Khảo sát ca dao về đề tài lịch sử của người Việt từ góc nhìn thể loại - Pdf 23


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Nguyễn Thị Thanh Hà Khảo sát ca dao về đề tài lịch sử
của người Việt từ góc nhìn thể loại

1

MỞ ðẦU
1. Lý do chọn ñề tài
1.1 Từ xa xưa, ca dao là tiếng nói dân gian của người Việt. Ca dao phản ánh
tâm tư, tình cảm của người dân trong sinh hoạt hằng ngày, không chỉ ở nơi
ñồng nội mà còn ở thành thị, kinh ñô. Tuy là ngôn ngữ dân gian, nhưng ca dao
không phải là tiếng nói bình thường mà là ngôn ngữ có vần ñiệu, ngắn gọn vì
vậy nó dễ phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Ca dao là văn chương biểu hiện
nhiều mặt sinh hoạt của quần chúng nhân dân, nhất là về mặt tình cảm, nên
trong ca dao rất phong phú về cảm xúc , ñó là những khúc hát trữ tình. Ngoài
ra, ñặc biệt ca dao còn biểu lộ thái ñộ của nhân dân ñối với những hành vi tốt,
xấu của con người trong xã hội khi giao tiếp với nhau, hay bình luận, phê phán,

Thực trạng nghiên cứu ca dao có liên quan ñến lịch sử của các nhà nghiên
cứu chưa nhiều. Vì vậy chúng tôi ñã lược ñiểm những công trình nghiên cứu về
ca dao có liên quan ñến lịch sử như sau:
2.1 ðầu tiên là ý kiến của Nguyễn Văn Mại trong Việt Nam phong sử là cuốn
sách do ông biên soạn. Trong cuốn sách này, tác giả ñã có công trong việc thu
gom, lượm lặt ca dao rải rác trong nhân dân, trong các sách vở. Có một số bài
ñã phản ánh ñược lịch sử với những nhân vật và sự kiện lịch sử cụ thể. Tuy
nhiên, vẫn còn những sai lầm trong việc chọn lựa, chú thích ñiển tích và nghị
luận về ca dao.
2.2 Tiếp theo là Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Tục ngữ ca dao Việt Nam có bàn
ñến ca dao lịch sử . Ông băn khoăn về hiện tượng nhầm lẫn ñối với ca dao lịch
sử của người Việt. Ông ñã ñưa ra những dẫn chứng khá cụ thể và theo quan
ñiểm của ông việc xác ñịnh nội hàm của bài ca dao lịch sử không ñơn giản.
Ngoài ra, theo tác giả Vũ Ngọc Phan ca dao của ta có nhiều câu nhiều bài qua
nhiều thế hệ và tùy theo từng ñịa phương, ñã bị sửa chữa, cả về hình thức lẫn
nội dung không còn nguyên vẹn nữa. Chính vì những ñặc ñiểm như vậy mà tình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
trạng nhầm lẫn hay gán ghép tùy tiện, thiếu cơ sở vững chắc giữa ca dao nói
chung và ca dao có liên quan ñến lịch sử nói riêng là khó tránh khỏi.
Mặt khác, ông vẫn còn chút băn khoăn, bởi thời gian xuất hiện của ca dao
lịch sử chưa ñược rõ ràng. Như vậy việc ñặt ca dao của ta vào từng thời kì lịch
sử là một việc chúng ta chưa làm ñược. Có thể thấy, công trình nghiên cứu của
tác giả Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ ca dao Việt Nam ñã chỉ ra ñược những
nhầm lẫn ñáng tiếc giữa ca dao về lịch sử với ca dao nói chung, chẳng những
không nắm vững nội hàm của khái niệm mà còn chưa phân ñịnh rạch ròi thời
gian xuất hiện của những bài ca dao có liên quan ñến lịch sử.
2.3 Sau Vũ Ngọc Phan, nhà nghiên cứu văn học dân gian Chu Xuân Diên,
trong giáo trình Văn học dân gian (8) (tập 2) viết chung với ðinh Gia Khánh,

hơn vè và sử ca Ngoài ra, ca dao về lịch sử và các thể loại khác cũng có kết
cấu ngắn hơn, dung lượng phản ánh lịch sử ít hơn nhưng cô ñúc hơn, khái quát
hơn. Tuy nhiên, ý muốn ñó của tác giả chỉ dừng ở mức ñộ nhất ñịnh.
2.5 Còn ñối với nhà giáo nhân dân Nguyễn Nghĩa Dân trong cuốn Lịch sử Việt
Nam trong tục ngữ và ca dao cũng có những ý kiến nhận ñịnh khá xác ñáng với
ca dao về ñề tài lịch sử. Ông cho rằng: ca dao về lịch sử ñã phản ánh những
mốc son của lịch sử dân tộc ta ñồng thời góp phần tạo nên cốt lõi của nền văn
hóa Việt Nam ñậm ñà bản sắc dân tộc. Việc xác ñịnh tiêu chí của ca dao về ñề
tài lịch sử của người Việt phải căn cứ vào sự kiện, nhân vật, không gian và thời
gian lịch sử ñược phản ánh vào trong ca dao về lịch sử. Do ñối tượng phản ánh
là các sự kiện, nhân vật lịch sử nên ca dao về ñề tài lịch sử có ñặc ñiểm vô
cùng quan trọng là tính chân thực. Nội dung của ca dao về lịch sử ñậm ñà sắc
thái trữ tình nhất là yêu ghét, căm thù. Về mặt nghệ thuật, ca dao về ñề tài lịch
sử gần như không có ñặc trưng hư cấu, nếu có thì rất ít và không bao giờ xuyên
tạc sự thật lịch sử.
Cùng những nhà nghiên cứu trên, ñến nay có một số công trình nghiên cứu
ở cấp ñộ các bài báo, bài viết nhưng có thể khẳng ñịnh vấn ñề nghiên cứu ca
dao về ñề tài lịch sử của người Việt từ góc nhìn thể loại còn là một ñề tài mở.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
3. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các bài ca dao về ñề tài lịch sử của người Việt từ góc nhìn thể loại.
Về tài liệu khảo sát, chúng tôi chọn:
- Ca dao của người Việt về lịch sử - Võ ðình Hường - Nhà xuất bản ðại học
quốc gia Hà Nội, 2001.
- Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ, ca dao - Nguyễn Nghĩa Dân- Nhà xuất bản
Thanh niên, 2009.
3.3. Mục ñích nghiên cứu:
3.3.1 Khảo sát những bài ca dao về ñề tài lịch sử của người Việt theo phạm vi

việc góp phần bảo tồn, phổ biến bộ phận ca dao lịch sử nói riêng và Văn học
dân gian cả nước nói chung.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở ñầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm 3
chương:
CHƯƠNG 1: Tổng quan về ca dao có liên quan ñến lịch sử, ca dao về lịch
sử trong kho tàng ca dao của người Việt.
CHƯƠNG 2: Những ñặc ñiểm của ca dao về lịch sử từ phương diện nội
dung.
CHƯƠNG 3: Những ñặc ñiểm của ca dao về lịch sử từ phương diện nghệ
thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CA DAO LIÊN QUAN ðẾN LỊCH SỬ,
CA DAO VỀ LỊCH SỬ TRONG KHO TÀNG CA DAO NGƯỜI VIỆT.
1.1 Cơ sở lí thuyết.
1.1.1 Vấn ñề khái niệm.
Ca dao là thể loại văn học dân gian ñược nhiều các nhà nghiên cứu quan
tâm ñến bởi những giá trị to lớn của nó trong nền văn học. Có thể thấy ca dao
chính là mảnh ñất màu mỡ, rộng rãi và hấp dẫn nhưng cũng không kém phần
bí ẩn ñối với những ai yêu thích và mong muốn khám phá vẻ ñẹp của ca dao.
Ban ñầu nhân dân gọi những bài hát của mình bằng những tên gọi khác
nhau: hò, hát ví, hát ñúm, lý, ngâm, ca, kể. Sau này các nhà nghiên cứu, sưu
tầm ñã dùng một số thuật ngữ khác nhau ñể chỉ cùng một ñối tượng những câu
hát dân gian: phong dao, dân ca, thơ ca dân gian, bài hát dân gian. Phong dao,
ca dao là những thuật ngữ Hán Việt. Nếu ñịnh nghĩa theo từ nguyên thì ca là

tương ñương ñể chỉ một ñối tượng là những câu hát dân gian có sự kết hợp lời
và nhạc, gắn với diễn xướng, thể hiện sâu sắc tính nguyên hợp của văn học dân
gian; thứ hai ca dao thường ñược hiểu là lời thơ của dân ca, khi tách rời ra khỏi
ñiệu hát, khi phân biệt ca dao và dân ca về mặt diễn xướng. Nói cách khác: Một
bài ca dao không cần tiếng ñệm, luyến láy nhạc ñiệu thì là ca dao; thứ ba còn
một bài ca dao ñược dùng ñể hát, có thêm tiếng nhạc ñệm, ñưa hơi thì sẽ thành
dân ca; ca dao - dân ca ñược sử dụng như một thuật ngữ kép. Như vậy, có thể
ñịnh nghĩa ca dao như sau: Ca dao là thơ ca dân gian tồn tại ở dạng lời thơ
hoặc ñiệu hát, gắn bó mật thiết với ñời sống sinh hoạt của nhân dân. Với bản
chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn, tình cảm
của nhân dân lao ñộng. [ 25 ]
Khái niệm lịch sử ñược hiểu là gì?Theo ñịnh nghĩa phổ thông thì lịch sử có
mấy nghĩa sau ñây: Thứ nhất, ñó là những gì thuộc về quá khứ, là toàn thể quá
trình chuyển biến từ khi phát sinh hoặc trong một thời gian nhất ñịnh; là các thế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
hệ qua các thời ñại. Thứ hai, nói về một việc trọng yếu xảy ra có liên quan ñến
thời ñại. Theo từ nguyên, lịch là cái ñã trải qua, rõ ràng, sử là sách chép việc ñã
qua. Lịch sử là biên chép những sự biến thiên, diễn cách trải qua các ñời.
Với bản chất vốn có của ca dao dân tộc những bài ca dao có liên quan
ñến lịch sử tồn tại và phát triển cùng thời ñại. Trong kho tàng ca dao của người
Việt có một nhóm ca dao do nội dung lịch sử mà nó thể hiện trước nay thường
ñược tách riêng thành một loại gọi là những bài ca dao lịch sử. Có thể thấy
những bài ca dao có liên quan ñến lịch sử là những biến cố có ảnh hưởng ñến
ñời sống nhân dân ñương thời. Xét về thời ñiểm sáng tác, có thể thấy chưa có
cơ sở ñể xác ñịnh các sáng tác này ngay sau những biến cố vừa xảy ra hay xảy
ra ñã lâu, nhưng có lẽ ca dao có liên quan ñến lịch sử ñã phản ánh ñược những
sự kiện lịch sử của dân tộc. Nhưng ca dao về ñề tài lịch sử không khái quát hóa
các sự kiện lịch sử, không phát hiện quy luật lịch sử, cho dù qua hình tượng

phản ánh lịch sử chứ không phải là ghi chép lịch sử. Như vậy cũng có nghĩa là
ca dao về ñề tài lịch sử, về lịch sử chứ không phải là “ca dao lịch sử”. Trong
“lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian”, sau khi phê phán sự gán ghép
một số sự kiện lịch sử vào một số ca dao theo quan ñiểm chủ quan của Nguyễn
Văn Mại, ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên viết: “… Có một nhóm ca dao,
do nội dung lịch sử của nó, có thể ñược xếp riêng thành một loại mà chúng ta
có thể gọi là những câu ca dao lịch sử. Ca dao lịch sử là những câu, những bài
ca ngắn lấy ñề tài ở những sự kiện lịch sử”. [18, 21] Với các ý kiến trao ñổi trên
ñây, có thể thấy các nhà nghiên cứu chưa mạnh dạn gọi thẳng là “ca dao lịch
sử” (với nghĩa không thật chính xác nên ñóng ngoặc ñơn như Vũ Ngọc Phan
hoặc dùng cụm từ “có thể gọi là” như ðinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên), cho
nên kế thừa các công trình ñã nghiên cứu về nhóm ca dao có liên quan ñến lịch
sử chúng tôi nhận thấy dùng cách gọi ca dao về lịch sử theo cách hiểu ñầy ñủ
như trên ñã nói là ca dao có liên quan ñến lịch sử sẽ hợp lí hơn.
Lịch sử mà ca dao Việt Nam phản ánh nói chung là lịch sử ñời sống văn
hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của dân tộc Việt Nam, do ñó phạm vi phản ánh rất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
rộng nếu xét ñến những hiện tượng liên quan ñến lịch sử. Khi xem xét nội dung
những ca dao liên quan ít nhiều ñến lịch sử có thể dựa vào những căn cứ ñể xác
ñịnh bao gồm:
- Căn cứ vào hiện tượng, sự kiện mà ca dao Việt Nam phản ánh.
ðó là các hiện tượng về sinh hoạt ñời sống văn hóa, chính trị, kinh tế, xã
hội trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam ñược truyền miệng và
ñược phản ánh lại.
Sinh con rồi mới sinh cha,
Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.
phản ánh chế ñộ mẫu hệ hay sự chuyển biến từ chế ñộ mẫu hệ sang chế ñộ phụ
hệ của dân tộc Việt Nam ta.

triều:
Nước Nam có bốn anh hùng,
Tường ñiêu, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu.
Còn:
ðồn rằng Khải ðịnh nịnh Tây,
Nghề này thì lấy ông này tiên sư.
Dân gian ñã dùng hình thức “tập Kiều” ñể phê phán vua Khải ðịnh…
- Căn cứ vào ñịa danh nơi xảy ra sự kiện lịch sử hoặc tên các ñịa phương nổi
tiếng có liên quan ñến các hiện tượng, sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa nổi
tiếng ñã ñược ghi lại trong lịch sử dân tộc. Bộ phận ca dao này là chủ yếu phản
ánh trong ca dao lịch sử này. Nói về di tích Cổ Loa:
Ai về thăm huyện ðông Ngàn,
Ghé thăm thành Ốc, Rùa Vàng tiên xây.
Rồi:
Nhong nhong ngựa ông ñã về,
Cắt cỏ Bồ ðề cho ngựa ông ăn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
nói về quân khởi nghĩa của Lê Lợi ñã về Bồ ðề (Gia Lâm, ðông Quan) vào
cuối năm 1427. Liên quan ñến việc phản ánh các nhà tù của thực dân Pháp tù
ñày các chiến sĩ cách mạng Việt Nam thì có các ñịa danh trong câu:
Ngó ra Phú Quốc, ngó lại Côn Lôn
Gió rao rao sóng bủa hết hồn
Bền gan sắt ñá trừ phường tà gian.
- Căn cứ vào thời ñiểm cụ thể của sự kiện lịch sử ñã xảy ra.
Các bài ca dao ñược xác ñịnh theo ngày tháng ñược ghi cụ thể (thường là
âm lịch). ðó là những ngày hội, ngày giỗ, những năm tháng khó quên trong
ký ức của nhân dân: hội ðền Hùng
Dù ai ñi ngược về xuôi,

tạo nên do nhu cầu của hiện thực ñời sống lịch sử, xã hội của các thành phần cư
dân trên lãnh thổ Việt Nam qua các thời ñại. Mặt khác nó cũng nằm trong quỹ
ñạo sáng tạo nghệ thuật của loại hình trữ tình dân gian các dân tộc trên thế giới.
Những sáng tác trữ tình dân gian mà trong ñó ca dao có mối quan hệ với
thực tại khác hẳn các thể loại tự sự, và dùng những biện pháp khác ñể truyền
ñạt cái thực tại ấy. ðối tượng của nó là con người, hiện thực, là cuộc sống và
những cảm xúc của con người hiện thực. Những sáng tác trữ tình dân gian mà
ñiển hình là ca dao phản ánh thế giới nội tâm của con người, phạm vi hiện thực
bị lôi cuốn vào sáng tác nghệ thuật. Thực tại mà thơ ca trữ tình chiếm lĩnh bao
gồm lĩnh vực ñời sống lịch sử của nhân dân, ñời sống chính trị. Nhân dân
không chỉ miêu tả biến cố trong lịch sử vào ca dao mà còn biểu thị thái ñộ ñánh
giá ñối với biến cố ấy.
Về bản chất nghệ thuật có thể thấy thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ, là
tiếng hát trữ tình của con người, là tấm gương ñể phản chiếu tâm hồn dân tộc.
Ý nghĩa cơ bản nhất của thơ ca trữ tình là biểu ñạt ñời sống tình cảm, cảm xúc
của nhân dân. Bản chất nghệ thuật của ca dao chính là thơ ca trữ tình. Ca dao
diễn tả ñược tâm trạng , biểu hiện tình cảm trong quan hệ gia ñình: người mẹ,
người chị; trong quan hệ xã hội ñó là tình cảm, cách ñối xử giữa con người với
con người; trong tình bạn, tình yêu ñó là quan hệ tình bạn, tình yêu. Không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
giống với thơ trữ tình trong văn học viết mang dấu ấn của tác giả còn ca dao thì
có ñiều ñó vì nó là tình cảm, cảm xúc của một tập thể, một cộng ñồng. F.
Hêghen ñã nhận xét: “Thơ ca dân gian hợp thành một trong những dòng chính
của thơ trữ tình” và “Bài hát dân gian dù có biểu hiện một nội dung cô ñọng
nhất cũng không cho ta thấy, qua cái biểu ñạt ấy, một cá nhân riêng biệt. Ở ñây
cá nhân còn gắn bó không tách rời cộng ñồng Với tư cách là chủ thể trữ tình,
cái tiếng nói qua ñó (qua ca dao) biểu hiện cảm hứng trữ tình của ñời sống dân
tộc”.[9] Khá nhiều những ý kiến ñã ñánh giá cao giá trị nhiều mặt của thơ ca

sử có ñiểm giống truyền thuyết lịch sử - một thể loại có sự phản ánh sự kiện,
nhân vật lịch sử thông qua hư cấu “thơ và mộng” (lời của thủ tướng Phạm Văn
ðồng). Vè lấy ñề tài ở những sự kiện lịch sử nhưng thường vượt ra khỏi phạm
vi ñịa phương nên vè ñược phổ biến rất rộng rãi ở nhiều nơi trong nước. Sự
kiện lịch sử lùi dần vào quá khứ, nhưng vè lịch sử có tác ñộng mạnh ñến ñời
sống văn hóa dân tộc cho nên nó tồn tại lâu dài trong kí ức nhân dân. Vè lịch sử
ñược sáng tác sau sự kiện lịch sử có thể xảy ra tương ñối lâu và những người
sáng tác chắc là những người chứng kiến những sự kiện lịch sử ñó. Trong vè
lịch sử thường hòa quyện hai yếu tố: sự chân thực lịch sử và sự hư cấu thần kì.
Người sáng tác không phải là nghệ sĩ hoặc trí thức dân gian ñứng về phía nhân
dân. Qua vè lịch sử chúng ta nhận diện thấy bóng dáng của hai loại anh hùng
lịch sử: anh hùng nông dân khởi nghĩa và sĩ phu chống Pháp. Hình tượng ñiển
hình của người nông dân khởi nghĩa chống chế ñộ phong kiến thối nát ñó là
chàng Lía, trong bài vè người kể khẳng ñịnh:
Truyện chàng Lía nay kể như y,
Giúp vui cô bác những khi việc rồi.
ðầu ñuôi có thế mà thôi,
Xin chào chư vị, quê tôi, tôi trở về.
Chàng Lía sinh ra chỉ biết mẹ không biết cha:
Giậm chân ba tiếng kêu trời,
Thân tôi có mẹ suốt ñời không cha.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
Cuối cùng, Lía không chỉ cướp của nhà giàu chia cho người nghèo mà còn
ñánh tan cả quân chúa Nguyễn ở Quy Nhơn:
Lừng danh chàng Lía tài cao,
Thâu ñược thành nọ tiếng hào ñồn ran.
Vỗ về chiêu dụ trăm dân,
Trước sau yên ổn mười phần làm ăn.

cảnh phù hợp với mọi ñối tượng, và ñặc biệt ñể chỉ tình cảm, cảm xúc của chủ
thể trữ tình nói chung. Như vậy, trong ca dao nói chung và ca dao về lịch sử nói
riêng nội dung vẫn thiên về biểu hiện lòng người. Những bài ca dao có liên
quan ñến lịch sử ấy vẫn mang phong cách , thi pháp của ca dao. Với thể loại vè,
ca dao có liên quan ñến lịch sử có ñiểm giao thao gặp gỡ nhau về ñề tài, chủ ñề
về nhân vật, sự kiện lịch sử. Về chức năng sinh hoạt thực hành về cơ bản vè có
tính chất phản ánh còn ca dao là biểu hiện. Phương thức diễn xướng: vè chỉ ñể
kể còn ca dao nói chung cũng như ca dao về lịch sử có thể hát, kể. Còn về thi
pháp: kết cấu vè là kết cấu trần thuật, còn ca dao là kết cấu ñối ñáp, Nhân vật
trữ tình trong vè là chủ thể, người chứng kiến sự việc ghi lại còn ca dao nhân
vật trữ tình là khách thể không cụ thể là ai, thời gian không gian của ca dao
không phải là thời gian không gian của lịch sử Như vậy, cần phân biệt vè lịch
sử với ca dao về lịch sử từ góc nhìn thể loại.
ðề tài của luận văn này chúng tôi kế thừa những công trình nghiên cứu có
trước. Xác ñịnh ca dao trong nhóm ca dao thường gọi là “ca dao về lịch sử”,
xác ñịnh những ñiểm chung, riêng, những nét ñặc thù ñể thấy nó là một biệt
loại.
1.2 ðịnh lượng về lịch sử trong kho tàng ca dao người Việt.
1.2.1 Vấn ñề nghiên cứu ca dao về lịch sử trong kho tàng ca dao của người
Việt.
Khai thác nội dung lịch sử trong văn học dân gian là công việc người xưa
vẫn làm. Ngô Sĩ Liên sử dụng các truyền thuyết thời kì dựng nước ñể viết phần
ngoại kỷ của ðại Việt sử kí toàn thư, các gia sử triều Nguyễn cũng sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
chất liệu văn học dân gian ñể viết phần tiền biên trong Việt sử thông giám
cương mục. Nhưng việc làm ñó rất khó và có nhiều ñiều cần bàn về nội dung
và phương pháp luận. Trong cuốn Việt Nam phong sử tác giả Nguyễn Văn Mại
có ý thức “lấy phong dao làm gương sáng mà chiếu tinh thần quốc sử, lại lấy

quận Hai Bà Trưng ñắp. Làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh có ñền thờ
Trưng Trắc. ðối chiếu các ñịa danh, sự kiện trên với các hiện thực lịch sử chắc
chắn kết luận ñược bài ca dao này phản ánh và ca ngợi cuộc khởi nghĩa Hai Bà
Trưng vào thế kỉ I ñầu Công nguyên. Bài ca dao quen thuộc:
Ru con con ngủ cho lành,
Cho mẹ gánh nước rửa bành cho voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi ñánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng,
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ñi quân.
Bài ca dao này chắc chắn nói lên tình cảm và sự hưởng ứng của nhân dân với
cuộc khởi nghĩa Bà Triệu vào thế kỉ thứ III. Hay cảm quan lịch sử của nhân dân
không chỉ ở sự ngợi ca mà còn là sự phê phán:
Tằm sao tằm chẳng ăn dâu,
Tằm ñòi ăn ruộng, ăn trâu, ăn nhà.
Nhiều người cho rằng bài ca dao phê phán việc Lê Thái Tông ñánh thuế nặng
vào các bãi dâu.
1.2.2 Phân loại ca dao về lịch sử :
Trong các công trình nghiên cứu về ca dao có liên quan ñến lịch sử của những
người ñi trước chúng tôi nhận thấy:
Công trình của nhà nghiên cứu Võ ðình Hường - Ca dao của người Việt
về lịch sử - Nhà xuất bản ðại học quốc gia , Năm 2001 ñã khảo sát từ Kho
tàng ca dao của người Việt, tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan ðăng Nhật, Nhà
xuất bản Văn hóa thông tin, 2001, ông ñã chọn ra 75 bài ca dao có liên quan
ñến lịch sử. Tiếp ñến, năm 2009, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
Nghĩa Dân - Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ, ca dao - Nhà xuất bản Thanh
Niên ñã dựa trên 75 bài ñã chọn của tác giả Võ ðình Hường, ñồng thời ông ñã

cuộc sống của ca dao dân ca. Nhưng không chỉ dân ca Nga mới phản ánh cuộc
sống “thực hơn sự thực ở ñời” (Vũ Trọng Phụng) mà dường như tất cả những
gì diễn ra hàng ngày của nhân dân lao ñộng Việt Nam ñều có trong ca dao dân
ca. Bởi vậy, bức tranh của xã hội Việt Nam ñược phản ánh khá rõ nét trong ca
dao về lịch sử.
2.1 Tính hiện thực.
Có thể thấy, ñể xác ñịnh thời ñiểm xuất hiện của ca dao về lịch sử thì có
những bài ca dao xuất hiện ngay trong khi một sự kiện lịch sử xảy ra nhưng
cũng có những bài ca dao xuất hiện về sau. Dù xuất hiện cùng lúc với sự kiện
lịch sử xảy ra hay xuất hiện sau ñó, ca dao về lịch sử ñều là sự phản ánh của
những sự kiện lịch sử theo ñặc thù nghệ thuật của ca dao. Như vậy, chúng ta
chỉ có thể thấy ñược nội dung cơ bản của sự kiện lịch sử ñược phản ánh, khác
với truyền thuyết lịch sử hoặc vè lịch sử có khả năng phản ánh chi tiết hơn
nhiều về các sự kiện lịch sử. ðể bàn về nội dung mà văn học dân gian phản
ánh, M.Go-rơ-ki viết: “Từ thời viễn cổ, văn học dân gian luôn là người bạn
ñồng hành khăng khít và ñặc thù của lịch sử”.[6] Trong văn học dân gian Việt
Nam, ý kiến của Go-rơ-ki ñược chứng minh qua nội dung phản ánh của mọi thể
loại, tùy theo ñặc trưng từng thể loại, sự phản ánh ấy có thể khác nhau nhưng
ñều xoay quanh trục thời gian của lịch sử dân tộc Việt Nam. Trong bài viết
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23
“Văn học dân gian Việt Nam, một biểu hiện ñộc ñáo và xuất sắc sức sống mãnh
liệt của dân tộc”, tác giả Nguyễn Khánh Toàn ñã nêu một quan ñiểm xác ñúng:
“Muốn ñạt tới một sự hệ thống hóa chặt chẽ trong việc lý giải tiến trình phát
triển lịch sử văn học dân gian thì cần nắm vững các cái nút, cái sợ chỉ ñỏ của
con ñường tiến hóa của dân tộc từ cội nguồn tới nay”.[29] Mốc quan trọng của
quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, quá trình ñấu tranh giữa các tầng
lớp, bộ phận phong kiến ñược thể hiện, ñược phản ánh trong các thể loại của
văn học dân gian Việt Nam dựa theo sự phát triển của lịch sử dân tộc qua các

thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ:
Chàng về thiếp một theo mây,
Con thơ ñể lại chốn này ai nuôi.
Và sự ra ñời của nhà nước Văn Lang chính là một bước tiến dài của xã
hội Việt Nam thời cổ ñại. Ngày nay mỗi ñộ xuân về , nhân dân khắp mọi miền
ñất nước lại nô nức kéo nhau về ñất Tổ, thăm ñền Hùng, tưởng niệm các vua
Hùng, con cháu cùng nhau ôn lại dòng dõi con Rồng cháu Tiên. Và ñây cũng là
dịp các cặp tài tử giai nhân hàn huyên tâm sự, cùng chúc nhau giàu sang, sống
lâu mạnh khỏe. Và ca dao về lịch sử ñã ghi lại như sau:
ðến ñây sum họp vui cười,
Trước là lễ Tổ viếng nơi mộ phần,
Sau là tài tử giai nhân,
Hàn huyên kể nỗi kẻ gần người xa.
Gần xa ta cũng một nhà,
Cùng dòng Hồng Lạc cùng là viêm bang.
Chúc rằng phú quý thọ khang,
Tổ cho phúc trạch bình an muôn nhà.
Sơ lược quá trình hình thành và phát triển thời kỳ tiền sử và bước vào
lịch sử của dân tộc Việt Nam, có thể thấy “vào thời kỳ Hùng Vương dựng nước,
xã hội Văn Lang - Âu Lạc không còn là xã hội nguyên thủy mà ñã xuất hiện
trên ñất nước ta một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ”, bờ cõi ñược phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Ca dao về lịch sử phản ánh quá trình giữ nước. Ca dao về lịch sử phản ánh quá trình ñấu tranh giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội bộ phận phong kiến. Tính trữ tình. Ngôn ngữ của ca dao về lịch sử. Thời gian và không gian trong ca dao về lịch sử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status