BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 NGUYỄN BÍCH NGỌC
TIỂU THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
CỦA BA NHÀ VĂN TRẺ
(Trên cứ liệu ba tác phẩm MÀU RỪNG RUỘNG của Đỗ Tiến Thụy,
BÊN DÒNG SẦU DIỆN của Nguyễn Đình Tú, BIỂN XANH MÀU LÁ
của Nguyễn Xuân Thủy)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
Mã số: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Tú
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và do bản thân khai thác và do sự chỉ bảo tận tình của ngƣời
hƣớng dẫn, không sao chép bất kì tài liệu nào.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn Nguyễn Bích Ngọc
NGHỆ THUẬT 42
3.1.Các mô hình không gian cơ bản 42
3.1.1. Không gian chiến trƣờng 42
3.1.2.Không gian hiện thực đời thƣờng 46
3.1.3.Không gian lãng mạn đầy chất thơ 51
3.1.4. Không gian tâm linh, huyền thoại 56
3.2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật 57
3.2.1. Nhân vật ngƣời lính – hình tƣợng trung tâm 58
3.2.1.1.Ngƣời lính với những suy tƣ, trăn trở 59
3.2.1.2.Ngƣời lính đối mặt với những bi kịch cuộc sống 62
3.2.1.3.Ngƣời lính trong đời thƣờng 67
3.2.2. Nhân vật ngƣời nông dân 72
3.2.3. Nhân vật ngƣời phụ nữ 75
3.2.4. Nhân vật thanh niên 79
3.3.Ngôn ngữ và giọng điệu đặc trƣng 80
3.3.1. Ngôn ngữ thông tục 82
3.3.2.Ngôn ngữ giàu cảm xúc đƣợc cá thể hóa 86
3.3.3.Một giọng điệu mới: cảm thƣơng 88
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
- Chúng tôi chọn tiểu thuyết là thẻ loại để nghiên cứu vì: “Tiểu thuyết là
tác phẩm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh đời sống ở mọi giới hạn không
gian và thời gian”(Từ điển thuật ngữ văn học). Theo M.Bakhtin, “tiểu thuyết
là thể loại duy nhất đang sinh thành và chƣa hoàn kết”. Do thƣờng xuyên tiếp
xúc với “cái hiện tại chƣa hoàn thành”, nên tiểu thuyết, bên cạnh việc không
nay nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng.
- Chiến tranh và ngƣời lính vẫn là đề tài có sức hút mạnh mẽ trong sáng
tác của các nhà văn quân đội. Đã có ít nhiều công trình, bài viết đề cập đến
tiểu thuyết về đề tài chiến tranh những năm gần đây nhƣng chƣa có công trình
nào tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống tiểu thuyết của các nhà văn
mặc áo lính nhƣng chƣa từng cầm súng trực tiếp đánh giặc. Bởi vậy, lựa chọn
đề tài Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh của ba nhà văn trẻ, ngƣời viết muốn
phần nào đƣa ra cái nhìn khái quát, hệ thống về tiểu thuyết đề tài chiến tranh
những năm gần đây, đặc biệt là đi sâu vào những tiểu thuyết của ba nhà văn
trẻ này.
2. Lịch sử vấn đề
- Đã có một số bài viết mang tính giới thiệu về văn học chiến tranh và
các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh, cụ thể về ba tác phẩm Màu rừng
ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân Thủy, Bên
dòng Sầu Diện của Nguyễn Đình Tú của các tác giả Nguyễn Thanh Tú (Bên
dòng Sầu Diện – cách tiếp cận chiến tranh của các nhà viết trẻ), Đoàn Minh
Tâm (Tiểu thuyết của các cây bút trẻ, đọc và cảm nhận)… trên các báo, tạp
chí… nhƣ Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ. Gần đây, có một số công trình
3
bƣớc đầu nghiên cứu sâu hơn về mảng sáng tác này, chẳng hạn, Ngô Thị Hải
Vân với Sự vận động của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau 1975 – Nhìn từ
nhân vật (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn, Hà Nội 2011).
Luận văn này đã cho chúng ta thấy hệ thống nhân vật của các tiểu
thuyết đƣợc quan tâm một cách riêng rẽ, có đánh giá một cách hệ thống về
phƣơng diện nghệ thuật xây dựng nhân vật trong từng tác phẩm. Lê Thị Hạnh
trong Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết 2004 – 2009 về đề tài chiến
tranh (Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội, 2011) đã phần nào nhận
diện và cắt nghĩa những đổi mới về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
Việt Nam về đề tài chiến tranh, dĩ nhiên, có đề cập đến ba tiểu thuyết trên.
ra đời đến lúc già cả. Và theo bƣớc chân hành quân của Minh Việt, không
gian mở rộng tận Sài Gòn nhƣng không thật ấn tƣợng”.
Về điểm nhìn thời gian, trục thời gian trong các tiểu thuyết của
Nguyễn Đình Tú thƣờng là hiện tại-quá khứ hoàn thành-quá khứ-hiện tại
tiếp diễn. Bên dòng Sầu Diện mở đầu bằng sự chào đời của Minh Việt, tiếp đó
là câu chuyện về những ngày đã xa của Nguyên Bình, Mến…; những tháng
ngày chƣa xa của Việt, bè bạn, ngƣời thân rồi trở về hiện tại. Trong hồi ức
của bố Việt, có câu chuyện về tuổi học trò, ngày đầu tham gia cách mạng, gặp
lại ngƣời bạn học Tuấn Thành, cuộc gặp gỡ với Mến-mẹ của Minh
Việt…Tiếp đó, Minh Việt kể lại những chặng đƣờng, những bƣớc ngoặt lớn
của đời mình cho đến giây phút anh đứng ở núi Cô Hồn nhìn về An Lạc, nghĩ
đến quá khứ.
Trong bài viết Sắc màu nhân gian trong tiểu thuyết “Màu rừng ruộng”.
Bùi Công Thuấn phân tích: “Cảm giác khó chịu về mặt ngôn ngữ đầy ứ lên,
ngán ngẩm. Rừng và Ruộng là hai không gian khác nhau. Tiếng Việt chƣa hề
có sự ghép đôi nhƣ thế bao giờ. Chỉ có những từ nhƣ “ruộng đồng, ruộng đất,
5
ruộng nƣơng, ruộng bậc thang…” hay “rừng hoang, rừng rú, rừng xanh núi
đỏ, rừng nguyên sinh…”. Có thể cách đặt tên và màu sắc của Màu rừng
ruộng làm giảm sự chú ý của ngƣời đọc khi họ tiếp cận với nhiều cuốn sách
khác chăng?
Sau cái cảm giác ngán ngẩm lúc đầu, tôi thử nhập thân vào câu chữ
của Màu rừng ruộng. Và tôi kinh ngạc về sự cuốn hút của ngòi bút Đỗ Tiến
Thụy. Màu rừng ruộng là cuốn tiểu thuyết hấp dẫn. Hấp dẫn và thú vị đến
những dòng cuối.
Đỗ Tiến Thụy dẫn ta theo chân nhân vật Vinh, ngƣời làng Bùi, 17 tuổi
thi rớt đại học, chẳng biết làm gì, đành đi chăn nghé cho hợp tác xã. Và ngay
cả việc chăn nghé, Vinh cũng trở thành “gã mục đồng lạc lõng”. Ngƣời cha
bảo, “Hỏng, anh cƣỡi con nghé cũng không nổi thì làm ăn gì đƣợc nữa!”. Rồi
trên mục Văn hóa - Nghệ thuật - báo Làng Việt nhận xét: “Nhà văn Nguyễn
Xuân Thủy đã viết cuốn sách mang tên Biển xanh màu lá nhằm giới thiệu với
độc giả cả nƣớc những nét đẹp về Trƣờng Sa. Chúng ta sẽ tìm thấy những số
phận, cuộc đời của những ngƣời chiến sỹ, cán bộ, quân dân đang sinh sống,
làm việc, bảo vệ vùng đất thiêng liêng Trƣờng Sa, Hoàng Sa. Những cuộc
sống có thực của các chiến sỹ trên đảo mang nét tự nhiên, mộc mạc, vui buồn
với biết bao kỉ niệm là những mảnh ghép cuộc sống đẹp về ngƣời lính đƣợc
nhà văn ghi chép viết lại trong tâm trạng đầy cảm xúc.
Tác phẩm là những phác họa rõ nét về ngƣời lính vùng đảo, mang
thông điệp: Hãy hƣớng về những ngƣời lính đảo và làm đẹp thêm hình ảnh
của họ bằng những việc làm có ý nghĩa”.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa có viết: “Tiểu thuyết Biển xanh màu lá viết
về số phận của cán bộ, chiến sĩ, quân dân đang sinh sống, làm việc và bảo vệ
7
vùng đất thiêng Trƣờng Sa, Hoàng Sa. Chúng ta gọi những con ngƣời bình dị,
quả cảm ấy bằng cái tên chung: quân dân. Bởi ngoài những ngƣời lính biển,
còn có cả những ngƣời dân đảo”.
Nhƣ vậy có thể nói, chƣa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một
cách hệ thống về ba tiểu thuyết của ba nhà văn trẻ mà chúng tôi đã nêu trên.
Đây vừa là cơ hội, vừa là khó khăn cho chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu
các vấn đề đặc sắc của các tiểu thuyết này từ hai phƣơng diện cơ bản là nội
dung và hình thức biểu hiện.
3. Mục đích nghiên cứu
Triển khai luận văn, chúng tôi hƣớng tới mục đích:
- Tìm hiểu cái nhìn, quan niệm của các nhà tiểu thuyết trẻ viết về chiến
tranh hôm nay (chúng tôi quan niệm các nhà văn trẻ là những ngƣời ở độ tuổi
dƣới bốn mƣơi), qua đó, chỉ ra sự khác biệt giữa hai thế hệ sáng tác về cùng
một đề tài.
- Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của ba tiểu
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp thêm
tƣ liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại đặc biệt là
thể loại tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc triển khai trong ba
chƣơng:
Chƣơng 1: Nhà văn, tiểu thuyết và chiến tranh.
Chƣơng 2: Ba tiểu thuyết – nhìn từ phƣơng diện nội dung.
Chƣơng 3: Ba tiểu thuyết – nhìn từ phƣơng diện nghệ thuật.
Cuối cùng là Thƣ mục Tài liệu tham khảo. 9
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: NHÀ VĂN, TIỂU THUYẾT VÀ CHIẾN TRANH
1.1. Những vấn đề chung về tiểu thuyết
Ở phƣơng Tây, tiểu thuyết có mầm mống ban đầu từ các tác phẩm tự sự,
thƣờng là thể loại anh hùng ca, đó là những tiểu thuyết kị sĩ với những biến cố
và tình huống phi thƣờng. Về nguồn gốc của thể loại, các nhà nghiên cứu, mà
tiêu biểu là V.Biêlinski đã rất có lý khi cho rằng tiểu thuyết hình thành khi
vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý
thức" và "đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của
anh hùng ca Hy Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết.
Thế kỷ 20 tiểu thuyết phƣơng Tây phát triển trong sự đa dạng đối nghịch
nhau về nhiều mặt, bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết hiện thực với
khuynh hƣớng hiện thực phê phán hoặc khuynh hƣớng hiện thực xã hội chủ
Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới
xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại. Cùng phong trào
Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bƣớc tiến vƣợt
bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hƣớng sáng tác: những cây bút nổi tiếng
của Tự Lực văn đoàn, những ngƣời đã thúc đẩy sự hình thành thể loại nhƣ Nhất
Linh, Khái Hƣng, Thạch Lam và những nhà văn hiện thực phê phán nhƣ Ngô
Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng.
Trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ
các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tƣởng,
Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên
Ngọc). Ít nhiều tiểu thuyết sử thi Việt Nam có thành tựu với đề tài hoành
tráng và dung lƣợng đồ sộ, mà một trong số đó là Vỡ bờ của Nguyễn Đình
11
Thi, Sóng Ngầm của Nguyên Hồng. Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam
sang trang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh,…
có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con ngƣời và có dấu hiệu manh nha hệ
hình văn chƣơng hậu hiện đại về mặt nghệ thuật biểu hiện.
Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tài, chủ
đề hoặc theo sở trƣờng của ngƣời viết. Thậm chí ngƣời ta còn cho rằng, về
nguyên tắc, tiểu thuyết không có một hình thức thể loại hoàn kết, bởi vì nó là
"sử thi của thời đại chúng ta", tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng
ngày hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa
với cái thực tại dang dở "chƣa xong xuôi", cái thực tại đang thành hình, cái
thực tại luôn bị đánh giá lại, tƣ duy lại. Tuy thƣờng gặp những kết cấu chƣơng
hồi, kết cấu tâm lý, kết cấu luận đề, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến v.v.
tiểu thuyết vẫn không chịu đƣợc những chế định chặt chẽ, nó không có quy
phạm cố định và ngƣời viết thậm chí có thể phá vỡ những khuôn mẫu sẵn có
để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các hình thức kết cấu khác nhau.
Giống nhƣ các hình thái tự sự khác nhƣ truyện ngắn, truyện vừa, tiểu
khác.v.v. Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng
hợp này của thể loại, nhƣ Tolstoi với tiểu thuyết-sử thi, Dostoevski với thể
loại tiểu thuyết-kịch, Solokhov với tiểu thuyết anh hùng ca-trữ tình, Roman
Roland với tiểu thuyết-giao hƣởng v.v.
Riêng với tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh ở nƣớc ta, có cả những
tác giả sống trong thời chiến viết về chiến tranh và có cả những tác giả sống
trong thời bình cũng viết về chiến tranh. Tất cả đều muốn có cái nhìn riêng
về đề tài chiến tranh sau 1975, đặc biệt là những tiểu thuyết gần đây nhƣ:
Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy, Biển xanh màu lá của Nguyễn Xuân
13
Thủy và Bên dòng Sầu Diện của Nguyễn Đình Tú mà chúng tôi sẽ đề cập đến
ở các phần sau.
1.2. Các thế hệ nhà văn viết tiểu thuyết về đề tài chiến tranh
1.2.1. Từ 1975 đến 1986
Từ 1945-1975 là một giai đoạn lịch sử ghi dấu những biến đổi vô cùng
lớn của dân tộc. Hiện thực chiến tranh cách mạng, có thể nói là sôi động, hào
hùng và hoành tráng nhất trong lịch sử chiến tranh vệ quốc và có thể nói chƣa
bao giờ tinh thần cộng đồng dân tộc lại khơi dậy trong mỗi con ngƣời Việt
Nam mạnh mẽ đến nhƣ vậy… Những đặc điểm lịch sử này chính là nguyên
nhân trực tiếp ảnh hƣởng đến hƣớng đặt bút của các nhà văn – nhà tiểu thuyết.
Tiểu thuyết ở giai đoạn này chủ yếu là ca ngợi, cổ vũ sự tự tôn của dân
tộc, lòng yêu nƣớc của con ngƣời Việt Nam. Bên cạnh đó tiểu thuyết phản ánh
cuộc sống mới, con ngƣời mới, xây dựng hình mẫu con ngƣời Việt Nam mới.
Từ 1975-1986 một loạt các tiểu thuyết nhƣ: Vùng trời của Hữu Mai,
Những tầm cao của Hồ Phƣơng, Dòng sông phẳng lặng của Tô Nhuận Vĩ.
Đội ngũ đông đảo các nhà văn đã cho ra đời những tiểu thuyết khá ấn tƣợng:
Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn
Minh Châu); Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Tri Huân); Đất miền Đông
(Nam Hà); Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh); Nắng đồng bằng (Chu Lai);
dĩ vãng - Chu Lai; Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh; Đất trắng và Mây cuối
chân trời - Nguyễn Trọng Oánh ). Ở ngày hôm nay, tiểu thuyết về đề tài
chiến tranh còn vận dụng cả cách kể bi kịch hóa trần thuật, kể về cuộc chiến
bằng cái nhìn bi kịch. Nhà văn miêu tả chi tiết những cái chết bi thƣơng: “Lửa
cháy, đạn nổ, đạn vạch đƣờng rừng rực, chói lòa, nhằng nhịt trƣớc mặt.
Những ngƣời chạy, ngƣời ngã vật xuống, máu xối ruột lòi, những mảnh thi
thể cả ta cả địch văng lên trong ánh lửa” (Những bức tường lửa). Có những
15
cái chết cháy vì bom na pan đã biến những ngƣời lính (Thoan, Đại) từ những
thanh niên đẹp, cƣờng tráng thành “những cục đen sì nham nhở nằm trên mặt
đất”: “Đại có vẻ còn nhiều da thịt hơn nhƣng vì thế mà trông nó lại càng đáng
sợ. Bộ răng của nó trắng nhởn, chìa ra, hai cái hốc mắt bây giờ chỉ còn là hai
cái hốc thô lố, một dòng nƣớc sền sệt đen từ đó rỉ ra nhƣ nƣớc mắt” (Những
bức tường lửa). Các nhà tiểu thuyết đã để cho nhân vật - ngƣời trong cuộc suy
nghĩ về chiến tranh: “Chiến tranh dài quá! Hy sinh mất mát nhiều quá!” (Lâm
trong Khúc bi tráng cuối cùng), “bom đạn mù trời, cuộc đời đo bằng gang
tấc” (Toản trong Thượng Đức) Sự ác liệt tàn bạo của chiến tranh làm cho
con ngƣời sống trái với lẽ tự nhiên, nó cƣớp đi những khao khát bản năng
bình thƣờng nhất, giản dị, đơn sơ nhất. Một mảnh đối thoại sau tƣởng nhƣ vô
tình nhƣng lại tố cáo mạnh mẽ sự khủng khiếp của chiến tranh.
Về cảm hứng, bên cạnh cảm hứng sử thi của tiểu thuyết viết về chiến
tranh nói chung và tiểu thuyết trong giai đoạn này nói riêng mang thêm cảm
hứng nhân bản và cảm hứng bi kịch. Nếu trƣớc đây, với cảm hứng sử thi, văn
học chủ yếu quan tâm đến con ngƣời tƣ cách xã hội, với tƣ cách là động lực
cách mạng, thì giờ đây, trong sự đổi mới của quan niệm hiện thực và quan
niệm về con ngƣời, tiểu thuyết đặt con ngƣời trong mối quan hệ với cái
thƣờng ngày, lấy cá nhân con ngƣời làm chất liệu soi ngắm mọi giá trị.
Tiểu thuyết ở giai đoạn này, con ngƣời ở cả hai phía ta và địch đều đƣợc
khám phá và thể hiện khá toàn diện. Họ đƣợc soi ngắm ở cả hai phía, ánh
Việt Nam, mảng văn học về đề tài chiến tranh với nhiều thể loại: thơ ca,
truyện ngắn, truyện vừa, kịch, kí, tiểu thuyết chiếm vị trí rất quan trọng cả về
số lƣợng lẫn chất lƣợng. Tiểu thuyết dƣờng nhƣ đã phát huy đƣợc lợi thế về
dung lƣợng khi tiếp cận mảng hiện thực trải dàn trên một không gian rộng lớn
17
kéo dài từ Bắc tới Nam, từ cao nguyên tới đồng bằng, gắn với khoảng thời
gian 40 năm chiến tranh.
Cảm hứng sử thi luôn gắn liền với tiểu thuyết viết về chiến tranh đƣợc
hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả về những vấn đề
lớn lao quyết định vận mệnh chung.
Cảm hứng sử thi hào sảng đã tạo ra những nhân vật đậm chất lý tƣởng,
tỏa chiếu ánh sáng lý tƣởng soi rọi, hƣớng bạn đọc đi về phía cái cao cả, cái
anh hùng. Trong các tiểu thuyết viết về chiến tranh, nhân vật ngƣời anh hùng
và ngƣời lính luôn là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Nhân vật anh hùng sử
thi luôn hiện diện song hành cùng sức mạnh thể chất và tài năng, phẩm chất
đạo đức, là ngƣời anh hùng toàn thiện toàn mỹ và trở thành “khuôn vàng thƣớc
ngọc” về vẻ đẹp vật chất và sức mạnh đạo đức của con ngƣời thời đại. Tiểu
thuyết sử thi thƣờng có một kết cấu hoành tráng với nhiều kiểu kết cấu khác
nhau: kết cấu chƣơng hồi, kết cấu tâm lí, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến;
với đầy dủ toàn bộ những yếu tố, thành phần đƣợc sắp xếp, gắn kết với nhau;
với sự logic giữa nội dung và hình thức Tất cả đều hƣớng đến sự hoàn thiện
cho thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh nói riêng.
Bên cạnh cảm hứng sử thi, tiểu thuyết hôm nay còn có cả cảm hứng bi kịch,
cảm hứng thế sự_đời tƣ, cảm hứng diễu nhại. Nhƣng trong cái dàn nhạc đa âm
sắc ấy, giọng điệu sử thi vẫn là giọng điệu chủ âm. Dƣới đây chúng tôi xin sơ
lƣợc giới thiệu ba tiểu thuyết mà chúng tôi lấy đó làm đối tƣợng nghiên cứu.
Tác phẩm Màu rừng ruộng của Đỗ Tiến Thụy không hẳn là một tiểu
thuyết hoàn toàn viết về chiến tranh, nhƣng tác giả đã cố gắng mang lại cho
cuốn sách phảng phất hào khí lịch sử chiến đấu của dân tộc trong quá khứ là
mình trong việc phản ánh đời sống, đƣa văn học trở về đúng với đặc trƣng cơ
bản của nó, và văn học ngày càng trở nên đời hơn, ngƣời hơn.
19
CHƢƠNG 2
BA TIỂU THUYẾT – NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1. Hiện thực chiến tranh
Nguyễn Minh Châu trong bài “Viết về chiến tranh” cũng khẳng định:
“Hình nhƣ trong ý niệm sâu xa của con ngƣời Việt Nam chúng ta hiện thực
của văn học đôi khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện
thực mọi ngƣời đang hy vọng, đang ƣớc mơ…”. Nhƣ vậy hiện thực trong tiểu
thuyết chiến tranh là gì? Liệu có phải là sự tàn khốc mà nó để lại trong mỗi
con ngƣờii chúng ta dù là có tham gia chiến tranh hay không
Chiến tranh dù là ở đâu thì nó luôn luôn diễn ra khốc liệt với bao hiện
thực đau thƣơng của con ngƣời trong chiến tranh. Đó là cuộc chiến không cân
sức giữa con ngƣời và vũ khí hiện đại của bọn đế quốc, những khổ đau, mất
mát, hy sinh gian khổ mà con ngƣời phải chịu trên chiến trƣờng…và day dứt
âm thầm hơn là bi kịch số phận của họ khi chiến tranh kết thúc. Tất cả là
những điều các tác giả viết về đề tài chiến tranh muốn viết, muốn hiểu đƣợc nó.
2.1.1. Cuộc sống chiến tranh trong thời đánh Pháp
Cùng một đề tài chiến tranh nhƣng mỗi nhà văn lại có cách viết riêng.
Ngƣời thì viết về sự tàn khốc, sự hủy diệt của chiến tranh, ngƣời thì viết về sự
ác liệt, dữ dội của những chiến dịch…
Vấn đề đầu tiên có thể nói đến đó là cuộc sống trang chiến tranh thời
đánh Pháp. Trong tác phẩm Bên dòng Sầu Diện của tác giả Nguyễn Đình Tú
cuộc sống trong chiến tranh đƣợc tác giả miêu tả vô cùng khốc liệt: “Bỗng
“đoàng…đoàng…ù….chéo”. Súng từ trong nhà Lúa Vàng khạc ra lửa chiu
chíu. Anh Hồng đang đi bỗng nhảy dựng lên, giật giật mấy cái, hai tay chới
với như cố rút súng ra lại vừa như muốn bám víu vào một cái gì đó. Chân anh