đặc điểm tiểu thuyết trịnh thanh long (qua hai tiểu thuyết ma làng và đồng lành đom đóm) - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
==========
HOÀNG THỊ THÚY NGÀ

ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT TRỊNH THANH LONG
(Qua hai tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom đóm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN


Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - 2010

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sỹ Nguyễn
Đức Hạnh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo và động viên

"Bến không chồng", Tạ Duy Anh với "Lão khổ", Hoàng Minh Tường với
"Thuỷ hoả đạo tặc" chúng ta không thể không nhắc tới các nhà văn địa
phương đã âm thầm viết và có những thành tựu đáng ghi nhận. Trịnh Thanh
Phong, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, là một trường hợp như thế.
2. Sau tiểu thuyết "Ma làng” được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh
và gây tiếng vang lớn trong công chúng, Trịnh Thanh Phong xuất bản tiếp tiểu
thuyết "Đồng làng đom đóm". Cả hai tiểu thuyết của ông đều viết về đề tài
nông thôn với những xung đột thế sự đời tư vừa lâu dài vừa mang tính thời
sự. Nghiên cứu tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong chúng ta có thêm cơ sở
khoa học để khẳng định xu thế vận động của văn xuôi Việt Nam đương đại
trước và sau khởi điểm đổi mới 1986 ở đề tài nông thôn.
3. Trong chương trình ngữ văn cấp Trung học cơ sở có 24 tiết dành cho
văn học địa phương, theo khảo sát của chúng tôi thì phần văn học địa phương
hiện nay vẫn còn là "khoảng trống” ở nhiều tỉnh thành trên cả nước. Trong
chương trình đào tạo ngành văn của khoa đào tạo giáo viên Trung học cơ sở -
Đại Học Sư Phạm - Đại Học Thái Nguyên ở hai chuyên ngành Văn học Việt
Nam hiện đại và Lí luận văn học đều có phần văn học địa phương của 6 tỉnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
thuộc vùng Việt Bắc. Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp
thêm một tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên và sinh viên trong trường
Đại Học Sư Phạm nói chung, cho giáo viên và học sinh cấp Trung học cơ sỏ
tại tỉnh Tuyên Quang nói riêng.
II. Lịch sử vấn đề
Đề tài nông thôn là đề tài tương đối rộng lớn trong văn học Việt Nam.
Nó tồn tại tự nhiên trong đời sống văn học cũng như đời sống thường nhật của
con người. Vì đặc thù nước ta là nền văn hóa lúa nước và văn hóa làng xã, là
mảnh đất màu mỡ cho văn học nhưng không phải là mảnh đất dễ khai thác vì
nông thôn Việt Nam nói chung, nông thôn mỗi vùng miền lại có một bản sắc

Như vậy, các công trình nghiên cứu xung quanh tiểu thuyết viết về
nông thôn nói chung đã quan tâm đến nhiều khía cạnh của mảng văn học này
từ bộ mặt toàn diện trong xu hướng phát tiển đến những khía cạnh, góc nhìn
nhỏ hơn như đề tài nông thôn trong các tiểu thuyết cụ thể của các nhà văn cụ
thể: Kim Lân, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư… Trong đó
cũng có những bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom
đóm của nhà văn Trịnh Thanh Phong
Tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom đóm là hai tiểu thuyết tiêu biểu
của nhà văn Trịnh Thanh Phong. Đây cũng là hai tiểu thuyết thành công của
mảng văn xuôi viết về nông thôn cũng như của tác giả Trịnh Thanh Phong,
tạo được sự hấp dẫn đối với nhiều độc giả. Xung quanh hai cuốn tiểu thuyết
này cũng có nhiều ý kiến bàn luận ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau.
Chúng ta có thể điểm qua một vài ý kiến tiêu biểu với những cái nhìn khác
nhau về tiểu thuyết Ma làng và Đồng làng đom đóm như sau:
Bài phỏng vấn tác giả “Ma làng” do Hà Anh thực hiện trên báo
Viêtnam.net hé mở cho chúng ta nhiều vấn đề trong tác phẩm Ma làng.
Trong cuộc trò chuyện với nhà văn Trịnh Thanh Phong, tác giả Hà Anh đã có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
dịp đề cập đến chất liệu, cảm hứng của nhà văn khi viết tiểu thuyết Ma làng.
Về chất liệu, Tác giả Trịnh Thanh Phong đã khẳng định “chất liệu hiện thực
và những trải nghiệm thực tế để vẽ lên một bức tranh làng quê trong tiểu
thuyết ma làng phải chiếm tới 90% và có những cảnh vật, con người vẫn còn
nguyên sơ ở ngoài đời nơi tôi ở…”. Đó cũng chính là những lời nhà văn đã
nói trong lời tựa của cuốn tiểu thuyết này: “Tất cả để dựng lên khuôn hình,
cảnh vật con người trong cuốn sách này tôi đã tìm nhặt ở làng quê lở lói,
nghèo khổ bám quanh viền chân núi Châm chạy nhoài ra phái bờ sông Lô ở
chỗ con gà gáy ba tỉnh cùng nghe thấy! Bỏ vào cái túi da, tôi về ngồi dưới
căn nhà lá cọ ở cái phố “Hủng “thị xã Tuyên Quang sắp đặt lại. Công việc

văn Trịnh Thanh Phong đã cung cấp cho chúng ta.
Tiến sĩ Trần Lệ Thanh trong bài: “Ma làng “và sự trăn trở của một
ngòi bút với quê hương”, đã làm rõ hơn giá trị của “Ma làng”về cả phương
diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Thanh Phong.
Và những phát hiện trong bài viết của tác giả Trần Lệ Thanh cũng đã gợi
hướng cho chúng tôi rất nhiều khi thực hiện đề tài này. Trong bài viết tác giả
Trần Lệ Thanh cho rằng nội dung chính của tác phẩm Ma làng là: “Đằng sau
việc miêu tả những mâu thuẫn dai dẳng, sự tranh chấp, đố kị giữa làng trên
xóm dưới, tộc này họ kia chi phối đời sống nông dân, đằng sau những mánh
khóe hiểm ác những mưu mô toan tính của những người có thế lực, có quyền
thế, lợi dụng đúng chỗ đứng của mình để thu lợi… Tác phẩm trong một chừng
mực nào đó đã phản ánh được thực trạng khá đau đớn vẫn còn diễn ra trong
đời sống tinh thần của một số làng quê nông thôn.”, tác giả bài viết cũng cho
rằng cái làm nên sức nặng của tiểu thuyết Ma làng là ở thái độ cách nhìn nhận
của tác giả: “Cái làm nên sức hấp dẫn của Ma làng là ở tấm lòng của tác giả,
ở cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc vừa hiền lành đôn hậu của nhà văn. Đặc
biệt cái làm nên sức nặng của ngòi bút Trịnh Thanh Phong chính là ở chỗ, tuy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
luôn day dứt, trăn trở trước những số phận, những cảnh đời, mảnh đời vụn
vỡ, những tác giả không bao giờ thỏa hiệp với cái xấu” chính điều này chi
phối đến giọng điệu, nghệ thuật xây dựng nhân vật… Điều này gợi mở cho
chúng tôi đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống
con người đặc biệt thông qua những phương tiện nghệ thuật. Bên cạnh nội
dung tác giả bài viết cũng đề cập sơ bộ nhất vài nét nghệ thuật tự sự trong Ma
làng như lối trần thuật “Bằng nhiều chi tiết, qua lối trần thuật độc đáo giàu
sức gợi”, giọng điệu “Nghe và cách miêu tả những nhân vật này, thấy được
thái độ vừa trân trọng, cảm giọng điệu khách quan thông vừa nghiêm khắc
phán xử của nhà văn”, “giọng điệu mỉa mai bông tếu cũng trở thành một

về tiểu thuyết Ma làng của nhà văn Trịnh Thanh Phong.
Với tác phẩm Đồng làng đom đóm, tác phẩm ra đời muộn hơn so với
tiểu thuyết Ma làng cũng có nhiều ý kiến bàn luận khác nhau. Trong đó tiêu
biểu là ý kiến bàn luận của tác giả Hà Linh (Thạc sĩ Ngô Thu Hà) trên báo
Tuyên Quang số ra ngày 27.01.2010 qua bài: Ánh sáng từ đồng làng đom đóm
(Đọc tiểu thuyết Đồng làng đom đóm của Trịnh Thanh Phong, Nhà xuất bản
Hội nhà văn, năm 2009). Bài viết đề cập đến cách xây dựng nhân vật chính
của truyện, những khía cạnh về cuộc sống thời bình, thời chiến và hậu chiến
của tác phẩm, về những dằn vặt, suy tư của con người thời chiến, những đóng
góp của ông trong việc lý giải chiến tranh rất táo bạo trong những trang viết
về chiến tranh, đặc biệt, tác giả bài viết phát hiện ra đặc sắc về cách sử dụng
chi tiết nghệ thuật “ánh sáng” của tác giả Trịnh Thanh Phong. Bài viết cho
thấy thêm một thành công nữa của nhà văn Trịnh Thanh Phong với thể loại
tiểu thuyết. Và đây cũng là cơ sở cho chúng tôi khi tìm hiểu nghệ thuật, quan
niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người trong tiểu thuyết Đồng làng đom
đóm của nhà văn Trịnh Thanh Phong.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Với một số bài báo, bài phỏng vấn có tính chất giới thiệu tiểu thuyết
"Ma làng", “Đồng làng đom đóm” và tìm hiểu xuất xứ của 02 tác phẩm này,
chúng tôi thấy các bài viết đã có những giới thuyết cơ bản về hai tác phẩm
này. Tuy nhiên nghiên cứu tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong một công
trình chuyên sâu với những khía cạnh cụ thể thì chưa có một công trình nào
dày công tìm hiểu. Xuất phát từ tính cấp thiết của công tác giảng dạy phần
văn học địa phương còn nhiều “khoảng trống”, từ sự ngưỡng mộ và yêu mến
nhà văn chúng tôi lựa chọn đề tài: “Đặc điểm tiểu thuyết Trịnh thanh Phong”
qua hai tác phẩm “Đồng làng đom đóm” và “Ma làng”.
III. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1. Đối tƣợng nghiên cứu

tôi góp thêm cơ sở khoa học để khẳng định xu thế vận động, cách tân của văn
xuôi Việt Nam viết về đề tài nông thôn trước và sau đổi mới 1986.
3. Đóng góp một tài liệu tham khảo cho công tác dạy và học phần văn
học địa phương trong nhà trường.
VI. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo,nội dung
chính của luận văn bao gồm ba chương
CHƢƠNG I
Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt
Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986.
1.1. Nhà văn Trịnh thanh phong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.1.1Tiểu sử nhà văn
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trịnh Thanh Phong:
1.2. Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt
Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986
1.2.1.Diện mạo chung
1.2.2.Những điểm tương đồng
1.2.3.Những điểm khác biệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
CHƢƠNG II
Bức tranh hiện thực và con ngƣời nông thôn trong tiểu thuyết Trịnh
Thanh Phong
2.1. Quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con ngƣời trong tiểu
thuyết Trịnh Thanh Phong
.1.1.Con người cá nhân trong cảm hứng bi kịch và cảm thương
2.1.2.Con người lí tưởng trong cảm hứng ngợi ca
2.1.3. Con người cá nhân trong cảm hứng tâm linh
2.2. Bức tranh hiện thực nông thôn Việt Nam với hai gam màu sáng - tối

Nhà văn Trịnh Thanh Phong còn có bút danh tác nghiệp là Hải Thanh.
Ông sinh năm 1950, quê gốc vốn ở làng Phủ Chính - Vĩnh Tường - Lập
Thạch - Vĩnh Phúc nhưng được sinh ra và lớn lên ở làng Thông xã Lâm
Xuyên huyện Sơn Dương - Tuyên Quang. Chính vùng đất hài hòa giữa rừng
núi với suối sông (Lâm Xuyên) này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời và
sự nghiệp sáng tác của nhà văn.
Tuổi thơ Trịnh Thanh Phong lầm lũi với rừng và lấm láp với sông ngòi,
đồng ruộng quê hương. Hoàn cảnh sống đó đã giúp nhà văn sớm tiếp cận và
gắn bó với người nông dân, thấu hiểu những niềm vui nỗi buồn, cảm thông
sâu sắc với những nhọc nhằn, lam lũ của họ. Có lẽ chính vì vậy mà trong mỗi
trang văn, Trịnh Thanh Phong vừa như muốn bày tỏ tấm lòng tri ân, tri kỷ với
người nông dân chân chỉ hạt bột quê nhà vừa như muốn giải tỏa cho những
tâm sự của chính mình vậy. Chẳng thế mà ngay từ khi bắt tay vào nghề cầm
bút, Trịnh Thanh phong đã viết:
Mẹ sinh con trên quãng sông này
Mùa nước lũ phù sa ngàu đỏ
Con đâu biết tháng ngày gian khổ
Mẹ hát ru cái vạc cái cò.
Tuổi thơ con đằm trong cát đỏ
Những mùa màng mẹ lặn lội lo toan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Bãi ngô ngập dưới mùa mưa lũ
Trận đói bò ngang lưng núi Châm
Những vần thơ dung dị ấy đã đánh dấu sự nghiệp sáng tác của Trịnh
Thanh Phong suốt những tháng ngày tuổi trẻ, bởi lẽ ngay sau đó ông không có
tác phẩm nào được công bố tiếp. Đang học phổ thông, chàng trai 18 tuổi hăm
hở lên đường nhập ngũ. Khi đó Trịnh Thanh Phong được biên chế vào sư
đoàn 304 rồi chuyển sang trung đoàn 335 chiến đấu tại chiến trường Lào. Đây

lại với làng quê để sống với những người nông dân chân chất có bận đã suýt
khiến nhà văn phải điêu đứng. Thật may trời đã không phụ lòng người, kết
quả của những chuyến đi về vùng quê đó chính là những sáng tác khá thành
công về đề tài nông thôn và người lính của Trịnh Thanh Phong sau này.
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác
Nhà văn Trịnh Thanh phong có những tác phẩm in trên báo trung ương
và địa phương từ những năm 1980. Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến là
Bãi cuối sông - Tập truyện ngắn đầu tay xuất bản năm 1990, Gặp lại (1997),
Đôi mắt vầng trăng –thơ (1999), Lời ru ban mai (2000), Bao giờ chim vành
khuyên bay về (2001), Bức tường xanh (2002), Ma làng (2002), Dưới chân
núi Pắc Quan (2003), Vết thương thời bình (2006), Đất cánh đồng Chum
(2007), Đồng làng đom đóm (2009).
Từ khi còn ở chiến trường đầy lửa đạn cho đến hôm nay ở cái tuổi gần
60, Trịnh Thanh Phong vẫn lặng lẽ viết. Với trên 10 đầu sách đã xuất bản, tác
phẩm của Trịnh Thanh Phong chủ yếu bám chắc vào đề tài nông thôn và
người lính. Nhận xét về ông, tại hội nghị cấp Chi hội Nhà văn Sông Chảy
năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: Một nhà văn sống ở miền núi Tuyên
Quang mà làm nên được một “Ma làng”gây xôn xao dư luận trong nước và
thế giới, rõ ràng đây không chỉ là thành công riêng của Trịnh Thanh Phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
mà còn là đóng góp của văn học nước nhà cho công cuộc đổi mới. Điều đó
cũng cho chúng ta thấy rằng: nhà văn chỉ có khoảng cách về chỗ ở chứ không
có khoảng cách trong sáng tạo.
Trong quá trình tìm hiểu những sáng tác của Trịnh Thanh Phong, chúng
tôi có tìm gặp và trò chuyện cùng tác giả. Trong câu chuyện vui vẻ ông nói:
Như các bạn biết, mỗi nhà văn đều có vùng đất của mình. Nhưng theo tôi khi
lựa chọn, điều quan trọng là nhà văn phải biết vùng đất ấy có hợp với cái
“tạng” của mình không. Khi thấy hợp rồi thì mình còn phải có biện pháp thích

tuyết của Tự lực văn đoàn, đặc biệt là vào thời kỳ năm 1936 - 1939 với hàng
loạt các tác phẩm như: Trống mái, Gia đình (1936) của Khái Hưng, Hai vẻ
đẹp(1936) của Nhất Linh, Con đường sáng (1938) của Hoàng Đạo. Đề tài
nông thôn được chú ý và phản ánh sâu sắc hơn trong trào lưu văn học hiện
thực phê phán với những cây bút tiêu biểu như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Kim
Lân, Nguyễn Công Hoan với hàng loạt các tác phẩm: Tắt đèn, tiểu luận Việc
Làng và Tập án cái đình - Ngô Tất Tố, Bước đường cùng, Nông dân và địa
chủ - Nguyễn Công Hoan, Làng - Kim Lân. Đặc biệt đề tài nông dân đã trở
thành một đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao với những tác phẩm quen
thuộc như: Nghèo, Chí Phèo, Điếu văn, Lão Hạc, Dì Hảo, Nửa đêm, Tư cách
mõ… các cây bút của trào lưu này đã tỏ ra am hiểu và cảm thông với người
nông dân, có cái nhìn hiện thực sâu sắc và nhân đạo hơn với số phận của
những người nông dân tội nghiệp đáng thương. Mỗi người một có phong
cách, một nét riêng nhưng nhìn chung trong những tác phẩm này các nhà văn
đã đi sâu, phản ánh rõ nét cuộc sống người nông dân với những hủ tục, những
nghèo khổ, đói khát, những gánh nặng trong cuộc sống mà người nông dân
phải chịu đựng, cũng như những biểu hiện trong bản chất người nông dân cả
phần tốt và xấu. Đề tài nông thôn còn tiếp tục được khai thác nhiều trong văn
xuôi giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, và sau hoà bình. Do giai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
đoạn này yêu cầu phục vụ chiến đấu, phục vụ nhiệm vụ xây dựng đất nước
được đặt lên hàng đầu nên hầu hết các nhà văn viết về đề tài nông thôn để
phục vụ nhiệm vụ. Trước năm 1986, đề tài nông thôn được tiếp tục mạch cảm
hứng này với những cây bút như Bùi Hiển, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng và đặc biệt là Nguyễn Minh Châu nhà văn có những đóng góp to
lớn trong việc đổi mới tư duy nghệ thuật trong đề tài viết về nông thôn nói
riêng với những tác phẩm như Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Bến Quê,
Chiếc thuyền ngoài xa. Nhà văn đã có cái nhìn về con người và cuộc sống của

Lộc), Tiếng kêu cứu của một vùng văn hoá (Võ Văn Trực), Suy nghĩ trên
đường làng (Hồ Trung Tú),
Bên cạnh ký là sự khởi sắc của truyện ngắn, từ sự đổi mới tư duy nghệ
thuật và bút pháp của các cây bút Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Bùi
Hiển, Ma Văn Kháng, Đoàn Lê, Lê Minh Khuê cùng sự xuất hiện của những
cây bút mới như Nguyễn Huy Thiệp, Hòa Vang, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn
Ngọc Tư,…Có thể nói sự thay đổi trong bút pháp nghệ thuật đã đem lại phẩm
chất nghệ thuật đích thực cho truyện ngắn và phần nào thu hút được công
chúng trở lại với văn học. Thể loại tiểu thuyết với những tác phẩm mở đường
cho thời kỳ đổi mới như Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Chim én bay (Nguyễn
Trí Huân) và tiếp đó là những tiểu thuyết đặc biệt thành công như: Mảnh đất
lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng (Dương
Hướng), Ma làng của Trịnh Thanh Phong. Như vậy, văn xuôi Việt Nam viết
về đề tài nông thôn phát triển khá mạnh mẽ trên hầu hết các thể loại. Không
chỉ đa dạng về thể loại mà còn phong phú về nội dung. Cuộc sống, con người
nông thôn được khắc hoạ rất sâu sắc ngay cả những góc khuất tận sâu tâm
hồn, những biến thái tinh vi của cuộc sống hiện đại cũng được đề cập đến bởi
những cây bút sắc lạnh, tỉnh táo, nhạy cảm, đầy nhiệt huyết và trách nhiệm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Văn học Việt Nam từ sau 1986 đặc biệt quan tâm tới số phận con người
với những gấp khúc trong đường đời. Vấn đề thân phận trở thành mối quan
tâm hàng đầu của nhà văn. Đặc biệt nhiều trang sáng tác, con người được đặt
trong mối quan hệ giữa cá nhân và nhân loại; mỗi người là sự kết hợp, hoà
quyện giữa con người xã hội, con người tự nhiên và con người tâm linh.
Trong những thành tựu chung của văn xuôi Việt Nam, tiểu thuyết viết về
đề tài nông thôn đóng một vai trò không nhỏ. Trước hết chúng tôi xin điểm
qua diện mạo của bộ phận sáng tác này. Cũng như những bộ phận khác của

hiện một khả năng quan sát hiện thực rất sắc sảo và sự cảm nhận cuộc sống có
chiều hướng ngày càng gần gũi với thực tế cuộc sống. Mặc dù thời kỳ đầu,
những sáng tác của Nguyễn Minh Châu còn mang nhiều hàm ý, chưa thể bộc
lộ một cách trực tiếp và thẳng thắn những trăn trở, suy ngẫm của nhà văn,
nhưng càng gần với thời điểm 1986, khi chiều hướng dân chủ hóa xã hội trở
nên rõ ràng thì những tác phẩm của ông (tiêu biểu như Khách ở quê ra) đã nói
rõ được những điều mà tác giả muốn nói. Có lẽ một phần vì thế mà Nguyễn
Minh Châu được đánh giá là “người mở đường anh minh và tài hoa “cho văn
học thời kỳ đổi mới. Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, có một tác giả mà tác
phẩm của ông cũng có thể coi là “mới mẻ” từ rất sớm là Lê Lựu với Thời xa
vắng (viết xong tháng 9 - 1984). Có thể nói, thời điểm sáng tác của Khách ở
quê ra và Thời xa vắng đã thể hiện được sự mẫn cảm, tinh nhạy của hai nhà
văn trước công cuộc đổi mới.
Bước hẳn sang giai đoạn “mở cửa”, độc giả nhanh chóng được tiếp xúc
với sự đổi thay trong các sáng tác về đề tài nông thôn. Với cái nhìn đa chiều
về hiện thực, mọi khía cạnh phức tạp, những ẩn khuất tinh vi, những vấn đề
nhạy cảm của con người, của cuộc sống nông thôn đều được các nhà văn
khám phá, đào sâu khai thác ở những tầng bậc, góc cạnh khác nhau. Điều này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
đem lại cái nhìn mới mẻ cho độc giả về đề tài nông thôn. Có thể tạm thời chia
đề tài nông thôn thời kỳ này theo các chủ đề khác nhau như sau:
Chủ đề thói tục làng quê thời hiện đại có thể nói là chủ đề gây được
nhiều chú ý và tạo nhiều thành công trong đề tài viết về nông thôn. Tiêu biểu
là tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc
Trường (viết xong tháng 3 - 1988),xuất bản năm 1990, Tiểu thuyết Ma làng
của Trịnh Thanh Phong năm 2007, Dương Hướng với tiểu thuyết Bến không
chồng (in năm 1990). Chuyện làng Cuội của Lê Lựu (in năm 1993). Những
thói tục của làng quê Việt Nam còn vương vấn đến tận thời nay được phản

nông thì lí lịch càng tốt, sự nhầm lẫn trong việc tạo nếp sống mới với việc tạo
tệ nạn xã hội. Điều này được phẩn ánh toàn vẹn và chân thực trong tác phẩm
Ác mộng và Sắp cưới. Những sai lầm này cũng được phản ánh trong nhiều tác
phẩm viết về đề tài nông thôn, tuy nó không phải là chủ đề chính của tác
phẩm nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc cho người đọc như sai lầm đánh đồng
địa chủ - xấu, bần nông - tốt trong Đồng làng đom đóm của Trịnh Thanh
Phong. Việc khoán sản với việc quản lí lỏng lẻo gây ra bất công, người chăm
làm cho người lười hưởng, cũng được phản ánh trong nhiều tác phẩm. Trong
phóng sự Suy nghĩ trên đường làng của Hồ Trung Tú ngoài sai lầm trên còn
đề cập đến lề lối quản lí, tệ cường hào.…Với chủ đề này thì các nhà văn đã
thể hiện một cái nhìn tương đối toàn vẹn và chân thực về những sai lầm, tồn
tại của một thời kỳ lịch sử, cung cấp cho người đọc một lượng thông tin tương
đối chuẩn xác.
Chủ đề đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các tác phẩm viết về đề tài
nông thôn thời kì này là số phận của người nông dân. Đây là điều mà các nhà
văn viết về đề tài nông thôn không riêng ở giai đoạn này mà cả ở những giai
đoạn trước đều quan tâm. Nhưng điều đáng chú ý ở đây là khi miêu tả cuộc
sống cơ cực của người nông dân với những số phận bi kịch đáng thương,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
bằng cái nhìn cảm thương, quan niệm nghệ thuật nhân bản, tác giả khắc họa
thành công con người cá nhân thế sự đời tư với những suy tư, dằn vặt đời
thường và riêng tư. Những tác phẩm tiêu biểu như Chuyện làng Cuội của Lê
Lựu, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư… mỗi người một cảnh đời éo
le, một nỗi khổ riêng nhưng họ đều là nạn nhân của chiến tranh, của những hủ
tục, của những người lợi dụng chức quyền thu lợi về mình. Câu hỏi đặt ra
trong chủ đề này là số phận người nông dân sẽ đi về đâu khi họ phải chịu sự
bóc lột tinh vi của “địa chủ mới”. Các tác phẩm Ma làng, Mảnh đất lắm người
nhiều ma cũng phản ánh rõ vấn đề này. Người nông dân không chỉ khổ bởi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status