Khảo sát ca dao dân ca Bến Tre - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_______________

Đặng Thị Thùy Dương
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Để hạn chế sự lặp lại, chúng tôi xin được phép viết tắt một số từ:
- CD-DC : ca dao- dân ca
- VHDG : văn học dân gian
- ĐVTP : đơn vò tác phẩm
- NXB : nhà xuất bản
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu
Bến Tre là một trong những mảnh đất được khai sinh trong hành trình lịch sử Nam tiến của
dân tộc. Là một tỉnh nhỏ thuộc Nam bộ nhưng nơi đây thường được gọi là vùng đất "?địa linh
nhân kiệt" với những danh nhân trung - kiên - ái quốc đã góp phần không nhỏ vào sự hưng vong
của quốc gia. Và trong tiến trình lịch sử, mảnh đất này cũng đã để lại những dấu ấn văn hóa riêng.
Những dấu ấn văn hóa ấy được thể hiện rõ qua bộ phận văn học dân gian vùng đất này.
Văn học dân gian Bến Tre rất phong phú về thể loại gồm:
truyện cổ, truyện cười, truyện
trạng, CD-DC, vè, tục ngữ, câu đố… Đáng chú ý trong văn học dân gian Bến Tre là CD-DC bởi
nó được xem là thể loại ổn định, phản ánh rõ nét đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và
bản sắc con người nơi đây. Vì vậy, chúng tôi chọn CD-DC Bến Tre là đối tượng nghiên cứu cho
đề tài này.
Hơn nữa, hiện nay, chương trình Ngữ văn trung học phổ thông yêu cầu giảng dạy phần văn
học địa phương. Là giáo viên trung học phổ thông,
tôi thiết nghĩ nghiên cứu về CD-DC Bến Tre
cũng là điều cần thiết và bổ ích trong quá trình giảng dạy của mình.
Đề tài là sự khái quát có lý giải về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của CD-DC Bến Tre dựa
trên tài liệu đã có và bản thân người viết sưu tầm. Chúng tôi
lấy tên đề tài là: "Khảo sát ca dao -

một
hiện tượng phải lưu ý khi xem xét ca dao Bến Tre về mặt hình thức là hiện tượng là những bài ca
có ba dòng lời" [87,tr.60]. Tác giả có nêu số liệu khảo sát nhưng không lý giải. Về ngôn ngữ ca
dao, tác giả khái quát "mang đặc điểm của phương ngữ, nhất là phương ngữ Nam bộ", " ngôn ngữ
đầy sức sống, tươi rói, tác động mạnh vào cách nhìn, cách nghe của con người" [87,tr.61]. Đối với
vấn đề này, tác giả chỉ dừng lại bằng việc nêu ví dụ. Tuy nhiên, đây là những gợi ý quý báu m
à
trong luận văn này chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn. Phần sau là công bố những tư liệu đã sưu tầm về
các thể loại. Trong đó ca dao là 88 trang (với 900 bài). Phần dân ca gồm 38 trang với các tiểu loại
như: hò (89 bài), lý (9 bài), đồng dao (9 bài), hát sắc bùa Phú Lễ (8 bài), hát đưa linh (3 đoạn hát),
hát huê tình (17 bài). Ở phần này, ngoài một số bài dân ca sưu tầm, một số bài tác giả dẫn lại ở
sách "
Dân ca Bến Tre" của Lư Nhất Vũ- Lê Giang.
Công trình Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long (1999) của Khoa Ngữ Văn
Trường Đại học Cần Thơ, NXB Giáo Dục. Công trình này chủ yếu công bố những tư liệu đã sưu
tầm được về các thể loại văn xuôi dân gian và các thể loại văn vần dân gian ở đồng bằng sông Cửu
Long. Ở thể loại CD-DC, căn cứ phần ghi xuất xứ, nhóm
tác giả có sưu tầm 54 bài CD-DC ở Bến
Tre.
Công trình Địa chí Bến Tre (2001) của Thạch Phương- Đoàn Tứ chủ biên, NXB Khoa học xã
hội Hà Nội. Ở chương I của phần 4 về Văn hóa giới thiệu về 8 thể loại của VHDG Bến Tre, trong
đó có thể loại ca dao. Ca dao được giới thiệu gồm hai mảng cũ và mới với hai nội dung là công
cuộc chinh phục thiên nhiên và công cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả lao động. Tiếp theo là phần
phân tích một cách khái quát hai nội dung. Có lưu ý thêm mảng ca dao về đề tài tình yêu lứa đôi,

tình vợ chồng, hạnh phúc gia đình. Trong phần phụ lục về Văn hóa có 18 trang nêu 192 bài ca dao
Bến Tre. Phần lớn những bài ca dao này trùng với những bài ca dao trong "Văn học dân gian Bến
Tre" của Nguyễn Phương Thảo- Hoàng Thị Bạch Liên.
Công trình Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre (2005) của Lư Văn Hội, Sở Văn
hóa - Thông tin Bến Tre xuất bản. Công trình này viết về 6 hình thức diễn xướng dân gian ở Bến

Khi khảo sát, chúng tôi thường chọn chủ đề tình yêu lứa đôi vì đây là chủ đề tiêu biểu của
CD-DC.
Về tài liệu khảo sát, chúng tôi chọn:
- Văn học dân gian Bến Tre của Nguyễn Phương Thảo- Hoàng Thị Bạch Liên, NXB Hà Nội,
1988. Đây là tài liệu tập hợp được số lượng bài hát dân gian ở đất Bến Tre tương đối nhiều so với
các tài
liệu khác hiện có về CD-DC Bến Tre, gồm 1006 ĐVTP
- Tài liệu sưu tầm qua quá trình điền dã của chúng tôi, gồm 353 ĐVTP.
Một số tài liệu để đối chiếu so sánh:
- Dân ca quan họ Bắc Ninh của Văn Phú- Lưu Hữu Phước- Nguyễn Viêm, NXB Văn hóa, Hà
Nội, 1962. Chọn tài liệu này là đại diện cho CD-DC
miền Bắc vì trong số tư liệu về CD-DC ở
miền Bắc, chúng tôi chỉ tìm được Ca dao ngạn ngữ Hà Nội [ 20] và Tục ngữ ca dao dân ca Vĩnh
Phú [119] , Dân ca quan họ Bắc Ninh [113], song tài liệu [20] và tài liệu [119] có số lượng bài
CD-DC tương đối ít hơn tài liệu [113], chưa đủ số lượng để khảo sát.
- Ca dao- dân ca đất Quảng của Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng
(chủ biên), NXB Đà Nẳng, 2006. Chọn tài liệu này l
à đại diện cho CD-DC miền Trung vì đây
là tài liệu chúng tôi có được. Hơn nữa, đất Quảng (cụ thể hơn là Quảng Nam- Đà Nẳng) về
phương diện địa lí là thuộc trọn vẹn miền Trung từ trước đến nay. Số lượng CD-DC đất Quảng rất
phong phú, khi có đối chiếu so sánh chúng tôi chọn ngẫu nhiên từ vần A đến hết vần C, gồm 549
bài về chủ đề tình yêu lứa đôi.
- Ca dao- dân ca Nam bộ của Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát…, NXB TP.HCM, 1984.

Khi đối chiếu, chúng tôi chọn ngẫu nhiên từ vần A đến hết vần B, gồm 330 bài CD-DC thuộc chủ
đề tình yêu lứa đôi.
- Ca dao Đồng Tháp Mười của Đỗ Văn Tân chủ biên, Sở VH-TT Đồng Tháp xuất bản, 1984.
Khi đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm 635 bài CD-DC.
- Văn học dân gian Bạc Liêu, Chu Xuân Diên chủ biên, NXB Văn nghệ TP HCM, 2005. Khi
đối chiếu, chúng tôi chọn chủ đề tình yêu lứa đôi gồm

sưu tầm ghi ra giấy về những bài CD-DC lưu truyền tại
Bến Tre. Sau đó họ gởi lại cho ban tổ chức lớp. Cách sưu tầm này tập hợp được số lượng bài CD-
DC khá lớn nhưng chúng lại trùng nhau nhiều. Vì chúng tôi không gặp trực tiếp người cung cấp
nên việc g
hi nhận thông tin người cung cấp cũng không đầy đủ như thiếu họ, tuổi tác, hình ảnh…
Chúng tôi đã sưu tầm chủ yếu ở các huyện Giồng Trôm, Bình Đại, Mỏ Cày. Đây là những nơi
mà trước 1975 sinh hoạt hò hát phát triển mạnh như hò cấy, hò chèo ghe…do địa hình là những
cánh đồng rộng và sông rạch chằng chịt. Tổng số chúng tôi sưu tầm được 353 ĐVTP.
" Phương pháp thống kê:
Việc sử dụng phương pháp thống kê giúp chúng tôi tính t
oán được số lượng nhiều hay ít của
các từ ngữ, công thức, hình ảnh… trong CD-DC. Phương pháp này giúp đưa ra được những số liệu
cụ thể, chính xác về vấn đề cần khảo sát. Từ đó dẫn đến những kết luận khách quan.
" Phương pháp hệ thống:
Phương pháp hệ thống là cách đặt những bài CD-DC Bến Tre trong cùng một hệ thống như
hệ thống CD-DC Nam bộ hoặc CD-
DC cả nước để thấy được nét chung cũng như nét riêng của
nó.
" Phương pháp phân tích, so sánh:
Tìm ra những điểm giống và điểm khác của CD-DC Bến Tre với CD-DC của vùng miền
khác, người viết phải phân tích, đối chiếu những bài CD-DC Bến Tre với những bài CD-DC vùng
khác.
" Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Phương pháp này dùng để lý giải cho những đặc điểm CD-DC Bến Tre. Kiến thức của nhiều
ngành khác nhau như: lịch sử, địa lí,dân tộc học, văn hóa học… sẽ rất hữu ích trong việc nghiên
cứu.
4. Đóng góp của luận văn
- Phác họa diện mạo chung của CD-DC Bến Tre.
- Làm
rõ đặc điểm nội dung, nghệ thuật của CD-DC Bến Tre và qua đó hiểu thêm đời sống

chính nước Nam, được sáp nhập vào dinh Long Hồ, phủ Gia Định. Bấy giờ, ở hữu ngạn rạch Bến
Tre, còn gọi là Bến Lở, quan địa phương có cất cái trạm để kiểm soát và thâu thuế các ghe thuyền
buôn bán qua lại trên sông. Vì thế, danh từ Bến Tre là cách nói rút ngắn của những chữ "Bến thuế
của Sóc Tre".
Giới hạn vùng đất Bến Tre ngày nay khác với giới hạn vùng đất Bến Tre trước đây. Bến Tre
trước đây chỉ gồm 2 cù lao: Bảo và Minh. Cù lao An Hóa thuộc tỉnh Tiền Giang. Năm 1948, cù
lao An Hóa mới nhập vào Bến Tre. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), cù lao An Hóa lại tách về
Tiền Giang. Năm 1956 cho đến nay, Bến Tre gồm cả 3 cù lao: Bảo, Min
h và An Hóa.
Danh từ hành chính Bến Tre cũng có nhiều thay đổi. Trước năm 1757, vùng đất Bến Tre và
Trà Vinh còn gọi là đất Trà Vang thuộc Thủy Chân Lạp. Khi được sáp nhập vào bản đồ Việt Nam,
tên gọi vùng đất này cũng qua nhiều lần t
hay đổi. Cụ thể là tổng Tân An (năm 1779) thuộc châu
Định Viễn, dinh Long Hồ, phủ Gia Định; huyện Tân An (năm 1808) thuộc phủ Định Viễn, trấn
Vĩnh Thanh, Gia Định thành; phủ Hoằng An (năm 1823) thuộc trấn Vĩnh Thanh; phủ Hoằng An
(năm 1823) thuộc tỉnh Vĩnh Long; phủ Hoằng An và phủ Hoằng Đạo (năm 1837) thuộc tỉnh Vĩnh
Long; phủ Hoằng Trị và phủ Hoằng An (năm 1844) thuộc tỉnh Vĩnh Long; phủ Hoằng Trị (năm
1851) thuộc tỉnh Vĩnh Long; sở tham
biện Bến Tre và sở tham biện Mỏ Cày (năm 1867) trong số
24 sở tham biện ở Nam kỳ; sở tham biện Mỏ Cày (năm 1871) trong số 18 sở tham biện ở Nam kỳ;
hạt Bến Tre (năm 1876) thuộc hạt III (tức Vĩnh Long); quận Bến Tre (năm 1886) thuộc tham biện
Vĩnh Long; tỉnh Bến Tre (năm 1900) thuộc Nam kỳ; tỉnh Đồ Chiểu (tháng 9 năm
1945) thuộc
Nam bộ; tỉnh Bến Tre (năm 1948) thuộc Nam bộ; tỉnh Kiến Hòa (năm 1956) thuộc Nam phần
(chính quyền Sài Gòn) đồng thời phía cách mạng gọi là tỉnh Bến Tre thuộc Nam bộ. Năm 1975
cho đến nay được gọi là tỉnh Bến Tre trong số hơn 60 tỉnh thành cả nước.
Về hành chính, Bến Tre có 8 đơn vị cấp huyện gồm: thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến
Tre) và các huyện Ba Tri, Bình Đại
, Châu Thành, Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú.


ngày nay tầng sinh phèn ít nhiều bị rửa trôi.
Bến Tre có khí
hậu nhiệt đới gió mùa, có một chế độ nhiệt độ cao quanh năm ít biến động. Có
hai mùa: mùa mưa và mùa nắng. Sự phân hóa các mùa khí hậu thể hiện sự tương phản của hai mùa
gió. Mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam, mùa khô trùng với gió mùa Đông Bắc. Thời tiết Bến
Tre nói chung rất thuận lợi cho việc sản xuất, ít có diễn biến đột ngột thất thường.
Các sông lớn và hệ thống sông rạch chằng chịt tạo cho tỉnh có một nguồn nước dồi dào quanh
năm p
hục vụ sản xuất nông nghiệp. Nó cung cấp cho Bến Tre một nguồn thủy sản phong phú.
Nằm kề bên Biển Đông, những con sông Bến Tre không những tiếp nhận nguồn nước từ Biển Hồ
đổ về mà hằng ngày sông ở đây còn tiếp nhận nguồn nước biển do thủy triều đẩy vào. Vì thế chế
độ dòng c
hảy ở các con sông Bến Tre là chế độ bán nhật triều không đều. Với hệ thống sông dày
đặc, Bến Tre thuận lợi trong việc phát triển giao thông đường thủy nhất là khi hệ thống giao thông
đường bộ chưa được mở mang.
Thảm thực vật ở Bến Tre rất phong phú và đa dạng, gồm có quần thể thực vật trên các bãi lầy
ven biển (với các cây mắm trắng, bần đắng, vẹt, đước, sú, cóc kèn, ô rô…); quần thể thực vật trên
các giồng cát (với các loài cây như tra, mù u, cui, rau muống biển, cỏ chông…); quần thể thực vật
ven sông rạch (với các loài cây như dừa nước, bần chua, mướp xác, quao nước, t
râm bầu, cà na,
lau, sậy, dây lùn…); quần thể thực vật vùng bưng trũng (với các loài cây như tràm, bần chua, gừa,
bòng bong, mây nước, lác hến, lúa ma, sen, súng…). Thảm thực vật ngoài việc che phủ và bảo vệ
đất, chống lở bờ, rửa trôi, điều hòa khí hậu, tạo nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dại…
còn là nguồn cung cấp tài nguyên rất quý phục vụ đời sống nhân dân và phát triển kinh tế.
Nguồn động vật ở Bến Tre cũng khá phong phú. Nhưng so với thời trước, những loài động
vật ở Bến Tre trải qua những biến đổi lớn. Các loài thú lớn như cọp, voi, cá sấu... hoàn toàn biến
mất, chỉ còn lại trong các câu
chuyện kể, một số di tích và các huyền thoại. Hiện nay, chúng ta chỉ
gặp những loài thú nhỏ như chuột, dơi, rái cá... Ở vùng đất giồng có các loại như chồn, cáo, các
loại bò sát không chân như: trăn, rắn, hay có chân như: kỳ đà, kỳ nhông, rắn mối, tắc kè, tắc ké...

từng bầy. Tiếp đó, nhiều con đường dốc đầy tre chạy dài hàng trăm dặm" Dẫn theo 76, tr.24-25 .
Năm 1757 (năm Đinh Sửu), vua Chân Lạp là Nặc Nguyên chết. Chú là Nặc Nh
uận xin hiến
đất Trà Vang (gồm Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (gồm Sóc Trăng, Bạc Liêu) để được Võ vương
Nguyễn Phúc Khoát phong làm vua. Bắt đầu từ đây, Bến Tre có tên trên bản đồ Việt Nam, sáp
nhập vào dinh Long Hồ, phủ Gia Định.
Có thể chia lịch sử vùng đất Bến Tre từ đầu thế kỷ XVII đến nay thành các thời kì sau: thời
kỳ khai phá (từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX)
, thời kỳ chống giặc ngoại xâm Pháp, Mỹ (từ
năm 1858 đến năm 1975), thời kỳ cùng cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến nay).
Thời kỳ khai phá (từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX):
Vùng đất Bến Tre được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII. Nhưng trước
đó người Việt đã đến vùng đất này cư trú, sinh sống. Nguồn gốc người Việt ở Bến Tre là từ miền
Trung. Họ đến Bến Tre vì nhiều lý do khác nhau: để kiếm sống (như những người nông dân nghèo
khổ phải chịu nạn chiến tranh phong kiến kéo dài), để trốn tránh (như những người trốn lính, lính
trốn và những tù nhân bị lưu đày), để là
m giàu (như những người có tiềm lực kinh tế, có kinh
nghiệm sản xuất mà Lê Quý Đôn gọi là: "dân có vật lực" - theo lời kêu gọi của chúa Nguyễn vào
đây khai phá làm kinh tế). Những lưu dân này đến Bến Tre bằng đường thủy hoặc đường bộ, theo
cách thức đi lẻ tẻ từng cá nhân, từng gia đình hoặc theo nhóm gia đình. Khi đến vùng đất mới, họ
thường chọn nơi định cư là những vùng đất cao dọc theo các con sông lớn hoặc các khu đất giồng
cao.
Bên cạnh lưu dân người Việt, trên đất Bến Tre thời ấy còn có lưu dân người Ho
a. Cuối thế kỷ
XVII, một bộ phận quân nhà Minh (Trung Quốc) do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên
đứng đầu, bất mãn triều đình Mãn Thanh sang Việt Nam xin tị nạn. Chúa Nguyễn đã cho họ vào
vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Nhóm Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Biên Hòa, nhóm
Dương
Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho. Theo lịch sử xã Phước Thạnh (thuộc huyện Châu Thành) thì trong
nhóm lưu dân người Hoa cư trú ở Mỹ Tho chắc chắn có một bộ phận sang cù lao An Hóa vì nơi

ợc huấn luyện và tổ chức,
trang bị vũ khí thô sơ nên họ đã thất bại. Dù thế ý chí, tinh thần yêu nước của người dân nơi đây
như ngọn đuốc vẫn âm ỉ cháy không bao giờ tắt, chỉ chờ cơ hội là bùng lên. Trải qua nhiều khó
khăn, sự khổ luyện cộng với sự dũng cảm, mưu trí, người dân Bến Tre đã dành được chính quyền
vào tháng 8 năm 1945 trong không khí thắng lợi chung của cả nước.
Sau thắng lợi, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập nhưng phải đối đầu với nạn
thù trong giặc ngoài. Pháp lại nổ súng xâm lược nước ta lần nữa. Trong cuộc kháng chiến chống
Pháp lần 2, nhân dân Bến Tre đã thể hiện tinh thần xung kích với trận đánh tiêu diệt căn cứ Và
m
Nước Trong ở Định Thủy, huyện Mỏ Cày (năm 1947), với chiến thắng Thạnh Phú (năm 1953) …
Chiến thắng ở Bến Tre và các tỉnh Nam bộ khác có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh
của nhân dân thành phố Sài Gòn buộc Pháp phải ngồi vào bàn kí hiệp định Giơ-ne-vơ vào năm
1954.
Hết chống Pháp, nhân dân Bến Tre tiếp tục chống Mỹ. Bến Tre đã mở đầu cho cao trào đấu
tranh vũ t
rang trong toàn miền Nam chống chế độ Ngô Đình Diệm với phong trào Đồng Khởi
ngày 17 tháng 01 năm 1960 mà người lãnh đạo là nữ tướng Nguyễn Thị Định. Với lòng căm thù
giặc sâu sắc, chấp nhận hi sinh, gian khổ, nhân dân xứ dừa tiếp tục cùng với nhân dân cả nước
đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước bằng cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975.
Thời kỳ cùng cả nước xây dựng c
hủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến nay):
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Bến Tre bắt
tay vào công cuộc xây dựng quê hương, hàn gắn vết thương chiến tranh và không ngừng phát
triển. Đời sống nhân dân cơ bản đã ổn định, mặt bằng văn hóa được nâng cao, ki
nh tế phát triển
theo chiều hướng đi lên. Đạt được những thành tựu nhất định, Bến Tre không ngừng chủ động hội
nhập với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh thành Việt Nam và quốc tế. Điều
đó thể hiện qua công trình cầu Rạch Miễu bắc qua sông Tiền. Đây là công trình thế kỷ được nhiều
người dân mơ ước, nó sẽ xóa bỏ vị thế cô

đuổi thực dân đế quốc, góp sức giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Cụ thể Bến Tre có 2141 Bà mẹ
Việt Nam Anh Hùng (số lượng đông nhất ở Nam bộ), trên 35000 liệt sĩ, gần 19000 thương binh và
người hưởng chính sách như thương binh. Những tài năng kể trên là cơ sở để CD-DC Bến Tre
khắc họa phẩm cách nổi bật con người Bến Tre trong lao động, trong chiến đấu, trong sinh hoạt
đời thường.
1.1.5. Tín
ngưỡng
Thờ phụng tổ tiên:
Người Việt Nam ta có phong tục thờ phụng tổ tiên, ông bà. Đây là một bổn phận và đã trở
thành một lẽ tự nhiên theo quan niệm "cây có cội, nước có nguồn". Thờ cúng tổ tiên vừa để tưởng
nhớ những người đã sinh ra mình vừa là dịp để ông bà, anh em, con cháu trong gia đình sum họp
với nhau. Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên hầu như diễn ra khắp nơi từ thị trấn đến nông
thôn, từ miệt vườn cho đến m
iệt đồng, miệt biển. Thờ phụng tổ tiên hay còn gọi là đạo thờ ông bà
của người Việt vốn đã tồn tại hàng chục thế kỷ. Vì thế cách thờ cúng ông bà, tổ tiên vùng này
không có gì khác biệt so với cả nước. Thường thì mỗi gia đình có bàn thờ gia tiê
n, tùy theo giàu
nghèo, tùy theo kiểu nhà bố trí nơi thờ tự mà sự bày biện các đồ thờ trên bàn thờ có sự khác nhau.
Trước ngày cúng giỗ chính, nhiều nhà còn làm lễ cúng tiên với nhưng lễ vật đơn sơ từ chiều hôm
trước. Ngày giỗ chính người dân có tập quán dành những món ngon nhất từ vật nuôi đến trái cây
theo mùa vụ như nếp, đậu (để nấu xôi, gói bánh) cho đám giỗ người thân. Ngoài ông bà, anh em,
con cháu có mặt trong ngày giỗ thì bà con láng giềng, bạn bè cũng được mời dự.
Thờ Thành hoàng:
Nếu như việc thờ phụng tổ tiên tượng trưng cho gia
đình, là sự nối dõi tổ tông, nơi thờ cúng
là nhà thì thờ phụng Thành hoàng tượng trưng cho làng xã, là sự trường tồn của thôn ấp và nơi thờ
tự là đình. Theo quan niệm dân gian, Thành hoàng là một vị thần linh cai quản toàn thể thôn xã,
che chở, phù hộ dân làng được bình yên, thịnh vượng. Người dân rất tôn kính và tin tưởng vào sự
phù hộ của Thành hoàng. Đình làng Bến T
re ra đời gắn với quá trình khai phá đất đai, mở làng lập


thấy thể loại hát sắc bùa, một loại dân ca nghi lễ mà các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long ít
thấy bóng dáng của chúng. Câu đố, vè phát triển mạnh và mang dấu ấn địa phương.
Văn học viết Bến Tre gắn với các tên tuổi như Lê Văn Đức, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình
Chiểu, Phan Văn Trị…(văn học Hán Nôm); Trương Vĩnh Ký (người đi đầu trong văn học chữ
quốc ngữ);
Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Trương Gia Mô…( văn học yêu nước chống Pháp);
Lê Anh Xuân, Chim Trắng, Đoàn Tứ, Trang Thế Hy, Thanh Vũ, Kim Ba…(văn học hiện đại). Có
thể nói, văn học viết Bến Tre phát triển theo tiến trình của văn học viết Việt Nam. Và khi nhắc đến
văn học viết Việt Nam, người ta
vẫn không quên nhắc đến một số tên tuổi nổi tiếng của văn học
viết Bến Tre.
Như vậy, vùng đất Bến Tre là vùng đất trẻ so với vùng Bắc bộ nước ta. Điều đó thể hiện qua
lịch sử, điều kiện tự nhiên. Đặc biệt, nó còn là vùng đất văn hóa với những nét riêng về văn học,
tín ngưỡng cũng như những con người tài năng làm
nên lịch sử vùng đất.
1.2. Giới thiệu chung về ca dao - dân ca Bến Tre
1.2.1. Các hình thức diễn xướng của CD-DC
CD-DC Bến Tre được sưu tầm bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX. CD-DC Bến Tre có
các hình thức diễn xướng là hò, lý, hát ru, hát huê tình.
Hò:
Hò là một hình thức diễn xướng của CD-DC, có vai trò quan trọng trong đời sống lao động
và tâm hồn của người dân. Phát sinh từ môi trường lao động và đặc biệt khung cảnh thiên nhiên
bốn bề sông nước nên hò Bến Tre cũng như hò Nam
bộ nói chung đều mang dáng dấp ung dung
với nhịp điệu khoan thai hơn so với một số điệu hò ở miền Trung và miền Bắc dù cùng cội nguồn,
gốc gác.
Tổng số lượng bài hò sưu tầm ở Bến Tre là 205 bài trong các tài liệu [110], tài liệu [87], tài
liệu [37].
Đề tài mà hò Bến Tre đề cập vô cùng phong phú phản ánh đời sống tinh thần của người lao

năm cặp thơ lục bát. Để thành bài hát lý, tùy theo điệu lý mà sẽ có thêm những tiếng đệm lót ( như
phú lý, rượng ơ, tình bằng, lý tú lý tiên…), tiếng láy, tiếng đưa hơi (như í a, ư ứ ư ư ừ, thố a, ơ ờ
ớ…) hay tiếng phụ đệm.
Đề tài của lý rất phong phú, liên quan đến sinh vật, sự việc, lao
động, thiên nhiên và sinh hoạt
xã hội. Một số điệu lý quen thuộc ở Bến Tre như lý con cua, lý con cúm núm, lý con nhái, lý con
mèo, lý cây ổi, lý dừa tơ, lý bánh ít, lý bánh canh, lý đương đệm, lý ba xa kéo chỉ, lý cảnh chùa, lý
nàng dâu, lý ông hương, lý ăn giỗ…Không chỉ phản ánh sự vật, sự việc, con người, lý còn là tiếng
nói của tình cảm
. Nó là tiếng nói của tình yêu lứa đôi hồn nhiên, mộc mạc; là ước mơ trong sáng,
lạc quan; là sự ngợi ca lao động và cả sự bất bình trước những điều bất công trong cuộc sống.
Lý có mặt khắp nơi trên đất Bến Tre vì lý là những khúc hát dân gian ngắn gọn, rất dễ thuộc,
dễ nhớ. Lư Nhất Vũ đã nhận xét về mức độ đặc sắc của lý ở Bến Tre:
"Các điệu lý m
à chúng ta tã từng nghe ở các nơi như lý chim chuyền, lý đươn đệm, lý lu là, lý
con cua, lý con sáo, lý con quạ, lý ngựa ô, lý cảnh chùa…. Khi chúng đã xâm nhập vào đất Bến
Tre thì chúng đã biến hóa ít nhiều qua sức sáng tạo của nhân dân và lần hồi đã trở thành "cư dân"
của đất Bến Tre. Số bài lý còn lại gồm một đội ngũ đông đảo vô cùng, làn điệu của loại này thấm
vị ngọt của dừa, phả cái hơi thở của nước, của nắng,
của gió, của phù sa từ các con sông Ba Lai,
Hàm Luông và Cổ Chiên. Chúng có thể là đặc sản của Bến Tre nếu sau này ta chưa phát hiện được
thêm các điệu lý có chất lượng nghệ thuật tương tự ở các nơi khác" 110, tr.45 .
Hát ru (hát đưa em):
Hát ru là hình thức diễn xướng của CD-DC trữ tình, được hình thành và phát triển trên cơ sở
những sinh hoạt gia đình và xã hội mang tính chất phong tục tập quán. Hát ru là cách để đưa trẻ
vào giấc ngủ. Người ru có thể là mẹ, bà, chị nhưng chủ yếu nhất là mẹ. Mẹ rát ru để con đi vào
giấc ngủ đồng thời hát ru cũng là cách người mẹ giãi bày tâm sự, ru cảnh ngộ của mình.
Tùy theo từng địa phương có thể có những điệu ru khác nhau, song hát ru ở Bến Tre về giai
điệu tương đối thuần nhất. Một câu hát ru thường được chia thành 3 phần: phần mở đầu, phần nội
dung và phần kết thúc. Phần mở đầu thường là: "Ươm ớ ơ ơ ườm, ua ừa ua ươm, ứa ưa ưa ườm,

Điều đó góp phần cho CD-DC Bến Tre trở
nên phổ biến sâu rộng, được mọi người yêu thích, đáp ứng nhu cầu sáng tác và thưởng thức nghệ
thuật của người dân mọi lúc mọi nơi. Từ lời hát dân gian đó, người đọc, người nghe cảm nhận
được tâm hồn, tư tưởng hay những ước m
ong, khát khao của người bình dân.
1.2.2. Tình hình tư liệu
Cho đến thời điểm hiện nay, không kể dân ca nghi lễ như hát sắc bùa, hát đưa linh…, CD-DC
Bến Tre sưu tầm trên sách vở là 1925 ĐVTP, cụ thể trong các tài liệu sau (nêu theo năm xuất bản):
1. Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1577 đến năm 1945) [73]: 38 ĐVTP.
2. Dân ca Bến Tre [110]: 78 ĐVTP.
3. Văn học dân gian Bến Tre [87]: 1006 ĐVTP.
4. Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long [47]: 54 ĐVTP (căn cứ phần ghi xuất xứ).
5. Địa chí Bến Tre [76]: 192 ĐVTP.
6. Các hình thức diễn xướng dân gian ở Bến Tre [37]: 195 ĐVTP.
7. Tài liệu chúng tôi sưu tầm : 362 ĐVTP.
Tất nhiên, các đơn vị tác phẩm ở các tài liệu này có sự trùng nhau. Theo chúng tôi ước lượng
nếu bỏ đi các ĐVTP trùng nhau, CD-DC Bến Tre có khoảng 1600 ĐVTP. Đây không phải là con
số lớn. Chúng tôi nghĩ rằng, vốn CD-DC vẫn còn lưu giữ nhiều trong trí nhớ của người dân lao

động Bến Tre, chỉ có điều chúng ta chưa có điều kiện tập hợp, sưu tầm. Ngày trước, CD-DC có vai
trò quan trọng trong đời sống người lao động. Bởi những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỉ XIX,
trên đồng ruộng Bến Tre vẫn âm vang rộn rã tiếng hò cấy lúa. Trong mỗi căn nhà, những buổi trưa
hè oi bức, những chiều mưa bong bóng ngập sân, trong tiếng võng ầu ơ…những điệu l
ý, bài ca
được cất lên. Những bài hát đó luôn lắng đọng trong tâm hồn người Bến Tre từ tuổi ấu thơ cho đến
lúc nhắm mắt xuôi tay. Ngày nay, do nhu cầu cuộc sống, các loại hình giải trí mới ra đời nhiều
khiến loại hình CD-DC bị bỏ quên. Tuy nhiên, đó chỉ là so sánh bề nổi, thực sự CD-DC vẫn sống
trong lòng người dân lao động. Bởi đôi lúc gặp hoàn cảnh trớ trêu, khó khăn, chúng ta lại nghe

những lời than thân, trách phận (vốn là CD-DC) cất lên mà đơn giản chỉ là một sự giãi bày, bộc lộ

át lành phù sa.
Là vùng đất được tạo nên từ ba cù lao nên nói một cách khác, Bến Tre cũng giống như ba hòn
đảo giữa bốn bề sông nước. Chính vì thế, "sông" được CD-DC Bến Tre nhắc khá nhiều (37/577
bài, tỉ lệ 6%). Tuy nhiên, khi so sánh với CD-DC đất Quảng và Dân ca Quan họ Bắc Ninh thì CD-
DC Bến Tre nhắc về "sông" ít hơn. Cụ thể Dân ca Quan họ Bắc Ninh có 44/281 bài, tỉ lệ 15,6%,
CD-DC đất Quảng là 45/546 bài, tỉ lệ 8,2%. Có lẽ vì
miền Bắc và Trung xuất hiện trước trên bản
đồ Việt Nam, con sông đã gắn với tâm thức của người dân nơi đây từ buổi đầu tiên bởi nó là
nguồn sống cho con người. Đặc biệt là trên mảnh đất miền Bắc, quá trình lịch sử diễn ra dài hơn
nên dấu ấn về "sông" cũng đậm hơn.
"Sông" ở CD-DC Bến Tre hiện lên với các dạng như "con sông", "vùng sông", "khúc sông",
"bãi sông"… và gắn với các tính chất: "sông dài", "sông sâu", "sông rộng", "sông đầy", "sông bên
lở bên bồi"…. Hơn ai hết, người dân Bến Tre phải thường xuyên tiếp xúc với sông nên họ có sự
hiểu biết sâu sắc và tường tận. "Sông" được nhắc tới là những con sông cụ thể ở vùng đất này như
sông Tiền (2 lần),
sông Cửa Đại (1 lần), sông Ba Lai (3 lần), sông Hàm Luông (3 lần), sông Bến
Tre (6 lần). Ở Bến Tre, sông thường là ranh giới giữa các vùng và là ranh giới giữa tỉnh này với
tỉnh khác. Mỗi con sông được nhắc trong CD-DC với đặc điểm
riêng. Sông Tiền có lượng nước
dồi dào, có sóng mạnh:
- Bước xuống "bắc" Mỹ Tho thấy sóng xô nước đẩy
Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy cây xanh…
Sông Tiền là ranh giới giữa Tiền Giang và Bến Tre. Sự qua lại giữa hai tỉnh ngày trước được
hỗ trợ bằng "bắc" (còn gọi phà).
Còn sông Cửa Đại là dòng chảy hai chiều: "Sông Cửa Đại hai chiều nước chảy…". Sỡ dĩ có
dòng chảy như thế vì sông Bến Tre theo chế độ bán nhật triều.
Sông Ba Lai với đặc điểm sóng ngược, nhiều nước:
"Sông Ba Lai sóng ngược
Chẳng bao nhiêu nước cho vừa
Sông Ba Lai sóng đánh tối ngày…".

Em đây giữ niềm tiết hạnh chớ lãng xao em buồn.
- Ở dưới sông sóng dậy cát đùa
Em gá dơn không đặng em vô chùa em tu.
Sóng nước phóng khoáng, mạnh mẽ như thế đôi khi cũng là sự nguy hiển cho con người.
Nhưng qua đó, chúng ta thấy được sự sôi nổi nhưng không kém phần yên bình của vùng đất mới
Bến Tre.
Còn với hình ảnh "núi" thì tần số xuất hiện ở CD-DC Bến Tre rất thấp (2/577 bài, tỉ lệ
0,34%). Do địa hình các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long phần lớn là đồng bằng bằng phẳng,
ít đồi núi. Có lẽ, vì thế mà hình ảnh "núi" hiếm xuất hiện trong CD-DC Bến Tre.
Nhưng bù lại, CD-DC Bến Tre đã nhắc đến những yếu tố đặc trưng khác của địa hình đồng
bằng sông Cửu Long như: rạch (4 lần), ki
nh (1 lần), mương ( 3 lần), bưng ( 3 lần), bàu ( 1 lần), rẫy
( 2 lần), giồng (7 lần).
- Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng…
- Bậu chê nước sông bậu uống nước bàu…
- Đèn treo trong quán, tỏ rạng bờ kinh…
Trong số những yếu tố đặc trưng của địa hình Bến Tre, có lẽ "giồng" được nhắc đến nhiều
nhất. Không chỉ là những từ "giồng" chung chung như đất giồng m
à là tên những con giồng cụ thể
như: Giồng Trôm, Giồng Keo, Giồng Giá, Giồng Giếng, Giồng Miễu, Giồng Chanh….
- Em về Giồng Giếng em coi…
- Ai về Giồng Miễu qua sông...
- Tiếng đồn con gái Giồng Chanh...
Giồng là dãy đất cao ven các cửa con sông, có nhiều phù sa lắng đọng từ trước. Thuở ban đầu
khai phá, người dân nơi đây chọn giồng để cư trú vì giồng có nước ngọt, cao ráo, tránh được muỗi
mòng, rắn rết, có đất cát thích hợp t
rồng hoa màu ngắn ngày. Sau đó dần dần họ mới tiến xuống
chinh phục những vùng còn đang ngập nước, còn bãi dọc theo giồng.
Khi nhắc đến "giồng" là cách chỉ vùng chuyên canh hoa màu khác với vùng ruộng:
- Mẹ mong gả thiếp về giồng

hàng công nghiệp và đời sống tinh thần của người dân Bến
Tre. Trong những năm chiến đấu chống ngoại xâm, thân dừa được sử dụng trong việc xây hầm
tránh đạn bom, ngọn dừa lão (cao) làm trạm gác giặc, làm cột treo cờ Mặt trận dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam.... Ở CD-DC Bến Tre, "dừa'
được xem là biểu tượng của quê hương:
- Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười.
- Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang.
"Dừa" được nhắc đến như là sự giới thiệu về đặc sản của vùng đất:
- Quê anh ba dải cù lao
Có dừa ăn trái có cau ăn trầu.
- Ai
về xứ bến quê tôi
Núi đồi không có nhiều xôi lắm dừa.
"Dừa" còn là nơi hò hẹn, là khung nền để những người yêu nhau bộc lộ tình cảm thương nhớ
của mình:
- Giả ơn ai có cây dừa
Cho tôi nghỉ mát đợi chờ người thương.
- D??a xanh trn b?n hai ha?ng
D??a bao nhiu tra?i th??ng cha?ng b?y nhiu.
"Dầu dừa" được nhắc đến như một phương pháp cổ truyền dùng để làm đẹp tóc. Ngày trước,
người ta dùng dầu dừa thoa lên tóc cho tóc bóng mượt và giữ nếp:
- Mài
dừa đạp bã cho nhanh
Nấu dầu mà chải tóc anh tóc nàng.
- Mài dừa dưới ánh trăng vàng
Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh.
Và như vậy, "dừa" không chỉ là niềm tự hào của người dân mà nó luôn chiếm vị trí quan
trọng trong tâm thức các thế hệ người Bến Tre.

Điều này có thể lý giải từ đặc điểm địa lý của vùng đất. Bần là loài cây sống ở vùng nước lợ,
ven các cửa sông. Bến Tre có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển (chiếm 4/9 cửa của sông Cửu Long),
nên vùng nước lợ nhiều, là điều kiện để cây bần phát triển. Cây bần gắn đời sống người dân vùng
sông nước:
- Mồ cha ai đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm
.
- Cây bần soi bóng ghe nghèo
Qua sông gặp gió em chèo dùm anh.
Nếu như hình ảnh "dừa" xuất hiện ở CD-DC Bến Tre theo nghĩa đen thì hình ảnh "bần" ngoài
nghĩa đen còn xuất hiện với nghĩa bóng. "Bần" còn dùng để so sánh trực tiếp hoặc gián tiếp để thể
hiện phẩm chất, tính cách con người:
- Mỹ An bần chát mà chua
Chẳng hay người ấy có chua như bần.
- Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.
Hoặc dựa vào thực tế, bần sống ven sông, trái rụng trôi theo dòng nước khiến ta có thể liên
tưởng thân phận bấp bênh của con người, đặc biệt là người phụ nữ:
-
Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?
"Bần" còn là hình ảnh gợi hứng, đưa đẩy, bắt vần:
- Cây bần gie con đóm đậu một mình…
- Bướm vàng đậu ngọn cây bần…
- Các thứ hoa anh chỉ chuộng hoa bần…
- Bần gie đóm đậu chòm nhom…
- Bần gie đóm đậu sáng trời…
-
Trèo lên chót vót ngọn bần…
CD-DC đất Quảng và DC quan họ Bắc Ninh có nhắc đến hình ảnh cây chanh với nhiều dạng

Hai bài giống nhau về nội dung biểu đạt chỉ khác nhau hình ảnh câu mở đầu. Câu mở đầu cả
hai bài đều là câu đề dẫn, bắt vần. Nhưng việc xuất hiện như thế chứng tỏ hì
nh ảnh "chanh" rất đỗi
quen thuộc với người dân miền Trung, còn với miền Nam nói chung hay Bến Tre nói riêng là hình
ảnh "cam sành". Bởi khi cần bắt vần, đưa đẩy, người lao động mỗi vùng đều nghĩ ngay hình ảnh
cây trái quen thuộc với cuộc sống của mình.
Những loài cây khác như chuối, khổ qua, mù u… đến những loài cây hoang dại như ô rô, cóc
kèn, cỏ chỉ, bìm bìm… cũng ùa vào CD-DC Bến Tre làm những câu hát dân gian trở nên phong
phú, hấp dẫn hơn và chí ít góp phần bày tỏ tâm
tình của người lao động.
Người nông dân thường xuyên tiếp xúc thiên nhiên, đặc biệt là thế giới cây cỏ. Chúng hiện
hữu trong từng bữa ăn hằng ngày cũng như trong sinh hoạt, công việc lao động của họ. Vì thế mà
ở CD-DC Bến Tre luôn có mặt những loài cây thân thuộc và đặc trưng của vùng đất này, đặc biệt
là hình ảnh cây dừa. Đây loài cây không chỉ đi vào thơ ca dân gian mà còn cả thơ ca hiện đại, trở
thành biểu tượng cho vùng đất và con người Bến Tre. Qu
a đó, người đọc cảm nhận tình yêu thiên
nhiên và cả niềm tự hào về vùng đất với bốn mùa cây xanh.
2.1.3. Loài vật
Là vùng đất mới nên dấu ấn thời kì khai phá vẫn còn lưu truyền qua CD-DC Bến Tre. Ở
những câu hát này, người đọc thấy cả hình ảnh của những loài vật vốn là nỗi kinh hoàng cho người
đi khai phá như cọp, sấu, đỉa…

- Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma.
- Đứa nào được Tấn quên Tần
Xuống sông sấu ních, lên rừng cọp tha.
Có những bài ca, người lao động lấy đặc điểm "rất dữ" của cọp (còn gọi là hùm) để so sánh
tính cách con người, ở đây là "má chồng":
- Gió đưa bụi chuối tùm lum
Má dữ như hùm, ai dám làm dâu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status