân, là nghị lực và sự cố gắng không mệt mỏi của chính nhà văn trong suốt
cuộc đời mình.
1.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng.
1.2.2.1 Khái niệm tiểu thuyết.
“Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và
hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể
chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội,
miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng.”
[42. Tr 387]
1.2.2.2 Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Vi Hồng.
Có thể nói Vi Hồng bắt đầu sáng tác từ rất sớm, dẫu không phải là sáng tác
một cách chuyên nghiệp. Năm 13 tuổi Vi Hồng đã tập làm thơ và thường làm thơ
tình yêu 7 chữ (phong slư) bằng tiếng Tày hộ cho những đàn anh đàn chị đến nhờ.
Dù hầu hết những bài thơ ông làm đều không được đăng tải trên báo hay tạp chí
nào, có chăng chỉ là trên tờ báo tường của học sinh nhưng Vi Hồng vẫn dồn hết tâm
huyết của mình vào từng bài thơ. Có những đêm nằm, ông nghĩ ra những câu hay, ý
hay rồi vùng dậy thắp đèn lên ghi lại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

phong cách rất riêng, độc đáo. Vi Hồng đến với tiểu thuyết muộn nhất trong các thể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
loại mà ông từng thử sức trong sự nghiệp cầm bút của mình, muộn hơn 30 năm so
với thể loại thơ, 29 năm so với thể loại kịch và 21 năm so với thể loại truyện ngắn.
Thế nhưng, đây lại là thể loại mà Vi Hồng sáng tác được nhiều tác phẩm nhất. Với
17 năm (tính từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên 1980 đến năm nhà văn qua đời 1997), Vi
Hồng viết được mười lăm cuốn tiểu thuyết. Có những năm nhà văn còn cho ra đời
vài ba tác phẩm. Với số lượng mười lăm cuốn tiểu thuyết, Vi Hồng đã chứng tỏ với
mọi người niềm đam mê, sự tận tuỵ và sức sáng tạo không mệt mỏi của một nhà văn
giàu tâm huyết. Và tính cho đến nay chưa có một nhà văn dân tộc thiểu số nào vượt
được Vi Hồng về số lượng các cuốn tiểu thuyết.
Vậy cơ duyên nào, con đường nào đã đưa Vi Hồng đến với thể loại tiểu
thuyết và tại sao tiểu thuyết lại là thể loại giúp đưa Vi Hồng đạt đến đỉnh cao trong
sự nghiệp cầm bút của mình?
Như chính nhà văn đã từng tâm sự, nguyên nhân đầu tiên và có lẽ cũng là
nguyên nhân quan trọng nhất đưa nhà văn đến với văn chương và nhất là đến với
thể loại tiểu thuyết chính là nỗi buồn, nỗi bất hạnh trong cuộc đời riêng : “Cái buồn
có sức mạnh cảm thông với văn chương hơn thì phải? Xúc cảm của văn chương
cũng từ đâu đó dồn về theo mọi ngả buồn Với riêng tôi thì gần hai chục tiểu
thuyết của tôi đều bắt đầu từ một nỗi buồn nào đó, một nỗi khổ đau nào đó. Nỗi
buồn là ngọn nguồn tạo nên những tiểu thuyết của tôi.”[12.tr7] Nhà văn dường như
muốn dùng văn chương để giãi bày tấm lòng mình, thể hiện tâm tư tình cảm của
mình như là một cách giúp ông có thể tạm quên đi nỗi buồn. Và thử hỏi liệu có còn
thể loại nào lại có thể giúp người viết giãi bày tâm tư của mình tốt hơn được thể loại
tiểu thuyết? Nếu như nguyên nhân đầu tiên, thứ nhất đưa Vi Hồng đến với văn
chương và với tiểu thuyết là nỗi buồn thì niềm vui, những hạnh phúc ngọt ngào (dẫu
không nhiều) của cuộc đời lại là nguyên nhân thứ hai. Sau những năm tháng chiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status