Đặc điểm tiểu thuyết nguyễn trí huân - Pdf 95

Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân
H. : ĐHKHXH &
NV , 2010
Số trang
127 tr.

Phạm Thị Trang

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Tôn Phương Lan
Năm bảo vệ: 2010

Abstract: Giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn - đại tá Nguyễn
Trí Huân cũng như phác thảo sơ lược diện mạo chung của tiểu thuyết viết về đề tài
chiến tranh và người lính sau năm 1975. Tìm hiểu những đặc điểm nội dung trong tiểu
thuyết Nguyễn Trí Huân thông qua nghiên cứu quan niệm, cách nhìn nhận về hiện
thực chiến tranh và người lính của nhà văn. Phân tích các đặc trưng trong cách phản
ánh hiện thực chiến tranh và thể hiện hình tượng người lính, từ đó rút ra một số thành
tựu nghệ thuật tiểu thuyết trên các phương diện cơ bản là nghệ thuật xây dựng nhân
vật, ngôn ngữ, kết cấu và giọng điệu tiểu thuyết.

Keywords: Văn học Việt Nam; Tiểu thuyết; Nghiên cứu văn học

Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bất cứ một nền văn học chân chính nào, sự ra đời và phát triển của nó đều gắn bó sâu sắc với
thời đại và gắn với việc thực hiện xuất sắc nhiệm vụ của thời đại đó. Sau năm 1975, cuộc
chiến tranh chống Mỹ cứu nước trường kỳ và gian khổ của dân tộc kết thúc thắng lợi, cuộc
sống hòa bình trở lại toàn thể nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, con người cũng phải đối mặt

các tiểu thuyết viết về chiến tranh trong chiến tranh, do có độ lùi khá xa nên thời kỳ này, các
nhà văn viết bằng tâm thế của người trở về sau chiến tranh nhìn nhận lại cuộc chiến đã qua
của dân tộc.
Có thể điểm qua hàng loạt gương mặt tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh như
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà, Thái Bá Lợi, Chu Lai, Xuân Đức, Trung
Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập… Nhận định về giai đoạn
văn học này, nhà phê bình Bùi Việt Thắng cho rằng “Có thể coi giai đoạn văn học 1975 –
1984 là một chặng đường mới của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng. Càng lùi xa sự
kiện thì tầm nhìn của nhà văn càng rộng, trong tương lai không xa chúng ta sẽ được đón nhận
những tác phẩm thành công hơn hôm nay trên đề tài này” [78, 29].
Có những cây bút thể hiện sức sáng tác hết sức dồi dào, có những nhà văn chỉ ghi dấn ấn trên
văn đàn với một vài tác phẩm. Và có những lối viết hấp dẫn thực sự, lại có những thể nghiệm
còn chưa tới đích, song các nhà văn đều đang hết mình trong một nỗ lực chung: làm mới mình
và làm mới văn chương.

3
Nguyễn Trí Huân xuất hiện sau năm 1975 với tiểu thuyết Năm 1975 họ đã sống như thế và
nhanh chóng được bạn đọc chú ý. Dẫu sáng tác không nhiều song với đủ thể loại: truyện
ngắn, tiểu thuyết, kí sự, Nguyễn Trí Huân đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học
thời kỳ hậu chiến. Điểm qua các sáng tác trong sự nghiệp của nhà văn, tiểu thuyết được xem
là thể loại thành công hơn cả với hai tác phẩm Năm 1975, họ đã sống như thế và Chim én bay.
Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Trí Huân được đánh dấu bằng hai giải thưởng lớn:
giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1985 – 1989 và giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm
1990 với tác phẩm Chim én bay. Đồng thời, ông cũng đoạt giải thưởng Nhà nước về văn học
nghệ thuật năm 2007.
Không những thế, các tiểu thuyết của ông ít nhiều còn tạo được sự chú ý, đánh giá cao của dư
luận và giới phê bình, đặc biệt là tác phẩm Chim én bay. Đa số các ý kiến đều cho rằng, qua
Chim én bay, Nguyễn Trí Huân đã đặt ra được cách nhìn nhận mới về cuộc chiến tranh vừa
qua, đó là “những năm tháng chiến tranh xưa với tất cả sự khốc liệt của nó (…), lại vừa như
được đứng trước những vấn đề thời sự của cuộc sống hiện nay như: vấn đề đổi mới cách nghĩ,

phỏng vấn của phóng viên, nhà văn đã thành thực bộc lộ: ông có một “thói quen xấu” là cứ
phải “bứt ra một thời gian dài đi đâu hẳn, thoát ra mọi sự vụ thì mới có thể viết được” [43].
Vậy nhưng, sau khi từ chiến trường trở về, học xong khóa I trường viết văn Nguyễn Du, ông
liên tục vướng bận vào công việc của nhà quản lý, nên thời gian dành cho văn chương trở nên
eo hẹp dần.
Tiếp đó là bài phỏng vấn của tác giả Đức Đan đăng trên báo điện tử Tổ quốc với nhan đề
“Nguyễn Trí Huân: Làm báo phải có bản lĩnh”. Bài báo ghi lại cuộc trò chuyện của nhà văn –
nhà báo Nguyễn Trí Huân xoay quanh đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp của một người làm
báo và sự khác biệt giữa cương vị người cầm bút khi viết văn và khi làm báo. Dẫu không đề
cập đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trí Huân song qua cuộc trò chuyện này, nhà văn
cũng thể hiện quan điểm của mình về phẩm chất quan trọng của nhà báo nói riêng và người
viết nói chung đó là bản lĩnh: “Để có một bài báo hay thì nhà báo, nhà văn phải sống trong sự
thật mà mình viết, phải trải. Nếu chỉ nghe kể thôi để lấy tư liệu viết lại thì không thể hay
được.” [18].
Nhóm thứ hai tập hợp những bài viết, phê bình, đánh giá về các sáng tác của nhà văn Nguyễn
Trí Huân, trong đó tập trung chủ yếu vào tiểu thuyết. Về tiểu thuyết Năm 1975, họ đã sống
như thế, tác giả Hoài Anh có bài viết “Tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân – Một cách nhìn chiến
tranh xác thiết” đăng trên website o. Thông qua việc phân tích các tình
huống, chi tiết của cuốn tiểu thuyết, tác giả Triệu Xuân đánh giá cuốn tiểu thuyết đã thể hiện
cách nhìn chân thực của nhà văn về một thời điểm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
từ đầu tháng 3 đến trước 30 tháng 4 năm 1975: “Không chỉ dự báo những cuộc chiến tranh
xảy ra trong tương lai, tiểu thuyết còn dự báo về sự lan rộng của những hiện tượng tiêu cực ở
miền Bắc”. Bên cạnh đó, bài viết còn tổng kết một số thành tựu nghệ thuật đặc sắc của tác
phẩm như lối kể chuyện chính xác, sinh động; nghệ thuật xây dựng, miêu tả tâm lý nhân vật
chân thực.

5
Sau khi đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988 - 1989, tiểu thuyết Chim én
bay đã nhận được sự chú ý của đông đảo dư luận cũng như giới nghiên cứu, phê bình. Tiêu
biểu trong số đó là hai bài viết “Chim én bay – Một cách nhìn về chiến tranh” của tác giả

tranh cách mạng.

6
Như vậy, nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân chưa nhiều và chưa thực sự tập trung.
Với đề tài này, chúng tôi hướng đến cung cấp cho độc giả cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết
Nguyễn Trí Huân nói riêng và sự nghiệp sáng tác của ông nói chung, cũng như những đóng
góp của tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân trong tiến trình tiểu thuyết dân tộc.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Triển khai đề tài Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân, luận văn tập trung tìm hiểu hai
tiểu thuyết: Năm 1975, họ đã sống như thế (1979) và Chim én bay (1988).
Ngoài ra, chúng tôi cũng mở rộng hướng nghiên cứu, đặt các tiểu thuyết này trong mối quan
hệ với sáng tác thuộc các thể loại khác của Nguyễn Trí Huân như: Mặt cát (1977), Dòng sông
của Xô nét (1980), Cao nguyên không xa xôi (1964) và các tiểu thuyết của các nhà văn cùng
thời, cùng đề tài như Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn
mày dĩ vãng, Nắng đồng bằng (Chu Lai), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Trong cơn gió lốc,
Không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy), Thung lũng thử thách (Thái Bá Lợi), Mở rừng (Lê
Lựu)…
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp như phân tích – tổng hợp,
thi pháp học, so sánh… Trong đó, phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng chủ đạo
nhằm tiếp cận, đánh giá những đặc điểm cơ bản nhất của tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân trên
hai bình diện nội dung, nghệ thuật.
Phương pháp so sánh hỗ trợ trong việc nghiên cứu những nét tương đồng và khác biệt, đổi
mới về đề tài, nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết… trong các sáng tác của nhà văn.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được chia thành 3 chương:
Chương I: Nguyễn Trí Huân và tiểu thuyết hậu chiến. Ở chương này, chúng tôi phác thảo sơ
lược diện mạo chung của tiểu thuyết viết viết về đề tài chiến tranh và người lính sau năm
1975. Tiếp đó, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn – đại tá Nguyễn Trí
Huân.

thuyết Chim én bay, Văn nghệ (51), tr.6.
13. Nguyễn Minh Châu (1979), Dấu chân người lính, Nxb Thanh niên.
14. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa,
Trang giấy trước đèn, tr.107 – 117.
15. Nguyễn Minh Châu (1978), Viết về chiến tranh, Trang giấy trước đèn, tr.44 – 55.
16. Đinh Xuân Dũng (1990), Đổi mới văn xuôi chiến tranh, Văn nghệ (51), tr.7.
17. Đinh Xuân Dũng (1999), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, Nxb Quân đội nhân
dân.
18. Đức Đan, Nguyễn Trí Huân: Làm báo phải có bản lĩnh, .
19. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.

8
20. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội.
21. Trung Trung Đỉnh (1999), Lạc rừng, Nxb Hội nhà văn.
22. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
23. Nguyễn Tiến Đức, Cái nhìn mới về người lính và sự thay đổi quan niệm về đề tài của tiểu
thuyết Việt Nam sau 1975, .
24. Xuân Đức (1980), Cửa gió, Nxb Thanh Niên.
25. Nguyễn Hương Giang (2001), Người lính sau hòa bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời
kì đổi mới, Văn nghệ quân đội (4), tr.108 – 113.
26. Nguyễn Hà (2000), Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam nửa sau thập
niên 80, Tạp chí Văn học, (3), tr.51 – 58.
27. Bùi Như Hải, Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 với nhu cầu đạo đức tối đa. http:
baoquangtri.vn.
28. Nguyễn Văn Hạnh (1993), Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về
con người, Tạp chí Văn học, (3), tr.20 – 23.
29. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
30. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

52. Chu Lai (1990), Vòng tròn bội bạc, Nxb Thanh Niên.
53. Phong Lê (2005), Tiểu thuyết mở đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ
tháng Tám – 1945, Tạp chí Nghiên cứu văn học (9).
54. Phong Lê, Tiểu thuyết về chiến tranh – nhìn từ hôm nay, .
55. Nguyễn Văn Long (2003), Tiếp cận và đánh giá văn học Việt Nam sau cách mạng tháng
Tám, Nxb Giáo dục.
56. Nguyễn Văn Long (2009), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà
trường, Nxb Giáo dục.
57. Nguyễn Văn Long (2002), Văn học Việt Nam trong thời đại mới: Từ sau cách mạng
tháng Tám 1945, Nxb Giáo dục.
58. Thái Bá Lợi (1978), Thung lũng thử thách, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
59. Phương Lựu (chủ biên) (2002), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
60. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển dịch và giới
thiệu, Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội.
61. Milan Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết (Người dịch: Nguyên Ngọc), Nxb Đà
Nẵng.
62. Bùi Vũ Minh (2006), Hình tượng người lính trong văn học, cần một cái nhìn thực tế, Văn
nghệ (16), tr.16.
63. Lê Thành Nghị (2001), Văn học viết về chiến tranh cách mạng - đòi hỏi và thách thức
của thời gian, Nhà văn, số 12, tr.126.
64. Bảo Ninh (2001), Thân phận của tình yêu, Nxb Hội nhà văn.

10
65. Trần Thị Mai Nhân (1997), Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam giai đoạn
1986-2000, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (7), tr.57.
66. Nhiều tác giả (2001), Các nhà văn bàn về đề tài chiến tranh, Văn nghệ quân đội (4),
tr.114 – 117.
67. Nhiều tác giả (2002), Đổi mới tư duy tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
68. Nhiều tác giả (2001), Nghệ thuật như là thủ pháp, Nxb Hội Nhà văn.
69. Nhiều tác giả (2006), Những vấn đề mới trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, Nxb Đại

87. Lê Phong Tuyết (1999), Alain Robbe Grillet và sự đổi mới tiểu thuyết, Tạp chí văn học
(3).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status