Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
1
PHẦN MỞ ĐẦU
---X W---1. Lí do chọn đề tài:
Trong tiến trình phát triển của văn xuôi hiện đại Việt Nam, giai đoạn 1930-1945 là
giai đoạn phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Có thể nói đây là giai đoạn
nở rộ của những tài năng văn học và đã để lại cho văn đàn Việt Nam những cây bút sáng
giá như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao… Bên cạnh những
gương mặt tiêu biểu ấy, chắc ít ai quan tâm đến sự đóng góp của những nhà văn mà tên tuổi
chưa sáng ngời trên trang viết. Trong đó có Nguyễn Đình Lạp - “một cây bút lặng lẽ và
kiên nhẫn” (Hoài Anh,2001:845).
Có mặt ở giai đoạn cuối của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, cùng
thời với nhà văn hiện thực xuất sắc Nam Cao - người đã kết thúc vẻ vang trào lưu văn học
hiện thực phê phán nhưng so với Nam Cao, Nguyễn Đình Lạp ít được chú ý hơn nhiều. Vị
trí của Nguyễn Đình Lạp trên văn đàn chưa được khẳng định như Nam Cao.Với số lượng
sáng tác ít ỏi, Nguyễn Đình Lạp được chú ý đến ở hai thể loại: phóng sự và tiểu thuyết. Với
hai thể loại này, ông đã có những đóng góp nhất định cho nền văn học dân tộc nói chung và
cho văn xuôi hiện đại Việt Nam nói riêng.
Ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, chưa đầy 39 tuổi, Nguyễn Đình Lạp “chưa kịp viết hết
những điều ông ấp ủ” (Bạch Liên,2003:29). Phương châm mà ông theo đuổi suốt đời đó là
“lặng lẽ và kiên nhẫn, kiên nhẫn viết rồi lặng lẽ ra đi” (Hoài Anh,2001;854) thế nhưng “cái
công phu kiên nhẫn của ông chỉ được đền đáp bằng sự lặng lẽ của văn đàn” (Hoài
Anh,2002:845). Biết bao công trình nghiên cứu, phê bình về trào lưu văn học hiện thực
phê phán 1930 - 1945 chỉ tập trung vào những cây bút tên tuổi chứ không mấy người quan
tâm đến một gương mặt âm thầm nơi góc khuất của làng văn như ông. Đặc biệt là đối với
hai tiểu thuyết đầu tay và cũng là hai tiểu thuyết duy nhất trong đời văn của Nguyễn Đình
nhanh chóng của Nguyễn Đình Lạp ngay khi biết đến văn hóa cứu quốc qua bạn bè những
năm tiền khởi nghĩa tháng tám.
Sống trên mảnh đất thị thành đầy những ung nhọt, Nguyễn Đình Lạp cũng nối gót
Vũ Trọng Phụng để ghi lại một cách chân thực cái xã hội ấy qua những thiên phóng sự điều
tra đăng báo. Và Nguyễn Đình Lạp đã được nhiều người chú ý đến ở một số phóng sự dài
như: Chợ phiên đi tới đâu (1937), Thanh niên truỵ lạc (1937), Cường hào (1938). Tên tuổi
của ông càng được chú ý hơn khi hai tiểu thuyết đầu tay được xuất bản: “Ngoại ô” - 1941
và “Ngõ hẻm” - 1943. “Từ một cây bút nhiều năm viết phóng sự chuyển sang viết tiểu
thuyết” (Lê Thị Đức Hạnh,2002:25) nên tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp cũng “ngồn
ngộn chất phóng sự”, chất phóng sự thể hiện trước hết ở “tính đương thời và không gian
xác định trong thiên tự sự”(Nguyễn Ngọc Thiện,1995:34). Chính “cái không gian xác
định” trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp đã làm cho Vũ Quần Phương cảm thấy “đọc
Ngoại ô đã như đọc khảo cổ nếu chỉ nhìn vào địa hình địa vật” (Vũ Quần
Phương,2003:860). Và nói về “tính đương thời” của tác phẩm, ông cho rằng “nhiều chuyện
đời trong không gian khảo cổ lại đang là thời sự” (Vũ Quần Phương,2003:860-861). Có lẽ
chính vì thế mà tác giả đã tự gọi hai tiểu thuyết của mình là “phóng sự tiểu thuyết”. Trong
Tổng tập Văn Học Việt Nam - tập 33 – Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội – 2003 khi
tóm lược và trích một phần của hai tiểu thuyết này, tác giả cũng đã ghi ngay dưới nhan đề
“Ngoại ô”, “Ngõ hẻm” là “tiểu thuyết phóng sự - trích”. Thế nhưng, khi đưa Nguyễn Đình
Lạp vào hàng “nhà văn hiện đại”, Vũ Ngọc Phan đã “không ngần ngại xếp Nguyễn Đình
Lạp vào hàng những nhà tiểu thuyết tả chân” (Nguyễn Ngọc Thiện,1995:34) và ông không
đồng ý khi tác giả gọi tác phẩm của mình là “phóng sự tiểu thuyết”. Ông cho rằng “Ngoại ô
chỉ là một tập tiểu thuyết tả thực, một tập tiểu thuyết tả chân vì nó có rất nhiều tưởng
tượng” (Vũ Ngọc Phan,1989:404). C
ăn cứ vào đó, Vũ Ngọc Phan đã xếp “Ngoại ô” vào
loại “tiểu thuyết tả chân có một ít khuynh hướng xã hội” (Vũ Ngọc Phan,1989:403). Cùng
với ý kiến của Vũ Ngọc phan, tác giả Nguyễn Ngọc Thiện cho cách xếp loại của Vũ Ngọc
Phan như vậy là thoả đáng và Nguyễn Ngọc Thiện cũng chỉ ra “đặc sắc của bút pháp tự sự
của tác giả
là phương diện tả chân, tả thực“có một ít về khuynh hướng xã hội” (Nguyễn
về cuộc sống của người nông dân thì có thể kể ra hàng loạt những cuốn tiêu biểu: Tắt đèn
của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan… Về tiểu tư sản có: Sống mòn
của Nam Cao, Cuộc sống, Hơi thở tàn của Nguyên Hồng,… nhưng về dân nghèo thành thị
thì chỉ có “Ngoại ô” và “Ngõ hẻm” của nguyễn Đình Lạp là sáng giá”. Với bút pháp tả
chân sắc sảo, Nguyễn Đình Lạp đã khai thác đề tài ấy một cách có hiệu quả. Chính vì vậy
mà PTS Nguyễn Ngọc Thiện trong bài viết Những cuộc đời bị dồn đẩy trong tiểu thuyết tả
chân của Nguyễn Đình Lạp, tạp chí văn học số 12 – 1995:35 đã khẳng định: “Cái mà tiểu
thuyết Nguyễn Đình Lạp có sức hấp dẫn người đọc đương thời cũng như người đọc hôm
nay có lẽ nằm ở nội dung hiện thực độc đáo với bút pháp tả chân sắc sảo cùng là tư tưởng
nhân bản toát ra từ toàn bộ tác phẩm”. Trong cái “nội dung hiện thực độc đáo ấy hàm
chứa một thái độ phê phán của tác giả đối với những mặt trái của xã hội” (Nguyễn Ngọc
Thiện,1995:35) nên Nguyễn Ngọc Thiện còn coi “đó là một bức tranh chân thực, sắc sảo…
được miêu tả sinh động và giàu ý nghĩa phê phán, t
ố cáo” (Nguyễn Ngọc Thiện,1995:35).
“Miêu tả cuộc sống bi thương của dân nghèo thành thị” (Nhiều Tác giả,1978:151),
cùng với những nhà văn hiện thực đương thời, Nguyễn Đình Lạp đã góp phần ghi lại một
cách phong phú đời sống xã hội ta trước cách mạng, giúp người đọc hôm nay thấy được
“những lạc hậu, nghèo đói, khổ ải, những tráo trở, biến động, những thét gào” (Dươ
ng
Nghiễm Mậu,2000:115-116) của những kiếp người dưới đáy xã hội như nhận định của
Dương Nghiễm Mậu trong bài Viết về Vũ Trọng Phụng. Còn Phan Cư Đệ trong Tiểu thuyết
hiện đại đã xếp tiểu thuyết của nguyễn Đình Lạp vào hàng những tiểu thuyết hiện thực phê
phán – “cái đáng nói nhất”(Phan Cư Đệ,1978:56) của v
ăn học công khai 1930 -1945. Bởi
vì nó tha thiết quan tâm đến cuộc đời những người dân nghèo sống chui rúc trong các “Ngõ
hẻm” của vùng “Ngoại ô”. Vũ Ngọc Phan trong quyển Nhà văn hiện đại cũng đồng ý đây là
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
4
Là một tài năng nở muộn trong làng tiểu thuyết, Nguyễn Đình Lạp đã khẳng định sự
có mặt của mình không chỉ ở việc chọn cho mình mảnh đất hiện thực ít dấu chân người
bước tới mà còn ở bút pháp thể hiện đặc sắc như Lê Thị Đức Hạnh đã nhận xét trong bài
Tường thuật về cuộc hội thảo khoa học bàn về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Lạp
: Nguyễn Đình Lạp “có những tìm tòi mới mẻ độc đáo trong cách thể hiện nên đã gây được
ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc” (Lê Thị Đức Hạnh,2003:845).
Để tái hiện một cách chân thực quang cảnh “Ngoại ô” và “Ngõ hẻm” trước cách
mạng, Nguyễn Đình Lạp thành công trước hết ở “bút pháp tả chân sắc sảo” như
Nguyễn
Ngọc Thiện đã nhận xét: “Đọc “Ngoại ô” và “Ngõ hẻm”, người đọc sửng sốt và thú vị
trước những trang miêu tả tài hoa của tác giả” (Nguyễn Ngọc Thiện,1995:35-36). Hoài
Anh trong quyển Chân dung văn học cũng công nhận Nguyễn Đình Lạp “đã có những
trang miêu tả đặc sắc” về khung cảnh lao động nhộn nhịp của một góc ngoại thành Hà Nội
“xen lẫn với nhữ
ng trang tả cảnh thiên nhiên tươi mát, đậm đà, chứng tỏ anh có biệt tài về
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
5
miêu tả cảnh sắc của vùng ngoại ô ở phía nam Hà Nội” (Hoài Anh,2001:849). Còn đối với
Bùi Hiển trong bài viết về Nguyễn Đình Lạp Nhà văn của những thân phận hèn mọn, ông
đã nhận xét: “Ngần ấy cảnh ngộ được tác giả miêu tả bằng một bút pháp khá linh hoạt,
nhuần nhuyễn” (Bùi Hiển,2003:850).
Bên cạnh “biệt tài” trong việc tái hiện hiện thực cuộc sống bên ngoài, Nguyễn Đình
Lạp cũng tỏ ra hết sức tinh tế khi thể hiện tâm lý bên trong của nhân vật bởi “ông là người
rất tinh tế”, năng truy tìm những cảm giác “thấp thoáng” (Nguyễn Lương Ngọc,2003:857)
Hoài Anh cũng cho rằng “Nguyễn Đình Lạp có những thành công đáng kể” trong việc “thể
hiện tính cách, tâm lý của nhân vật” (Hoài Anh,2001:849-850). Còn đối với Lê Thị Đức
Hạnh, nếu như trong phần trình bày về phóng sự của Nguyễn Đình Lạp, cô có nhận định
phê bình đã nhận xét. Trước hết là nhận định của Vũ Ngọc Phan trong quyển Nhà văn hiện
đại cho rằng: “nhiều đoạn tác giả dàn việc thiếu nghệ thuật và có mấy đoạn tác giả xét
nhận không được tinh tế”. Cuối bài viết, ông đã thẳng thắn kết luận: “Nguyễn Đình Lạp
chưa được vững chãi trong lối tả thực… văn ông viết l
ại không được kĩ, không được gọn
có nhiều đoạn thẳng tuồn tuột, lời nhiều ý ít”. Cũng đồng ý với ý kiến của Vũ Ngọc Phan,
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
6
Nguyễn Ngọc Thiện còn nói thêm “không phải lúc nào ngòi bút Nguyễn Đình Lạp cũng giữ
được tinh tế, nhuần nhuyễn trọn vẹn. Có lúc ông rơi vào tẻ nhạt, tầm thường xoàng xĩnh”
(Nguyễn Ngọc Thiện,1995:36). “Từ một cây bút nhiều năm viết phóng sự chuyển sang viết
tiểu thuyết nên đôi khi Nguyễn Đình Lạp chú ý tả việc hơn tả người và bố cục chưa được
chặt chẽ lắm” như nhận xét của Lê Thị Đức Hạnh (2002). Cũng nhận ra được nhược điểm
đó, Bùi Hiển (2003) cho rằng “truyện đôi khi hơi xô lệch có lẽ do chất phóng sự ngồn ngộn
chen vào”. Tác giả Nguyễn Hoành Khung cũng nhìn nhận “bên cạnh những trang chân
thực cảm động, ngoại ô còn để lộ những khía cạnh non yếu, kết cấu thiếu chặt chẽ, tình tiết
đôi khi còn dễ dãi” (Nguyễn Hoành Khung,2004:1064).
2.3. Nhận xét chung:
Như khoá luận đã trình bày tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp ít được quan tâm
nghiên cứu một cách toàn diện nhưng phong cách riêng độc đáo của một nhà tiểu thuyết
nhiều năm thử bút trên lĩnh vực phóng sự là không thể phủ nhận được.
Qua quá trình tổng hợp ý kiến của các nhà phê bình nghiên cứu về những vấn đề có
liên quan đến luận văn, chúng tôi nhận thấy rằng, mặc dù có những ý kiến khen chê khác
nhau nhưng nhìn chung những ý kiến đều khẳng định tài năng cũng như đóng góp của
Nguyễn Đình Lạp cho trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945. Bên cạnh đó, các
nhà nghiên cứu cũng công nhận tiểu thuyết của ông còn có những hạn chế nhất định. Trên
cơ sở kế thừa ý kiến của các nhà phê bình, chúng tôi cũng có sự tự phát hiện, khám phá để
hiểu rõ hơn những nét riêng trong phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Đình Lạp ở
so sánh sự giống và khác nhau trong cách thể hiện nội dung và nghệ thuật giữa Nguyễn
Đình Lạp và những nhà văn khác. Từ đó, chúng tôi có cái nhìn toàn diện và khách quan
hơn về những đóng góp của Nguyễn Đình Lạp cho văn xuôi hiện đại Việt Nam trước 1945.
Phương pháp thống kê:
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu. Để làm rõ đề tài
này, chúng tôi thực hiện việc thống kê các yếu tố nội dung nghệ thuật có tính bao quát, phổ
biến, nổi bật của tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp. Từ đó chúng ta thấy được phong cách riêng
độc đáo, những sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Đình Lạp ở lĩnh vực tiểu thuyết.
Phương pháp hệ thống:
Phương pháp này nhằm giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện về văn nghiệp của
Nguyễn Đình Lạp. Đồng thời, qua quá trình hệ thống, chúng tôi sẽ nhận ra những nét cơ
bản, đặc thù, sáng tạo độc đáo của nhà văn trong lĩnh vực tiểu thuyết - một thể loại đã đưa
tên tuổi của nhà văn vào hàng ngũ các “nhà văn hiện đại”, “xứng đáng nổi tiếng ở tiền
chiến” (Thế Phong,2002: 25)
5. Đóng góp mới của đề tài:
Đề tài khoá luận là một đề tài khá mới mẻ. Mặc dù khi hai tiểu thuyết “Ngoại ô” và
“Ngõ hẻm” xuất hiện trên văn đàn, nó cũng đã thu hút khá nhiều sự chú ý của giới độc giả
cũng như giới phê bình nhưng có thể nói, tiểu thuyết của Nguyễn Đình Lạp vẫn chưa được
sự quan tâm đúng mức cũng như được nghiên cứu một cách toàn diện. Nghiên cứu đề tài
này, chúng tôi mong muốn sẽ góp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về tiểu thuyết của
Nguyễn Đình Lạp. Qua đó, chúng tôi muốn khẳng định tài năng cũng như phong cách riêng
của nhà văn và nhất là khẳng định lại những đóng góp của ông cho nền văn xuôi hiện đại
Việt Nam. Cuối cùng, chúng tôi hi vọng đề tài khoá luận sẽ giúp thêm tư liệu cho những
bạn đọc thực sự quan tâm, yêu mến nhà văn.
6. Dàn ý của khoá luận:
Khoá luận có 3 phần chính : Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận. Trong đó
trọng tâm là phần nội dung
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương I
: “Vài nét về cuộc đời, con người và văn nghiệp của Nguyễn Đình
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
9
PHẦN NỘI DUNG
---X W---CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI VÀ VĂN
NGHIỆP CỦA NGUYỄN ĐÌNH LẠP
1.Cuộc đời,con người và sự nghiệp sáng tác:
1.1.Cuộc đời và con người:
Nguyễn Đình Lạp cũng là một trong số những nhà văn yểu mệnh như Vũ Trọng
Phụng. Nhưng nếu Vũ Trọng Phụng với tuổi đời hai mươi bảy ngắn ngủi đã khẳng định
được tên tuổi của mình bằng một khối lượng sáng tác khá đồ sộ thì Nguyễn Đình Lạp với
tuổi đời ba mươi chín đầy tâm huyết nhưng vẫ
n chưa có được một vị trí xứng đáng trên văn
đàn. Cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng nhà văn trẻ này đã sớm chuyển mình đem tài năng phục
10
Đầu những năm 1940, Nguyễn Đình Lạp bắt đầu chuyển sang viết tiểu thuyết
Bước vào những năm tiền khởi nghĩa tháng tám, một số bạn bè đồng nghiệp của
Nguyễn Đình Lạp đã tham gia cách mạng. Qua người bạn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn
Đình Lạp đã biết đến văn hoá cứu quốc. Từ đó, ông đã nhiệt tình tham gia hoạt động Cách
mạng và có mặt trong đoàn văn nghệ sĩ Nam tiến vào mặt trận quân khu V.
Sau cách mạng năm 1946, Nguyễn Đình Lạp là một trong số những nhà văn đầu
tiên vào quân đội và tham gia Hội văn nghệ liên khu IV. Ông phụ trách văn nghệ phòng
chính trị đại đoàn 304. Cũng trong thời kì này, ông làm giảng viên môn học phóng sự của
nhiều khoá văn nghệ kháng chiến khu IV mở tại Thanh Hoá. 1950, Nguyễn Đình Lạp được
kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1951-1952, ông được biệt phái công tác về
Mặt trận Hà Nội.
Đối với bạn bè, đồng chí, Nguyễn Đình Lạp vừa là một người dễ gần dễ mến vừa là
một tấm gương đáng kính đáng trọng. Là một người lặng lẽ, ít nói, thế mà có lần, Nguyễn
Đình Lạp đã trao đổi một cách sôi nổi với Vũ Tú Nam “về văn học phục vụ kháng chiến,
phục vụ cách mạng, những gian khổ rèn luyện của người cầm bút, suốt đời phải lo việc
“sống, học và viết” sao cho tốt” (Vũ Tú Nam,2003:853). Nguyễn Đình Lạp là một nhà văn
đầy tâm huyết nên dẫu đã cống hiến hết sức mình cho nghệ thuật và cho cách mạng, ông
vẫn chưa bao giờ cảm thấy thoả mãn. Điều ấy thể hiện trong câu nói đầy trăn trở và nuối
tiếc với Vũ Tú Nam: “Nam có cả tương lai trước mắt. Mình thì đi đã quá nửa đường rồi,
thật không dễ chút nào” (Vũ Tú Nam,2003:853).
Đối với gia đình, Nguyễn Đình Lạp là niềm tự hào của vợ con. Ông cũng có một
mái gia đình ấm cúng với một người vợ biết hi sinh và những đứa con ngoan. Tình yêu của
ông và bà Bạch Liên - vợ nhà văn - là một tình yêu đáng trân trọng. Một người sống hết
mình theo tiếng gọi nghề nghiệp như Nguyễn Đình Lạp không khỏi có những lúc xao lãng
việc gia đình nhưng thật hạnh phúc khi ông có được một người vợ biết cảm thông, chia sẻ
gánh nặng cùng chồng. Bà Bạch Liên không những là cánh tay phải đắc lực của ông lúc
sinh thời mà còn là người đã giúp ông hoàn thành tâm nguyện còn dang dở khi đã quá cố
bằng cách tập hợp và công bố những sáng tác của ông - một món di sản quý báu mà ông để
mới ghi nổi u uẩn sâu kín nhất của con người và những quan hệ vô cùng phức tạp phiền
phức của xã hội” (Nguyễn Đình Lạp,2003:793).Và khi hai tiểu thuyết đầu tay ra đời:
“Ngoại ô” - xuất bản 1941 và “Ngõ hẻm” - xuất bản 1943 thì Nguyễn Đình Lạp lại càng thu
hút sự chú ý của người đọc.
* Tóm lược về hai tiểu thuyết “Ngoại ô” và “Ngõ Hẻm”:
Hai tiểu thuyết này được xem là bộ tiểu thuyết liên hoàn bởi nội dung của nó có sự
liên quan và tiếp nối nhau. Nếu như “Ngoại ô” là câu chuyện xoay quanh gia đình của
bác Vuông bán giò chả thì “Ngõ hẻm” lại là câu chuyện xoay quanh gia đình của chàng
đồ tể Nhớn – con rể bác.
“Ngoại ô” phản ánh cuộc sống của những người dân nghèo vùng Vạn Thái, Bạch
Mai, thuộc Ô Cầu Dền, Hà Nội. Đó là những con người sống bằng đủ thứ nghề: buôn bán,
phu xe, đồ tể, cô đầu, gái điếm và có cả những tay lưu manh, trộm cướp. Trong đó, gia
đình bác Vuông bán giầy giò được khắc hoạ đậm nét nhất. Gia đình bác Vuông rất nghèo,
cái nghèo truyền kiếp nhưng bác rất hào hiệp, hay giúp đỡ cô đầu Huệ lúc khó khăn. Nghe
bác phở Mỗ ngỏ lời, bác Vuông quyết định gả cái Khuyên – con gái bác cho Pháo – con
trai bác phở Mỗ và đã cho ăn hỏi. Trong khi đó, nhiều người hay gán ghép Khuyên với
Nhớn, một anh chàng đồ tể lành nghề, tráng kiện làm cho Khuyên hay so sánh Pháo với
Nhớn. Gia đình bác Vuông chỉ có ba đứa con gái nên vợ bác vẫn mong cưới vợ lẽ cho
chồng để kiếm con trai nối dõi và đã nhờ người mai mối. Cưới vợ lẽ về chưa được bao lâu
thì tai hoạ cũng dồn dập kéo đến: Lệnh cấm giò chả, cấm thịt ở ngoại ô vào thành phố bán.
Gia đình bác Vuông khốn đốn vì không bán được hàng, tiền đ
út lót cũng mất, bác Vuông
gái đi buôn thịt lậu cũng bị bắt. Rồi đùng một cái, bác gái chết vì bệnh dịch tả, đưa về quê
chôn lại bị bọn lí dịch hoạnh hoẹ đủ điều. Đau khổ vì vợ mất, bác Vuông lại biết Nhớn và
Khuyên yêu nhau liền cho Pháo cưới gấp. Nhớn liều đào mả trộm vàng để có tiền trốn đi
cùng Khuyên. Bấy nhiêu nỗi khổ dồn dập khiến bác Vuông hoá điên và tác phẩm kết thúc
trong buổi chiều tà ảm đạm khi bác Vuông bị bắt vào nhà thương điên bỏ lại sau lưng
người vợ lẽ với cái bụng chửa và cái Còi - đứa con gái bị câm của bác.
“Ngõ hẻm” là câu chuyện về Nhớn và Khuyên khi đã trốn đi khỏi Bạch Mai. Sau
khi đưa Khuyên trốn đến Hải Phòng, Hà Tu, phần vì Khuyên ốm, phần vì nghe tin bác
tiền khởi nghĩa tháng tám, ông đã viết được hai phóng sự dài Cảnh Dương chiến đấu và
Thôn Lệ Sơn. Song vì điều kiện in ấn lúc ấy khó khăn nên chỉ in tay phổ biến nội bộ.
Sau cách mạng, năm 1951-1952, ông được biệt phái về công tác ở Hà Nội nhằm tạo
điều kiện cho ông có thể viết tiếp về con người Hà Nội trong kháng chiến - những con
người đã từng in đậm trong nhiều sáng tác trước cách mạng của ông. Thời kỳ này, ông đã
tham gia một số công tác và viết một số điển hình của ngành công an Hà Nội. Trong đó có
cuốn truyện Chiếc vali trên tàu AmiôĐanhvin (1951) có thể xem là sáng tác cuối cùng của
ông.
Điểm qua vài nét về cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn
Đình Lạp, chúng ta hiểu rõ hơn về một nhân cách và một tài năng đáng trân trọng. Bằng
quãng đời ngắn ngủi của mình, Nguyễn Đình Lạp đã cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp
nghệ thuật cũng như cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Tuy số lượng sáng tác không
nhiều, chủ yếu tập trung ở thể loại phóng sự cùng với hai tiểu thuyết vỏn vẹn và một số
truyện ngắn đăng rải rác trên các báo, nhưng Nguyễn Đình Lạp cũng có những đóng góp
nhất định cho nền văn học dân tộc nói chung và cho trào lưu văn học hiện thực phê phán
giai đoạn 1930 – 1945 nói riêng.
2. Những đóng góp của Nguyễn Đình Lạp cho trào lưu văn học hiện thực phê phán
giai đoạn 1930 – 1945:
2.1. Những đóng góp của Nguyễn Đình Lạp cho thể loại phóng sự:
Nguyễn Đình Lạp sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, phóng sự, tiểu
thuyết.. Trong đó, ông có nhiều đóng góp cho văn học giai đoạn này ở hai thể loại: phóng
sự và tiểu thuyết. Xuất hiện muộn trên văn đàn, ông được chú ý trước hết ở thể loại phóng
sự. Trong khi Nguyễn Đình Lạp chỉ mới tập tễnh viết những phóng s
ự đầu tay thì thể loại
phóng sự đã được phát triển đến đỉnh cao với những cây bút tên tuổi như Tam Lang, Trọng
Lang, Vũ Bằng… và đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, hấp dẫn người đọc với những tuyệt tác
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
13
khía cạnh này, phóng sự Nguyễn Đình Lạp “hơn rất nhiều phóng sự của
các cây bút đàn anh khác” (Vũ Tuấn Anh,2003:866). Đọc những phóng sự của ông, người
đọc cảm thấy mức độ chân thực cao và mức độ chính xác rõ rệt. Bởi “Nguyễn Đình Lạp
luôn chịu khó lăn lộn trong thực tế” (Lê Thị Đức Hạnh,2002:21) nên những phóng sự của
ông luôn đầy ắp những “chất liệu sống, …sinh động, tươi rói” (Lê Thị Đức Hạnh,2002:21).
Nhờ đó mà những phóng sự của ông luôn có một tiếng nói tố cáo mạnh mẽ. Nó như một
“hồi chuông báo động” và cảnh tỉnh đối với toàn xã hội. “Ý nghĩa của tiếng chuông này
vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự”(Lê Thị Đức Hạnh,2002:21) đến ngày hôm nay.
Nguyễn Đình Lạp viết phóng sự với quan niệm: “Phóng sự là nghiên cứu, tìm hiể
u
một sự kiện gì rồi ghi chép lại cho thật đúng”(Nguyễn Đình Lạp,2003:795). Đối với ông,
chỉ có phóng sự mới giúp “ghi chép đầy đủ, nóng hổi sự sống”(Nguyễn Đình
Lạp,2003:794). Vì vậy, ông đã sử dụng phóng sự như “một lợi khí sắc bén”(Nguyễn Đình
Lạp,2003:794] và phát huy tối đa lợi thế của vũ khí ấy để ghi chép cho thật đầy đủ những
sự kiện nóng hổi của đời sống. Với cách tiếp cận hiện thực mới ấy, Nguyễn Đình Lạp đã có
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
14
nhiều điều kiện “triển khai những đề tài có diện rộng…chuyên chở nhiều hơn những vấn đề
có ý nghĩa xã hội” (Vũ Tuấn Anh,2003:867-868).
Từ cách tiếp cận hiện thực của một nhà điều tra xã hội học, Nguyễn Đình Lạp cũng
giải quyết các vấn đề xã hội một cách khoa học. Phải công nhận rằng, trong các phóng sự
của mình, Nguyễn Đình Lạp chưa thật sắc sảo trong quan sát, miêu tả hiện thực sinh động
cũng như phân tích thế giới nội tâm nhân vật nhưng ông lại “tỏ ra vững vàng trong khi mổ
xẻ, bình luận những hiện trạng xã hội”(Lê Thị Đức Hạnh,2002:22). Vì thế, phóng sự
Nguyễn Đình Lạp đã “làm giàu cho thể văn này ở khía cạnh phân tích xã hội. Lối phân tích
này còn ít thấy trong các phóng sự đương thời” (Vũ Tuấn Anh,2003:870). Cũng giống như
các nhà phóng sự khác, Nguyễn Đình Lạp cũng lăn lóc vào mọi ngõ ngách của đời sống để
thu thập những tư liệu, khám phá hiện thực. Đặc biệt, Nguyễn Đình Lạp không dừng lại ở
Đức H
ạnh,2002:22) mà Nguyễn Đình Lạp đã góp vào cho kho tàng truyện ngắn hiện thực
trào phúng 1930 -1945.
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
15
Những đặc sắc nghệ thuật nói trên đã cho thấy một phong cách riêng độc đáo của
ngòi bút phóng sự Nguyễn Đình Lạp cũng như những đóng góp của ông cho nghệ thuật
phóng sự Việt Nam 1930 -1945. Đánh giá về phóng sự Nguyễn Đình Lạp, chúng ta có thể
tóm gọn trong nhận định của Lê Thị Đức Hạnh: “Thành công đánh kể của Nguyễn Đình
Lạp trong phóng sự không chỉ do sự nhanh nhạy, sắc sảo của một nhà báo, sự nhuần
nhuyễn của một nhà văn, sự vận dụng thành thạo phương pháp điều tra như một nhà xã hội
học mà vượt lên trên đó còn do con mắt và tấm lòng của người cầm bút” (Lê Thị Đức
Hạnh,2002:22).
2.2. Những đóng góp của Nguyễn Đình Lạp cho thể loại tiểu thuyết:
Sau khi đã gặt hái được một số thành quả trong lĩnh vực phóng sự, Nguyễn Đình
Lạp đột phá vào lĩnh vực tiểu thuyết. Bởi vì đối với ông, “chỉ có tiểu thuyết mới có thể ghi
nổi u uẩn sâu kín nhất của con người và những quan hệ vô cùng phức tạp phiền phức của
xã hội” (Nguyễn Đình Lạp,2003:793). Năm 1941, Nguyễn Đình Lạp lần lượt trình làng hai
tiểu thuyết đầu tay và cũng là hai tiểu thuyết duy nhất của ông trước cách mạng tháng tám:
“Ngoại ô” và “Ngõ hẻm”. Tuy ông không có được những thành công vang dội như nhà văn
cùng thời Nam Cao nhưng những đóng góp của Nguyễn Đình Lạp cho làng tiểu thuyết Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945 không phải là ít ý nghĩa.
Chọn đề tài về cuộc sống dân nghèo thành thị ở vùng ven đô Hà Nội, Nguyễn Đình
Lạp đã có được “những trang viết thành công” (Nguyễn Ngọc Thiện,1995:35) dựa trên sự
am hiểu của ông về con người và mảnh đất mà ông sinh trưởng. Có lẽ, do chọn không gian
xác thực là chính quê hương mình và mong muốn phản ánh chân thực những cảnh và người
ở đó nên nhà văn đã xem tiểu thuyết đầu tay của mình là “phóng sự tiểu thuyết”. Điều đó
đã gây ra nhiều sự bàn cãi về thể loại tiểu thuyết của ông. Tuy nhiên, trong quá trình khảo
mình khi đi vào mổ xẻ thế giới nội tâm sâu kín của nhân vật. Nhờ thế, những trang tiểu
thuyết của Nguyễn Đình Lạp đã tiến xa hơn những phóng sự trước đó của ông về nghệ
thuật miêu tả tâm lý. Có thể ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật của Nguyễn Đình Lạp chưa
thành thục như Nam Cao nhưng cần phải công nhận rằng, ông cũng đã “tỏ ra khéo léo,
thậm chí tài tình” (Lê Thị Đức Hạnh,2002:25) khi thâm nhập vào thế giới nội tâm nhân vật.
Bằng những sáng tạo rất riêng trong hai tiểu thuyết của mình, “Nguyễn Đình Lạp đã góp
thêm một tiếng nói nghệ thuật có giá trị” (Nguyễn Ngọc Thiện,1995:36) cho tiểu thuyết
hiện thực phê phán ở nước ta trước 1945.
Qua những đóng góp của Nguyễn Đình Lạp cho thể loại phóng sự và tiểu thuyết,
chúng ta có thể thấy rằng, sáng tác của Nguyễn Đình lạp xét về mặt số lượng tuy không
nhiều nhưng những gì ông đóng góp cho trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945
xét về mặt chất lượng thì không hề nhỏ. Với tài năng ấy, nếu chưa vội đi xa, chắc chắn ông
sẽ còn có những đóng góp lớn lao hơn nữa để góp phần tô điểm cho bộ mặt văn học dân tộc
ngày càng thêm rạng rỡ.
những thành công bước đầu trong lĩnh vực tiểu thuyết khi viết về chính mảnh đất chôn
nhau cắt rốn ấy. Dưới con mắt am tường và bằng tấm lòng nhiệt huyết với quê hương, xứ
sở, cuộc sống lam lũ, cơ cực của những con người nơi đây được nhà văn tái hiện trong tác
phẩm như một “bức tranh nhiều màu sắc” (Lê Thị Đức Hạnh,2003:15). “Ngoại ô” và “Ngõ
hẻm” đã tái hiện một cách chân thực và cảm động những mảnh đời cơ cực, lầm than, bế tắc
của nhữ
ng người dân nghèo ở miền Vạn Thái, vùng Bạch Mai, thuộc Ô Cầu Dền (một khu
vực ngoại ô của Hà Nội trước kia, nay là nội thành). Đó là thế giới của những con người
sống tất bật, bon chen bằng nhiều nghề khác nhau: từ buôn thúng bán mẹt như bán bánh
giầy, bánh giò, bán phở, bán hàng rong, hàng cà phê, hàng thịt cho đến những phu xe, đồ
tể, lại có cả gái điếm, cô đầu lưu manh… “Ngoại ô” là câu chuyện chủ yếu xoay quanh gia
đình bác Vuông bán giầy giò còn “Ngõ hẻm” là câu chuyện về gia đình bác Nhớn đồ tể
(con rể bác Vuông).
Mở đầu tác phẩm “Ngoại ô”, người đọc đã được dẫn đến khu “thị trường” to lớn
nhất ở Ngõ Vạn Thái, Ô Cầu Dền để chứng kiến cảnh mưu sinh nhọc nhằn của những của
người mua gánh bán bưng. Nói là thị trường to lớn vì trong cái ngõ ấy, “người ta đếm được
vừa đúng bốn mươi ba nhà ả đầu… Nếu tất cả bốn mươi ba nhà hát ấy đều có khách cả thì
ta sẽ thấy cái số người đi tìm mua khoái lạc về nhục thể có tới ngót hai trăm”. Ngoài ra còn
bọn người “phụng sự cuộc vui đàng điếm ấy” cũng khoảng hơn hai trăm nữa “gồm ả đầu,
kép đàn, thằng nhỏ, phu xe…”(Nguyễn Đình Lạp,2003:37-38). Vì thế, những người buôn
bán hàng rong dù có đi đến hang cùng ngõ hẻm nào thì đến cái phiên họp chợ hai giờ sáng
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
18
này, họ cũng về đây để chầu chực hơn bốn trăm khách hàng đã “mệt rã rời sau một phút rú
rít về xác thịt” (Nguyễn Đình Lạp,2003:38) và đây là giờ họ cần phải nhét đầy cái bao tử
lép kẹp của mình. “Quả là môt thị trường to lớn, và đông đảo, và cần mẫn trong lúc đêm
khuya, giờ mà xã hội cần yên giấc để lấy lại sức mà vật lộn với cuộc sống ngày hôm sau”
(Nguyễn Đình Lạp,2003:38). Ấy vậy mà trong cái giờ khắc ấy, có những con người không
chỉ là những mái nhà tranh lụp xụp lại phải chia ra nhiều gian bởi cái không gian chật hẹp
ấy cũng không phải sở hữu riêng của một nhà nào mà là nhiều nhà, nhiều gia đình chui rúc,
chia sớt nhau cái xó xỉnh tồi tàn nhỏ hẹp ấy: Nhà bác phở Mỗ là một “dãy nhà lá lụp xụp…
dài tới ba mươi gian áp lưng vào tường gạch Văn Chỉ và nhìn thẳng ra một cái ao bèo.
Mỗi gian là một chủ, có khi tới hai hay ba chủ chung nhau thuê. Thôi thì
đủ các hạng
người: thợ nhà máy, thợ nhà in, phu xe, những người bán bún chả, bún riêu…” (Nguyễn
Đình Lạp, 2003: 57). Cũng không hơn gì bác phở Mỗ, nhà bác Vuông không những chật
hẹp mà còn bị bao vây bởi nước đen, hôi thối bẩn thỉu. “Vợ chồng bác Vuông ngụ tại một
căn nhà tranh lụp xụp bên trong xóm hàng Mã, lưng tựa bờ hồ bô, một cái hồ rộng nhưng
nông choèn choèn, nước không có đường thông thành ra quanh năm đen sì, ngầu những
ván và m
ột mùi hôi thối xông lên gớm chết” (Nguyễn Đình Lạp,2003:70). Cái nhà lá của
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
19
bác thì “rất thấp, rất hẹp tựa hồ một cái nón úp xuống mặt đất, khí trời và ánh sáng bên
ngoài khó lòng mà vào được tận nơi, cũng như những mùi ẩm mốc bên trong không bao
giờ bay hết được ra ngoài” (Nguyễn Đình Lạp,2003:70).Thật khó lòng tưởng tượng được
căn nhà ấy lại chia thành ba gian cho ba gia đình ở: Vợ chồng bác Vuông, bác bán thịt trâu
và bác Mão cũng làm giò chả. Có được một khoảng sân rộng “vừa bằng hai cái nia” thì lại
còn có thêm “hai cái nhà lá nhỏ có ba gia đình khác nữa ở cùng quay ra cái sân đất nhỏ
hẹp ấy để chia bớt cái phần ánh sáng của nhà bác Vuông” (Nguyễn Đình Lạp,2003:71).
Thật là một nơi ở tù túng và ngột ngạt làm sao! Hơn thế nữa, “người dân ở đây sống giữa
bãi rác khổng lồ, nhơ nhớp của thành phố” (Lê Thị Đức Hạnh,2002:23). Ngay cái ngõ hẻm
trước nhà Nhớn những hôm trời mưa, dù “không nom rõ vũng lội nhưng Nhớn vẫn biết
rằng nó sâu, nó nhầy nhụa, nó bẩn thỉu… nước ngập lên đầu gối và một thứ bùn khăn
khẳn, nồng nặc đưa vào lỗ mũi” (Nguyễn Đình Lạp,2003:265). Trong thế giới của những
người buôn thúng bán mẹt ấy, gia đình bác Vuông bán giầy giò được khắc hoạ đậm nét
chín mươi lăm đồng mà “công vịêc vẫn mù mù, mịt mịt, chưa có gì là chuẩn đích cả”
(Nguyễn Đình Lạp,2003:183). Nhờ bác thịt trâu khuyên không nên đưa tiền thêm, cô đầu
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
20
Huệ vạch trần bộ mặt “ăn bẩn” của phán Hành, những hàng giò chả mới may mắn thoát cái
nạn đem tiền bỏ bể, mất cả chì lẫn chài.
Những hàng giò chả khốn đốn thì những hàng thịt cũng nguy ngập không kém trong
thời kì thi hành lệnh cấm ấy. Những hàng thịt cũng tìm mọi cách để đưa thịt lậu vào thành
phố bán .“Có người cho thịt lậu vào quả sơn son cẩn thận, ngồi xe nhà hẳn hoi, làm như
người đi biếu xén về việc hỷ. Lại có người cho thịt vào vỉ buồm kín mít, ngồi lên xe điện
như người lên tỉnh sắm sửa. Những thủ đoạn ấy đều bị khám phá… (Nguyễn Đình
Lạp,2003:162). Cuộc mưu sinh hằng ngày của họ vốn đã vất vả nay lại càng vất vả hơn như
lời than vãn của bác thịt trâu: “Sáng nào chả hộc tốc đạp xe đạp vào tận tỉnh Hà Đông hơn
mười cây số mà trời đông tháng giá này thì phải biết. Nhất là khi quay xe trở ra, mình phải
đạp ngược lại với ngọn gió bấc lạnh buốt thấu xương. Lại phải đèo thêm mấy chục cân thịt
trâu trên xe nữa… đạp xe mà như đẩy xe bò. Nặng ghê!” (Nguyễn Đình Lạp,2003:168).
Đâu chỉ thế thôi, họ còn phải giành giật để mua được thịt. “Nếu không khôn khéo và chịu
đút lót một chút thì có hòng đấy mà mua được” (Nguyễn Đình Lạp,2003:168) chứ nói chi
đến việc mua bán kiếm lời. Vậy mà nay, cái chính sách bất thình lình ấy của bọn thực dân
đã khiến những người vì kế sinh nhai mà phải làm ăn lén lút, để rồi bị khám xét, bị bắt bớ
khiến cho cuộc sống của những người dân nghèo càng điêu đứng hơn.
Bên cạnh thế giới của những người buôn thúng bán mẹt, những người đồ tể, “Ngoại
ô” và “Ngõ hẻm” còn tập trung phác hoạ góc đời đen tối của những cô gái buôn son bán
phấn. Đó là những cô gái điếm, những ả đầu tập trung trong bốn mươi ba căn nhà ở Ngõ
Vạn Thái. Họ là một thành phần trụ cột tạo nên cái thị trường to lớn, nhộn nhịp của Ô Cầu
Dền giữa lúc đêm khuya. Họ cũng sinh nhai bằng một cái nghề hẳn hoi đấy chứ. Đó là “ái
nghề bán ái tình” (Nguyễn Đình Lạp,2003:111). Nghe qua cứ tưởng đó là cái nghề nhàn
nhã, chỉ có thu lời chứ không bao giờ lỗ vốn. Nhưng thực chất, cuộc đời họ cũng chẳng
đồng tiền đến với tôi nó thất thường lắm” (Nguyễn Đình Lạp,2003:111). Một câu nói ấy
thôi cũng đủ làm người đọc cảm nhận được cuộc sống đầy bấp bênh của giới buôn son bán
phấn. Chịu sự tị hiềm của những bạn đồng nghề, chịu sự giầy vò của những khách làng
chơi, những cô gái đáng thương ấy còn phải chịu sự chèn ép của những mụ chủ vô lương
tâm. Những người chỉ biết kiếm lợi chứ không hề nghĩ đến nỗi khổ của những người phải
đổ nước mắt chịu tủi nhục để góp phần cung phụng cuộc sống phong lưu của họ. Hãy nghe
cô đầu Huệ than vãn về mụ chủ của mình: “Chán quá, bác ạ. Bà chủ tôi chỉ nghĩ đến sự thu
tiền bỏ túi chứ có bao giờ nghĩ đến số phận của những người làm nẩy ra đồng tiền ấy đâu”
(Nguyễn Đình Lạp,2003:113). Lời nói ấy thật không ngoa chút nào. Khi cô đầu Huệ nơm
nớp lo sợ sẽ bị một trận đánh ghen nữa do mẹ con cô Vượng đã thuê mụ Táo, bà chủ cô đã
“nhăn nhở cười, gạt phắt ngay đi: “Gớm, mày làm hình như đánh người dễ lắm hẳn. Lần
này thì cho kẹo cũng chả đứa nào chạm đến chân lông mày” (Nguyễn Đình Lạp,2003:113).
Số phận của những con người kiếm sống bằng chính nhan sắc của mình rồi cũng sẽ chịu
chung một kết cục khi nhan sắc dần phai tàn mà cô đầu Huệ là một ví dụ điển hình nhất:
“Người gầy hẳn đi, da xanh mai mái, đôi mắt sâu hoắm” với “cái bệnh lao ngấm ngầm đục
buồng phổi” (Nguyễn Đình Lạp,2003,188-189).
Dù sinh sống bằng bất cứ nghề nào đi chăng nữa, buôn bán, phu xe, đồ tể, hay cô
đầu gái điếm… thì tất cả những cảnh đời của những người dân nghèo ở chốn ngoại ô này
đều chịu chung một số phận “quẩn quanh, bế tắc, mòn mỏi, chẳng khác gì cuộc sống của
những người nông dân sau luỹ tre làng thời bấy giờ” (Lê Thị Đức Hạnh,2002:23). Cuộc
đời của gia đình bác Vuông, bác phở Mỗ, bác thịt trâu, cô đầu Huệ, hay gia đình bác đồ tể
Nhớn và Khuyên cứ dần bị dồn vào ngõ cụt, cũng tăm tối và không có lối ra như số phận
của những người nông dân nghèo Anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo… trong các tác phẩm cùng
thời. Đó là một kết cục tất yếu đã trở thành đặc trưng chung của những tiểu thuyết hiện
thực phê phán giai đoạn này. Kết thúc “Ngoại ô” là cảnh gia đình bác Vuông tan nát: Bác
Vuông gái chết vì bệnh dịch tả. Cả nhà bác Vuông lâm vào cảnh tang thương khốn đốn bởi
vì gia đình bác “trông cậy cả vào sự buôn bán của bác gái” (Nguyễn Đình Lạp,2003:206-
207). Lại thêm đứa con gái lớn của bác là cái Khuyên bỏ theo trai, theo bác Nhớn đồ tể vì
không đồng ý cuộc hôn nhân do cha mẹ sắp đặt. Bấy nhiêu tai ương tới tấp đổ ập xuống cái
gia đình nhỏ bé ấy, quằn nặng lên đôi vai và tâm trí
Vuông gặp xe quảng cáo vở chèo “cũng một kiếp người” với hình ảnh của “một người tù
tay tra vào cùm… một vị tướng ngồi ngất ngưởng trên mui… mộ
t cỗ quan tài phất bằng
giấy điều ngọt đỏ lòm như sơn son…” (Nguyễn Đình Lạp,2003:261). Tất cả những hình
ảnh ấy như nói lên một điều chua xót rằng: cũng một kiếp người trong cõi nhân gian này
nhưng có người lại phải chịu cuộc sống thấp hèn, tủi nhục. Có kẻ lại ngất ngưởng trên vinh
quang nhưng cho dù thấp hèn hay cao sang thì cuối cùng cũng đều đi đến m
ột kết cục trong
cái cỗ quan tài sơn son kia. Còn những con người lao động nơi ngoại ô, ngõ hẻm tối tăm
này, họ cũng đang cùng chịu chung một kiếp người: Kiếp sống của những con người “yêu
sống, mong sống, ham sống” (Nguyễn Đình Lạp,2003:74) nhưng niềm tin yêu, hy vọng của
họ ngày càng bị lụi tàn dần trong những cuộc mưu sinh “gay go, tàn nhẫn và nhọc nhằn”
(Nguyễn Đình Lạp,2003:74).
1.2. Bi kịch của những kiếp người trong một xã hội bóp nghẹt mọi khát vọng và
ước mơ:
Hiện thực tăm tối của xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là một mảng đề tài
phong phú trong văn học và những vấn đề trong xã hội ấy luôn có tính chất bức thiết và
nhức nhối. Từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng chịu chung một cảnh lầm than bế tắc,
cảnh nô lệ một cổ hai tròng dưới chế độ thống trị của chính quyền thực dân nửa phong kiến.
Những cảnh đời ấy đã được ghi lại một cách đầy đủ và hiện lên một cách chân thực, sinh
động qua ngòi bút của những nhà văn hiện thực. Qua những trang văn ghi lại giai đoạn này,
người đọc như bắt được nhịp sống của một thời. Nhịp sống ấy không sôi động cũng không
bình yên lặng lẽ mà chất chứa những biến động ngấm ngầm bên trong. Qua những trang
văn ấy, người đọc như còn thấy được “những lạc hậu, nghèo đói, khổ ải, những tráo trở
biến động, những thét gào” (Dương Nghiễm Mậu,2000:115-116) của những mảnh đời đầy
đau khổ. Hơn thế nữa, dường như mỗi con người tồn tại trong xã hội ấy đều là hiện thân
của một số phận đầy bi k
ịch. Chúng ta đã không thể nào quên được bi kịch của những
người nông dân nghèo ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, chẳng hạn bi kịch của một
con người bị từ chối quyền làm người như Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao,
chữ nghèo. Từ đời cha mẹ bác đến đời bác đều sống bằng nghề bán bánh giầy bánh giò.
Một cái nghề vừa vất vả vừa chẳng kiếm được bao nhiêu tiền. Vì thế, cái nghề bánh gia
truyền cũng mang theo cái nghèo gia truyền đến cho gia đình bác. Ngày trước, cũng chính
vì nghèo mà “cha mẹ bác phải chịu thương, chịu khó, kham khổ mãi mới chắt bóp dành
dụm được hai chục bạc để lo vợ cho bác” (Nguyễn Đình Lạp,2003:63). Nhưng cũng rất
may mắn cho bác, trong cảnh nghèo khổ, bác lại có được một người vợ chịu thương chịu
khó, biết san sẻ gánh nặng cùng chồng. Hai vợ chồng Bác bắt đầu gây dựng cuộc sống
riêng chỉ bằng một “ngọn đèn chai ám khói đen kịt… Ngọn đèn ấy là tất cả cái gia tài của
cha mẹ bác đã để lại cho ba chị em bác” (Nguyễn Đình Lạp,2003:42). Cuộc sống của hai
vợ chồng bác cũng rất đầm ấm, êm đềm với ba đứa con gái. Tuy cuộc sống hơi chật vật
nhưng cũng không đến nỗi nào. Cũng có những ngày hàng ế, nợ nần bao vây nhưng cũng
có những ngày Tết, gia đình bác được đặt hàng nhiều: nào bánh chưng, nào giò mỡ, giò hạt
lựu, giò lụa… Hai vợ chồng bác phải thuê thêm người và nhờ bạn bè làm giúp. Mỗi vụ Tết
làm ăn khấm khá, vợ chồng bác cũng có vài chục bạc để ăn Tết, mua đồ mới cho ba đứa
con, mua đồ cúng lễ ăn Tết. Cuộc sống của gia đình bác những tưởng sẽ vui vầy, sung túc
như thế mãi nếu không có cái chính sách bất thình lình vô lý của bọn Thực dân: Lệnh c
ấm
giò chả ở ngoại ô vào thành phố. Bi kịch của gia đình bác Vuông cũng bắt đầu từ đó. Cái
lệnh cấm ấy là một cột mốc quan trọng trong cuộc đời của bác Vuông. Nó đánh dấu quãng
thời gian hạnh phúc, vui tươi của gia đình bác vừa kết thúc và mở ra quãng thời gian đầy
sóng gió, bất hạnh với bao tai ương liên tiếp đổ xuống mái gia đình nhỏ bé của bác. Tuy cả
hai quãng thời gian, Bác đều phải sống trong cuộc sống lao động nghèo khó, vất vả và cay
cực nhưng chí ít, ở quãng thời gian trước khi có lệnh cấm ấy, bác còn được sống trong
những niềm vui đơn sơ, nhỏ bé với vợ hiền, con ngoan, công việc suông sẻ. Quãng thời
gian êm đềm ấy kết thúc trong cảnh gia đình bác Vuông nô nức đón Tết. Bác Vuông vừa
cưới được vợ lẽ. Trong tâm trạng “nhẹ nhõm, khỏe khoắn, vui vui”, bác lấy cây đàn bầ
u ra
gẩy. “Khi có sự gì buồn hay có sự gì vui, bác thường đem đàn ra gẩy. Hôm nay, điệu nhạc
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
chết, bác cũng phải chết trong âm thầm, lén lút, tức tưởi. Đám tang của bác diễn ra một
cách sơ sài chóng vánh. Một phần để tránh con mắt của nhà chức trách, một phần vì những
người hàng xóm sợ lôi thôi, ai cũng ghẻ lạnh. Cuối cùng, đám tang chỉ có “một cỗ áo quan
mộc bốn người khiêng vai… Theo sau chỉ có lèo tèo mấy người tang gia, người nào người
nấy đều mệt nhoài không khóc được ra hơi nữa. Đám tang âm thầm đi qua những rặng cúc
tần” (Nguyễn Đình Lạp,2003:215-216). Bác Vuông gái mất cũng như cánh tay phả
i của gia
đình cũng không còn. Mọi sự buôn bán của gia đình đều trông cậy cả ở bác gái. Vậy mà,
bác lại ra đi giữa lúc gia đình đang gặp sóng gió bỏ lại đàn con thơ cho bác Vuông và người
vợ lẻ gồng gánh.
Nỗi khổ của gia đình bác Vuông đâu dừng lại ở đó. Sau khi bác Vuông gái mất chưa
được bao lâu thì cái Khuyên – con gái lớn của bác cũng bỏ nhà theo Nhớn – bạn bác.
Khuyên bỏ nhà ra đi vì không chấp nhận lề lối hôn nhân lạc hậu “cha mẹ đặt đâu con ngồi
đấy”. Bác Vuông đã vì tình nghĩa bạn bè mà hứa gả con gái cho Pháo – con trai bác phở
Mỗ. Khi biết con gái không ưng Pháo mà yêu Nhớn thì vì chữ tín, bác lại dùng quyền lực
của người cha mà ép duyên con. Bị dồn ép, Khuyên đã liều bỏ trốn cùng Nhớn. Khuyên bỏ
nhà ra đi như một tác nhân đẩy bi kịch của bác Vuông lên đến đỉnh điểm. Như một giọt
Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Đình Lạp
SVTH: Nguyễn Thị Xuân Mai
25
nước làm tràn ly, Khuyên bỏ nhà theo Nhớn càng đẩy bác Vuông rơi vào nỗi đau tột cùng
của sự bế tắc không lối thoát. Bởi tâm hồn người cha ấy đã quá mệt mỏi, chán chường,
tuyệt vọng. Cùng một lúc, bác phải đón lấy biết bao nhiêu tai họa: “Lệnh cấm hàng giò chả,
bác gái bị bắt vì bán thịt lợn lậu, vợ bỗng nhiên lăn đùng ra chết, con gái lớn phải lòng
trai. Trong khi ấy, cái nghèo cứ lù lù tiến đến. Rõ rệt dần. To lớn dần. Nguy hiểm dần”
(Nguyễn Đình Lạp,2003:233). Mà người con trai đã quyến rũ con gái bác lại là Nhớn – bạn
bác nên bác cảm thấy mình bị lừa, bị phản bội. Lại thêm việc Khuyên bỏ đi khiến Pháo đau
khổ tự vẫn. Tuy Pháo không chết nhưng bác phở Mỗ lại nghi ngờ bác Vuông thay lòng đổi
dạ. Bấy nhiêu nỗi đau đè nén trong tâm hồn của bác khiến tinh thần bác ngày càng suy sụp.
gia đình. Vứt bỏ hết mọi lời dị nghị của chúng bạn, của bà chủ hàng thịt, Nhớn chỉ biết
sống theo tiếng gọi của lòng. Và mỗi lần nghĩ đến cái giấc mộng của mình đã thực hành,
lòng Nhớn lại nhộn nhịp tưng bừng như một vườn hoa xuân” (Nguyễn Đình Lạp,2003:116-
117). Thế nhưng, niềm vui của nhớn cũng kéo dài chẳng được bao lâu thì Nhớn đã phải
chứng kiến cái tiểu gia đình mình cố công lập ra đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Đúng như nhận
xét của Sẹo – bạn Nhớn, Tình không phải là người chịu thương chịu khó. Hơn nữa, “đồng
tiền bao giờ chả là cái trụ cột để chống đỡ cho cái cây ái tình ẻo lả khỏi gẫy đổ trước