Đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

VŨ NGỌC KIM
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT MA TRƢỜNG NGUYÊN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS.TS Đào Thủy Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại
học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu tại trường.
Xin chân thành cảm ơn nhà văn Ma Trường Nguyên đã tạo điều kiện
giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Trung
học phổ thông Lộc Bình, đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những người thân
đã động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
tốt khoá học.

Chương 1: Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại và tiểu thuyết của Ma
Trường Nguyên 8
1.1. Khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 8
1.1.1. Sự phát triển lực lượng sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số 8
1.1.2. Sự phát triển trên các phương diện đề tài, chủ đề của văn xuôi các dân tộc thiểu số 11
1.1.3. Đặc điểm cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ văn xuôi dân tộc thiểu số 15
1.1.3.1. Đặc điểm cốt truyện 15
1.1.3.2. Đặc điểm nhân vật 17
1.1.3.3. Đặc điểm ngôn ngữ 20
1.2. Nhà văn Ma Trường Nguyên - cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác 22
1.2.1. Vài nét về cuộc đời và con người nhà văn Ma Trường Nguyên 22
1.2.2. Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Trường Nguyên 23
Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 28
2.1. Một số khái niệm liên quan 28
2.1.1. Khái niệm tiểu thuyết 28
2.1.2. Khái niệm cảm hứng chủ đạo 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv
2.2. Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên 30
2.2.1. Cảm hứng về hiện thực cuộc sống và văn hóa miền núi 30
2.2.1.1. Cuộc sống cũ nghèo khổ, nhiều đau thương 30
2.2.1.2. Cuộc đấu tranh xây dựng cuộc sống mới, xóa bỏ lối sống lạc hậu 32
2.2.1.3. Văn hóa miền núi với những phong tục, tập quán, lễ hội mang đậm bản sắc
dân tộc 36
2.2.2. Cảm hứng nhân đạo hướng về con người miền núi 43
2.2.2.1. Cảm thương với những số phận bi kịch của con người miền núi 43
2.2.2.2. Ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi 48
2.2.2.3. Phê phán những cái xấu, cái ác trong đời sống 53

nền văn học dân tộc. Nhiều tác phẩm văn học dân tộc thiểu số đã giành được những
giải thưởng cao, được dư luận xã hội quan tâm và đón nhận.
1.2. Ma Trường Nguyên là một nhà văn người dân tộc thiểu số. Miệt mài
“trên cánh đồng chữ nghĩa”, viết như “con tằm trả nghĩa dâu tươi” cho dân tộc, quê
hương đất nước, tính đến nay ông đã cho ra đời 20 đầu sách (8 tiểu thuyết, 6 tập
thơ, 1 trường ca, 1 truyện thiếu nhi, 1 tự truyện, 1 tập ký, 2 tập tiểu luận và phê
bình). Sáng tác của nhà văn dân tộc Tày Ma Trường Nguyên mang đậm hơi thở
cuộc sống và con người miền núi với những yếu tố nghệ thuật mang đậm bản sắc
dân tộc. Có lẽ đó cũng chính là lý do khiến ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn
học.
Trong lĩnh vực tiểu thuyết, Ma Trường Nguyên đã gặt hái khá nhiều thành
công. Ông được nhận giải thưởng của Ủy ban toàn quốc các Hội Văn học nghệ
thuật Việt Nam với tiểu thuyết Rễ người dài, giải B Giải thưởng Văn học nghệ
thuật 5 năm (1992-1997) của tỉnh Thái Nguyên cho tiểu thuyết Mũi tên ám khói,
giải B Giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm (1997-2002) của tỉnh Thái Nguyên
cho tiểu thuyết Mùa hoa hải đường. Những thành tựu đó phần nào cho thấy chiều
sâu và bề dày sáng tạo của nhà văn ở lĩnh vực tiểu thuyết. Tuy nhiên, cho đến nay
vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về thể loại
tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Ma Trường Nguyên. Vì thế nghiên cứu về
đặc điểm tiểu thuyết Ma Trường Nguyên là một việc làm cần thiết.

2
1.3. Thể hiện sự quan tâm đối với văn hóa, văn học dân tộc thiểu số, ngày
20/10/2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Chỉ thị số 194/CT-BVHTTDL
về việc tổ chức triển khai thực hiện đề án “ Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân
tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”. Nội dung Chỉ thị nêu rõ một công việc cần
thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020 là: “Giới thiệu quảng bá các tác phẩm văn
học nghệ thuật và các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số”.
Với lòng yêu mến văn học dân tộc thiểu số, với mong muốn được giới thiệu,
quảng bá về các tác phẩm văn học và các nhà văn dân tộc thiểu số mà Ma Trường

những con người trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên“không những đẹp trong tình
yêu mà ngay cả con người họ cũng rất đẹp, nhất là đối với nhân vật nữ, không
những đẹp về mặt hình thức mà còn có sức sống mạnh mẽ về mặt nội tâm” [34, tr.4].
Thiên nhiên và cuộc sống văn hóa miền núi cũng được tác giả Lâm Tiến đề
cập đến trong bài tham luận Ma Trường Nguyên - nhà văn, nhà thơ tình xứ mây.
Trong tiểu thuyết Ma Trường Nguyên, những bức tranh thiên nhiên miền núi “ hiện
ra đẹp đẽ, thấm đậm tình người” [34, tr.4]. Và đặc biệt là “những buổi lễ hội, lễ
cưới, lễ kết tồng, lễ hội nàng trăng, hội giã cốm, những buổi hát lượn, những ngày
chợ phiên đều diễn ra rất đẹp, rất thơ mộng” [34, tr.4], “những phong tục, tập
quán, những lễ hội, lễ cưới, những câu chuyện cổ tích, huyền thoại hòa quyện
trong các trang viết làm tăng thêm sức sống, làm phong phú, sâu sắc thêm tâm hồn,
tính cách con người miền núi” [34, tr.5]. Theo tác giả Lâm Tiến, những trang văn về
con người, thiên nhiên, văn hóa miền núi trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên
có khởi nguồn từ “một tình yêu sâu đậm với con người, cuộc sống, thiên nhiên miền
núi” [34, tr.3].
Tác giả Vũ Đình Toàn cũng khẳng định nội dung tiểu thuyết của Ma Trường
Nguyên “không ngoài hai cảm hứng chính: tình yêu lứa đôi và vẻ đẹp của văn hóa
các dân tộc miền núi - chủ yếu qua văn hóa Tày - dân tộc xuất thân của anh. Hai
nguồn cảm hứng này luôn có mặt, đan xen, hòa quyện nhau trong từng cuốn truyện,
tựa vào nhau mà thăng hoa, phát sáng” [37, tr.37].
Cảm hứng nhân văn cũng là một khía cạnh trong nội dung tiểu thuyết Ma
Trường Nguyên được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Trần Văn Tác khẳng

4
định: “Tiểu thuyết Gió hoang và Bến đời đã thành công trong việc khám phá thế
giới tâm hồn con người miền núi phong phú bằng niềm cảm thông sâu sắc. Nhà văn
đi vào đời tư, số phận của từng nhân vật. Nhà văn nâng niu từ hạnh phúc nhỏ nhoi,
nhà văn đớn đau trước sự rạn nứt hay tan vỡ của tình yêu, nhà văn phẫn uất trước
sự tráo trở hay phản trắc của con người. Ma Trường Nguyên nhìn đời tư bằng cái
nhìn nhân hậu có tính nhân văn sâu sắc” [30, tr.36]. Trong luận văn tốt nghiệp đại

thuyết của nhà văn Ma Trường Nguyên.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên
được các tác giả Bùi Như Lan, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Thị Lan quan tâm. Tác giả
Bùi Như Lan đã nhấn mạnh sự thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của
Ma Trường Nguyên. Đó là“thủ pháp nghệ thuật đồng hiện, bút pháp hiện thực, với
vài nét chấm phá ” [9, tr.21], là sự “khéo léo miêu tả môi trường thiên nhiên, kết
hợp nhuần nhuyễn với hoàn cảnh cộng hưởng trong thế giới nội tâm của nhân vật”,
là “lối viết chân phương, giản dị nhưng sâu sắc trong cách nhìn nhận, thể hiện và
khám phá đời sống nội tâm nhân vật” [9, tr.22]. Trong luận văn tốt nghiệp đại học
tác giả Trần Thị Hạnh khai thác nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ trong
ba cuốn tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên là Gió hoang, Bến đời và Mùa hoa hải
đường. Đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Thị Lan nghiên cứu nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Rễ người dài. Như vậy, có thể thấy: nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên cũng chưa được
các tác giả nghiên cứu, khảo sát trên diện rộng trong toàn bộ hệ thống tiểu thuyết của
nhà văn mà chỉ mới dừng ở việc tìm hiểu một vài cuốn tiểu thuyết.
Nghệ thuật ngôn từ trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên được các tác
giả Vũ Đình Toàn và Nguyễn Thị Lan phát hiện và khai thác. Theo tác giả Vũ Đình
Toàn thì: “Nhà văn đã bộc lộ trực tiếp những phẩm chất tinh thần, những quan niệm
về thiên nhiên, xã hội của người miền núi qua ngôn ngữ nhân vật” và “Nhà văn đã
khai thác vẻ đẹp ngôn ngữ và kiểu tư duy độc đáo của người miền núi qua thành
ngữ, tục ngữ, ca dao dân ca” [37, tr.42]. Tác giả Nguyễn Thị Lan đã khai thác ngôn
từ nghệ thuật trong tiểu thuyết Rễ người dài theo hệ thống từ ngữ gắn với cuộc
sống và con người miền núi, ngôn từ giàu hình ảnh, giàu chất thơ. Tác giả khẳng

6
định: “Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên mang đậm dấu ấn Tày.
Ma Trường Nguyên chủ yếu sử dụng thứ ngôn ngữ tiếng Việt khá nhuần nhụy, uyển
chuyển mà không làm mất đi cách cảm, cách nghĩ, điệu hồn của người miền núi.
Đồng thời ngôn ngữ của Ma Trường Nguyên giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh so

nét riêng trong phong cách và vị trí của nhà văn đối với văn học các dân tộc thiểu số
nói riêng, với văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Phương pháp khái quát, tổng hợp
Phương pháp so sánh, đối chiếu
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam và tiểu thuyết Ma Trường Nguyên.
Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Trường Nguyên.

8
PHẦN NỘI DUNG


con của các dân tộc ấy sáng tác. Đúng như Tô Hoài thừa nhận: “Cho tới nay tôi viết
một số tác phẩm đề tài miền núi. Các anh liệt sĩ (Hoàng Văn Thụ, Vừ A Dính), cuộc
chiến đấu của nhân dân Tây Bắc (Vợ chồng A Phủ, Họ Giàng ở Phiềng Sa). Tôi cho
rằng dẫu tôi đã cố gắng, nhưng những tác phẩm ấy chỉ đạt tới đôi nét chấm phá
của một bức kí họa thông qua cảm xúc mới mẻ của mình. Tôi không thể có được
tâm hồn và những hiểu biết để thể hiện như Đinh Ân (Mường), Vi Hồng (Tày), Mã
Thế Vinh (Nùng), Mã A Lềnh (Mông). Văn học các dân tộc thiểu số có thực sự
phong phú, lớn mạnh phải do chính các nhà văn dân tộc ấy xây dựng, góp phần vào
nền văn học đa dân tộc của chúng ta” [33, tr.19]. Sự khai phá, mở đường của các tác
giả người Kinh đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện và ngày càng trưởng thành của
hàng loạt các cây bút người dân tộc thiểu số. Bắt đầu là Nông Viết Toại với Boỏng
tàng tập éo (1952), tiếp đó là Nông Minh Châu với Ché Mèn được đi họp (1959),
Y Điêng với Em chờ bộ đội Awa Hồ (1960), Hoàng Hạc với Ké Nàm (1964), Triều
Ân với Tiếng khèn A pá (1968), Vi Thị Kim Bình với Những bông huệ (1968),…
Có thể nói, nhờ được đắm mình trong hiện thực lịch sử lớn lao, đầy say mê của dân
tộc và cách mạng, lại hợp lưu cùng tinh thần lãng mạn của thời đại, các nhà văn đã
sáng tạo nên những tác phẩm văn xuôi độc đáo, đầy chất thơ. Những con người
miền núi mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực, giàu tình yêu quê hương, yêu đời, yêu người
với một trái tim lãng mạn, hăng say đi từ khổ đau đến ánh sáng là mẫu nhân vật
trung tâm trong các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này. Nói như các tác giả Trần Thị
Việt Trung, Cao Thị Hảo thì “đây là giai đoạn mà ý thức dân tộc được nâng cao
trong từng cây bút dân tộc thiểu số” [38, tr.77].
Kể từ sau năm 1975, khi hòa bình, thống nhất đất nước, và đặc biệt là từ sau
1986, lực lượng sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số đã có bước phát triển mạnh mẽ
về cả số lượng và chất lượng. Chính sự lao động miệt mài và tự đổi mới của các cây
bút thế hệ thứ nhất và thứ hai, và sự xuất hiện của những cây bút trẻ đầy nhiệt tình
và tâm huyết đã góp phần làm nên diện mạo mới cho mảng văn học quan trọng này.
Ở các vùng Việt Bắc và Tây Bắc là sự tiếp nối không ngừng của các thế hệ nhà văn.
Bắt đầu từ thời kì đổi mới, bên cạnh Triều Ân, Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Mã A



11
Hai người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003) và
Lang Quốc Khánh với tập kí Những miền thương nhớ (2005). Truyện của La Quán
Miên đặt ra vấn đề nhân quả, báo ứng từ sự phá vỡ cân bằng trong mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên, phát hiện cái bí ẩn thuộc về đời sống tâm linh ở miền núi.
Tôn trọng cõi tự nhiên linh thiêng, bảo tồn động vật hoang dã, đó là thông điệp mà
nhà văn đề xuất. Khu vực miền Trung còn có các cây bút dân tộc Mường ở Thanh
Hóa là Hà Thị Cẩm Anh và Bùi Nhị Lê. Qua tập truyện Nước mắt của đá (2005),
Hà Thị Cẩm Anh thể hiện sự cảm thông với những con người là nạn nhân của hủ
tục, định kiến ở bản mường. Và cũng như La Quán Miên, nữ nhà văn đã cất lời kêu
gọi bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên một cách đầy tâm huyết.
Ở Tây Nguyên trước kia chỉ có Y Điêng, nay có Hlinh Niê (tức Linh Nga
Niê Kđăm, người Êđê) với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí
Trăng Xí Thoại (1999), Kim Nhất (người Bana) với các tập truyện Động rừng
(1999), Hồn ma núi (2002) và Niê Thanh Mai (người Êđê) với tập truyện Về bên
kia núi (2007).
Ở phía Nam, lần đầu tiên có sự xuất hiện tác phẩm văn xuôi của một số dân
tộc như truyện kí Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) của Lý
Lan (người Hoa), tiểu thuyết Chân dung cát (2006) của Inrasara (nhà thơ dân tộc
Chăm), tập truyện ngắn Chăm Hri (2008) của Trà Vigia (người Chăm).
Điểm qua lực lượng sáng tác và những thành tựu của các cây bút văn xuôi
dân tộc thiểu số kể từ sau năm 1975, và đặc biệt là sau 1986, chúng ta nhận thấy tuy
chưa có những tài năng lớn nhưng cũng có thể nhìn thấy từ đó những tín hiệu rất
đáng mừng vì sự tiếp nối giữa các thế hệ người cầm bút, vì sự phân bố trên từng
vùng miền, từng dân tộc để đặt niềm tin vào những bước bứt phá mạnh mẽ của
mảng văn học này trong những năm đầu của thế kỷ mới này.
1.1.2. Sự phát triển trên các phương diện đề tài, chủ đề của văn xuôi các dân tộc
thiểu số
Trong hành trình phát triển của mình, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có sự

hội ở miền núi như các tiểu thuyết: Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992) của
Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng (1992) của Mã A Lềnh và các tập

13
truyện ngắn Vùng đồi gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005) của
Sa Phong Ba.
Ngoài hai mảng đề tài quen thuộc này, nhờ sự dân chủ hoá của văn học đổi
mới, các phạm vi hiện thực được mở ra rộng rãi hơn. Những mặt trái, những mảng
tối của hiện thực đời sống mà văn học trước đây từng né tránh nay được phơi bày.
Dồn dập trong nửa đầu thập kỉ 90, các tiểu thuyết Người trong ống (1990), Gã
ngược đời (1990), Vào hang (1990), Chồng thật vợ giả (1994)… của Vi Hồng
được dư luận quan tâm bởi những vấn đề có tính thời sự. Các tác phẩm này đề cập
tới sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ của việc ngăn cấm làm
giàu cá nhân và gióng hồi chuông cảnh báo về sự hoành hành ghê gớm của cái ác.
Tái hiện chân thực một thời bao cấp, tiểu thuyết Xứ mưa (2000) của Hoàng Thế
Sinh phơi bày tình trạng đói nghèo, nhem nhuốc, túng quẫn của công chức nhà
nước, thân phận bọt bèo vô nghĩa của giáo viên cùng sự hoang mang, đổ vỡ niềm
tin của giới trí thức trước sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Mạnh mẽ và táo
bạo, tiểu thuyết Đàn trời (2006) của Cao Duy Sơn công khai hé mở thực trạng về sự
nghèo đói truyền kiếp của người dân vùng cao, vạch trần thói mị dân, sự sa đọa
cùng hành vi đen tối của quan tham cao cấp thời đại mới. Cùng sự hiện hữu của cái
nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với vùng cao là vấn đề
được nhiều tác phẩm quan tâm. Sự xâm thực của thương trường phá vỡ trật tự rừng
xanh, lối sống thực dụng làm nứt rạn nếp nghĩ truyền thống, cái xấu xa phi pháp
khuấy đảo sự thanh bình của làng bản những dấu hiệu băn khoăn lo ngại trước sự
biến chuyển của miền núi đương đại cũng là ám ảnh trên nhiều trang viết của các
nhà văn dân tộc thiểu số. Đáng chú ý là ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một
số tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời sống cá nhân. Có thể kể đến tập truyện
Tiếng chim kỷ giàng (2004) của Bùi Thị Như Lan với những mảnh đời phụ nữ bị
trói buộc bởi lương tâm và bổn phận, phải hi sinh hạnh phúc riêng vì người khác.

càng chú ý hơn tới việc đi sâu khám phá những vấn đề phức tạp của cuộc sống miền
núi, đặc biệt là vấn đề số phận cá nhân. Điều đó đã đem lại cho các sáng tác văn
xuôi dân tộc thiểu số chất tiểu thuyết và tinh thần nhân văn, nhân bản ngày càng
đậm nét.

15
1.1.3. Đặc điểm cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ văn xuôi dân tộc thiểu số
1.1.3.1. Đặc điểm cốt truyện
Văn xuôi dân tộc thiểu số thời kì đầu thường có cốt truyện tuyến tính với
mạch thời gian kể xuôi chiều. Cốt truyện tuyến tính theo dòng thời gian với việc
tổ chức các tình huống truyện đơn giản giúp cho các độc giả là người dân tộc thiểu
số miền núi dễ nắm bắt được nội dung ý nghĩa của truyện nhưng lại không đem lại
hiệu quả thẩm mĩ cao. Vi Hồng là nhà văn sớm nhận ra hạn chế ấy của văn xuôi
dân tộc thiểu số nên đã tạo ra những đảo lộn thời gian nhất định trong Vãi Đàng.
Kiểu cốt truyện với thời gian gấp khúc ấy về sau xuất hiện nhiều hơn trong các
tiểu thuyết của Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn, Inrasara … Đặc biệt,
với việc “chối bỏ sự gò bó, sắp đặt của cốt truyện tuyến tính, cố ý tạo ra sự xáo
trộn, đứt gẫy của các yếu tố không gian, thời gian”, tiểu thuyết Inrasara đã “thể
hiện quan niệm về một thế giới với đầy những vênh lệch, so le, biến ảo, không dễ nắm
bắt và lý giải” [17]. Sự phá vỡ lôgic thời gian này, mặc dù có đi xa tầm đón nhận của
người đọc dân tộc thiểu số nhưng phần nào đã thể hiện tinh thần tìm tòi của nhà văn
Inrasara.
Cốt truyện trong văn xuôi dân tộc thiểu số thường là cốt truyện đơn tuyến với
dung lượng nhỏ hoặc vừa. Phần lớn các tác phẩm đều có ít nhân vật và nếu có
phân tuyến cũng chỉ gồm hai tuyến cơ bản: chính - tà. Có thể kể đến các tác phẩm
của Vi Hồng, Triều Ân, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Sa Phong Ba,
Bùi Nguyên Khiết, Đặng Quang Tình… Theo tác giả Phạm Duy Nghĩa thì trong
văn xuôi dân tộc thiểu số những thập niên 50 - 80 của thế kỉ trước “có chung
môtíp cốt truyện: cái mới (thường được đại diện bởi một cô gái hoặc một lớp
thanh niên) đấu tranh với cái cũ (thường là ông bố, phía sau là thầy mo và những

con đường: đi và ở, lí tưởng cách mạng và vợ con. Tiểu thuyết Người trong
ống của Vi Hồng có tình huống đời thường mà li kì, độc đáo: nhân vật Tú (con
người khắc kỉ, gạt bỏ mọi cám dỗ để theo đuổi lí tưởng riêng của mình) phải thực
hiện một phong tục kì lạ là ở chung ba đêm giữa chốn nhung lụa xa hoa với người
con gái quyền quý xinh đẹp, nếu không cưỡng được lòng mình mà “khai nụ, xâu
hoa” thì phải cưới nàng. Tình huống thử nghiệm bản lĩnh này được tác giả thể

17
hiện trong một thời gian nghệ thuật hết sức căng thẳng, dồn nén, có sức dẫn dụ
mạnh Đó là một số ví dụ cụ thể về những tình huống truyện đem lại hiệu quả
nghệ thuật trong văn xuôi dân tộc thiểu số. Ngoài ra, một số sáng tác của Kim
Nhất, Cao Duy Sơn … cũng tạo dựng được những tình huống truyện có giá trị.
Tiếc rằng những tình huống như thế xuất hiện chưa nhiều trong văn xuôi dân tộc
thiểu số.
Trong quá trình phát triển, những năm gần đây văn xuôi miền núi vừa kế
thừa những hình thức cốt truyện truyền thống vừa bổ sung thêm một số kiểu cốt
truyện mới. Có thể kể đến cốt truyện huyền ảo với sự đan xen giữa các yếu tố
hoang đường và yếu tố thật, cốt truyện ghép mảnh với nhiều mảnh nhỏ ghép lại
với nhau, cốt truyện bỏ ngỏ với kết thúc mở, bỏ lửng, không xác định (như truyện
ngắn Người săn gấu của Cao Duy Sơn), cốt truyện ngụ ngôn với sự nén chặt
trong một cấu trúc tiết kiệm, tối giản mà súc tích (như những truyện ngắn của La
Quán Miên) … Những tìm tòi, thể nghiệm trong sáng tạo cốt truyện cùng với sự
hỗ trợ của các yếu tố ngoài cốt truyện trong các sáng tác văn xuôi dân tộc thiểu số
đã đem đến sức hấp dẫn cho các tác phẩm, góp phần làm cho mảng văn học này
ngày càng có chỗ đứng trong lòng độc giả.
1.1.3.2. Đặc điểm nhân vật
Có thể nhận thấy, nhân vật trung tâm trong văn xuôi các dân tộc thiểu số
thường là người lao động các dân tộc thiểu số, về sau có bổ sung thêm các nhân vật
trí thức và các giai tầng khác của xã hội. Ngoài ra, còn có những nhân vật là những
người cán bộ, bộ đội, giáo viên, nhân dân miền xuôi… lên vùng cao chiến đấu, lao

núi đại ngàn, những con người ấy “hồn nhiên sống, chân thật, rạch ròi trong những
tình cảm yêu ghét. Họ tin vào người khác như tin ở chính mình” [17]. Điều đặc biệt
trong tính cách miền núi là sự tha thứ, khoan dung và độ lượng. Những con người
ấy, dù có lúc bị lừa gạt, lợi dụng bởi sự hồn nhiên, chân thật nhưng họ không căm
hận để tìm cách trả thù bằng mọi giá mà luôn biết tha thứ, thậm chí sẵn sàng mở
rộng lòng mình cứu giúp chính những con người đã từng hại mình. Nàng Thu
Khoan trong Dòng sông nước mắt (Vi Hồng), thầy Hạc trong Ngôi nhà xưa bên
suối (Cao Duy Sơn)… chính là những con người như thế. Bên cạnh đó, nhân vật

19
trong văn xuôi miền núi còn là những con người giàu niềm tin, tiềm tàng sức sống,
yêu đời, giàu khát vọng tự do và hạnh phúc . Chính niềm tin và tình yêu ấy đã nâng
đỡ để họ vượt qua những đắng cay tủi hờn của số phận, để vươn tới một cuộc đời
tươi sáng. Với các nhân vật như vậy, văn xuôi dân tộc thiểu số đã trở thành những
bài ca ngập tràn cảm hứng nhân văn ngợi ca con người.
Xây dựng nhân vật, các nhà văn dân tộc thiểu số thường sử dụng một số thủ
pháp nghệ thuật tiêu biểu. Để tạo dựng những nhân vật cực thiện, nhân vật chính
diện, các nhà văn dùng thủ pháp so sánh theo xu hướng “thần hóa”, “tiên hóa”.
Ngược lại, các nhân vật phản diện, nhân vật ác lại được xây dựng bởi thủ pháp so
sánh “vật hóa” nhằm hạ thấp đối tượng. Miêu tả ngoại hình để khơi gợi tính cách nhân
vật, khắc họa hành động nhân vật để tính cách được bộc lộ cũng là những thủ pháp nghệ
thuật được các nhà văn sử dụng. Các hình ảnh đôi mắt, nụ cười … là những chi tiết ngoại
hình mà các nhà văn chú ý tới.
Thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật qua miêu tả tâm lý, qua đời sống nội tâm
nhân vật được nhiều nhà văn sử dụng. Nhân vật của Cao Duy Sơn thường có cuộc
sống nội tâm phong phú, phức tạp, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại lặng lẽ kín đáo. Bên
cạnh Cao Duy Sơn, các nhà văn khác cũng rất chú ý đến miêu tả nội tâm nhân vật.
Tuy nhiên, trong nhiều tác phẩm văn xuôi dân tộc thiểu số, việc khắc họa nhân vật
qua đời sống nội tâm vẫn còn những hạn chế khiến cho nhân vật chưa thật sự trở
nên sâu sắc.

số. Đó có thể là khó khăn đồng thời cũng là một đích giá trị để đánh giá sự thành
công của các tác giả trên phương diện ngôn từ nghệ thuật. Cũng nói như Lâm Tiến
trong công trình vừa dẫn thì viết văn bằng tiếng phổ thông của các nhà văn dân tộc
miền núi cũng khó như việc dùng ngoại ngữ để sáng tác vậy. Và nếu như viết văn
với các nhà văn miền xuôi khó một thì công việc ấy với các nhà văn miền núi còn
khó mười. Cái khó nằm chính ở chỗ, nhà văn phải lựa chọn trong kho tàng “ngoại
ngữ” ấy những từ ngữ diễn tả tốt nhất ý đồ nghệ thuật của mình, đồng thời không xa
lạ với văn hóa của đồng bào dân tộc miền núi và phải truyền được tinh chất văn hóa
của đồng bào trên từng trang viết. Như thế có thể hiểu được sự nhọc nhằn của từng
cây bút. Với những cố gắng không ngơi nghỉ, có thể nói, trên phương diện ngôn


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status