Bước đầu khảo sát ngôn ngữ giới tính của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo trong mối tương quan địa lý giữa thành thị - nông thôn - Pdf 29

Đại học quốc gia Hà Nội
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
khoa văn học
------
Tiểu Luận
Về một số khái niệm và vùng văn hoá châu thổ bắc bộ
Sinh viên thực hiện : Nhóm 2
Lớp : K49- Văn học
1
Hà Nội, 03 - 2005
Định vị vùng văn hoá
Phần các khái niệm cơ bản, liên quan
A. Các khái niệm định hình vùng.
1. Không gian văn hoá.
Trong các nhân tố thúc đẩy sự phát triển của văn hoá, các điều kiện
tự nhiên và xã hội có tác động trực tiếp và sâu sắc. Các điều kiện này
khác nhau ở các vùng tạo ra sự phát triển văn hoá giữa các vùng có nhiều
điểm không tương đồng và tạo nên một khái niệm đặc trưng cần nghiên
cứu: vùng văn hoá - không gian văn hoá.
Không gian văn hoá là khái niệm liên quan chặt chẽ nhưng không
đồng nhất với khái niệm lãnh thổ. Nó bao quát tất cả những vùng lãnh
thổ mà ở đó dân tộc đã tồn tại qua các thời đại, nghĩa là được xem xét
qua một chiều dài thời gian. Khái niệm không gian văn hoá rộng hơn
khái niệm không gian lãnh thổ.
Như vậy, không gian văn hoá là khái niệm chỉ những vùng lãnh thổ
qua sự tích luỹ của bề dày thời gian lịch sử. Nó thường là khái niệm
mang tính tương đối, không tách bạch như không gian lãnh thổ, thậm chí
không gian văn hoá của hai dân tộc cạnh nhau thường có phần chồng lên
nhau có miền giáp ranh.
Chẳng hạn, không gian văn hoá Việt Nam có liên hệ mật thiết
nhưng không đồng nhất với không gian lãnh thổ. Nó không chỉ giới hạn

do đó “thống nhất lãnh thổ”, “toàn vẹn lãnh thổ” đồng thời mang ý nghĩa
văn hoá. Đây cũng là công việc đất nước ta nỗ lực thực hiện sau ngày
giành độc lập (1975) hoàn toàn trong cả nước.
3
3. Vùng văn hoá.
Khái niệm này đặc trưng cho bản sắc riêng của từng vùng dưới sự
thống nhất do cùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung. Nó làm nên tính đa
dạng cho bức tranh văn hoá dân tộc. Vùng văn hoá do đó chỉ sự khác
nhau của đặc trưng văn hoá tộc người theo không gian địa lí trên một
lãnh thổ. Những nhóm tộc người khác nhau ở những chỗ khác nhau tạo
nên sự phân hoá vùng văn hoá.
Từ xa xưa, ông cha đã ý thức về việc phân biệt văn hoá vùng miền
và ngày càng được chú trọng một cách ý thức trong giới nghiên cứu ngày
nay. Tuy nhiên hiện còn nhiều ý kiến không đồng nhất theo từng khuynh
hướng, từng tác giả.
Trong số này, quan điểm phân chia vùng văn hoá của nhà nghiên
cứu Trần Quốc Vượng có nhiều cơ sở rất hợp lí. Theo đó, về tổng quát
lãnh thổ Việt Nam chia làm 6 vùng văn hoá:
1. Vùng văn hoá Tây Bắc.
Là khu vực bao gồm hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn
sông Hồng (lưu vực sông Đà)k éo dài tới bắc Thanh Nghệ. ở đây có trên
20 tộc người cư trú, trong đó, các tộc Thái, Mường có thể xem là đại
diện. Biểu tượng cho vùng văn hoá này là hệ thống mương phai ngăn
suối dẫn nước vào đồn; là nth trang trí tinh tế trên chiếc khăn piêu Thái,
chiếc cạp váy Mường, bộ trang phục nữ H’mông; là âm nhạc với các loại
nhạc cụ hơi (khèn, sáo...) và những điệu múa xoè.
2. Vùng văn hoá Việt Bắc
Là khu vực bao gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông
Hồng. Cư dân vùng này chủ yếu là người Tày, Nùng với trang phục
tương đối giản dị, với lễ hội lòng tồng (xuống đồng) nổi tiếng; với hệ

(Khmer, Ma, Xtiêng, Chơro. Mnông). Nhà ở có khuynh hướng trải dài
ven kênh, ven lộ; bữa ăn giàu thủy sản; tính cách còn người ưa phóng
khoáng; tín ngưỡng tôn giáo hết sức phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận
và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hoá phương Tây... -
đó chỉ là vài nét phác thảo những đặc trưng văn hoá của vùng này.
5
IV. Tiểu vùng văn hoá.
Trong mỗi một vùng văn hoá, lại có thể chia làm nhiều tiểu vùng
văn hoá.
Khái niệm tiểu vùng văn hoá để chỉ những bộ phận hợp thành vùng
văn hoá. Mỗi tiểu vùng được xác định với những nét đặc thù bị chi phối
bởi không gian địa lí, khí hậu và lịch sử hình thành, phát triển của vùng.
Việc phân loại tiểu vùng văn hoá hoàn toàn không phá vỡ tính
thống nhất của tổng thể một vùng văn hoá.
B. Vùng văn hoá châu thổ Bắc bộ:
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực sông Hồng và
sông Mã, là cái nôi hình thành dân tộc Việt, cũng là nơi sinh ra các nền
văn hoá lớn phát triển nối tiếp nhau như: Văn hoá Đông Sơn, Văn hoá
Đại Việt và văn hoá Việt Nam. Do vậy, văn hoá châu thổ Bắc Bộ vừa có
những nét đặc trưng của văn hoá Việt lại vừa mang những nét riêng đặc
sắc về văn hoá của vùng. ngoài ra văn hoá Bắc Bộ là sự giao hoà giữa
thiên nhiên và con người, phát triển dựa trên sự kế thừa và phát huy bản
sắc dân tộc kết hợp tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá khu vực và
nhân loại. PGS.TS. Ngô Đức Thịnh đã từng nhận xét: “Trong các sắc
thái phong phú và đa dạng của văn hoá Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ như
là một vùng văn hoá độc đáo và đặc sắc”.
6
I. Đặc điểm môi trường tự nhiên, xã hội.
1. Môi trường tự nhiên.
Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực các con sông:

2
, gồm các dòng sông lớn
như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng các mương máng tưới
tiêu dày đặc.
Đất đai trong vùng tương đối màu mỡ, thích hợp cho nền nông
nghiệp lúa nước phát triển. Hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và sông
Mã cùng các nhánh của chúng là nguồn cung cấp nước thường xuyên cho
hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, chế độ nước sông phân hoá theo mùa:
mùa lũ dòng chảy lớn, nước đục, mùa cạn dòng chảy nhỏ, nước trong.
Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư
trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu
vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung của văn minh khu
vực, vừa có cái riêng độc đáo.
2. Môi trường xã hội.
Dựa vào những điều kiện tự nhiên thuận lợi và các thành tựu kinh
tế đạt được, những cư dân vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả -
được gọi chung là cư dân Việt cổ, đã phát huy sức lao động và óc phát
minh sáng tạo của mình để đẩy nhanh sự phát triển của xã hội, vượt qua
những hạn chế của thời nguyên thuỷ, đạt đến thời đại văn minh vào
khoảng các thế kỷ VII - VI trước công nguyên. Tồn tại trong khoảng hơn
5 thế kỷ, nền văn minh đó được mệnh danh là văn minh Văn Lang - Âu
Lạc, tương ứng với 2 quốc gia nối tiếp tồn tại trên đất bắc Việt Nam
đương thời.
Dựa vào các thành tựu của khảo cổ học, nhân học, chúng ta có thể
biết cư dân nguyên thuỷ sống trên các vùng đồng bằng Bắc Việt Nam
đương thời đều thuộc các chủng tộc Nam á (Việt - Mường, Môn -
Khơme), Hán - Thái. Với thời gian, các nhóm tộc người đó ít nhiều hoà
lẫn vào nhau, có tiếng nói gần gũi nhau, pha trộn. Những di chỉ được
8
phát hiện chứng tỏ rằng, bấy giờ các nhóm cùng sống với nhau hoặc

rèn sắt, làm đồ gốm, dệt lụa, đan lát ngày càng toạ ra nhiều sản phẩm
hơn, phcụ vụ tốt hơn nhu cầu con người. Số lượng đồ đồng tăng lên so
với nhiều loại dụng cụ như rìu, mũi giáo, mũi tên, liềm, dao; các nhạc cụ
bằng đồng như chiêng, trống, và tượng đồng, v.v... số lượng đồ gồm
cũng phong phú: bát, đĩa, bình, nồi, võ, chõ v.v...
Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp với sự hỗ trợ đắc lực của
nghề luyện kim đồng thau đã tạo nên cái nền cần thiết và cơ bản cho sự
chuyển biến của xã hội từ trạng thái nguyên thuỷ sang thời đại văn minh.
Tuy nhiên, cũng cần thấy thêm rằng, mặc dầu còn nhiều hạn chế, bấy giờ
đã có sự giao lưu, trao đổi sản phẩm giữa các vùng, nhất là công cụ bằng
đồng, các bát đĩa, bình gốm. Giao lưu là sợi dây nối liền các làng, các
vùng tạo điều kiện cho sự ra đời của các tổ chức chính trị.
Tất cả những đặc điểm trên sẽ góp phần tạo ra những đặc điểm
riêng của vùng văn hoá Bắc Bộ.
II. Đặc điểm văn hoá châu thổ Bắc bộ.
1. Nhà ở.
Văn hoá nhà ở là một đặc trưng trong nền văn hoá Bắc Bộ. Nhà ở
của cư dân Bắc Bộ thường sử dụng các vật liệu nhẹ, bền. Người nông
dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bền
chắc, tó đẹp, tuy nhiên vẫn hoà hợp với cảnh quan, vì đối với họ, ngôi
nhà là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo một cuộc
sống ổn định.
Hình dáng nhà.
Nhà của người dân Bắc Bộ thường có mái cong truyền thống. Sau
này, mái nhà bình thườgn được làm thẳng cho giản tiện, chỉ có những
công trình kiến trúc lớn mới làm mái cong cầu kì. Ngoài ra, các đầu đao
ở bốn góc đình chùa, cung điện cũng được làm cong vút như con thuyền
rẽ sóng lướt tới, tạo nên dáng vẻ thanh thoát đặc biệt và gợi cảm giác
10
bay bổng cho ngôi nhà vốn được trải rộng trên mặt bằng để hoà mình vào

thông, thuận lợi cho đi lại, làm ăn, buôn bán.
Cách thức kiến thúc.
Nhà ở của người Bắc Bộ có đặc điểm là rất đông và linh hoạt,
thường là loại nhà không có chái, hình thức nhà vì kéo phát triển. Bộ
khung của nhà thường được liên kết với nhau theo một không gian ba
chiều: đứng, gnang, dọc. theo chiều đứng, lực dồn vào đá tảng, theo
chiều ngang các cột nối với nhau tạo các vì kèo; theo chiều dọc, các vì
kèo được nối với nhau bằng xà, tạo thành bộ khung. Các chi tiết của ngôi
nhà được ghép với nhau bằng mộng.
Hình thức kiến trúc.
Ngôi nhà Bắc bộ phản ánh truyền thống văn hoá của vùng. Tính
cộng đồng thể hiện ở việc không chia phòng biệt lập. Giữa hai nhà ngăn
bằng rào cây thấp để dễ liên hệ với nhau. Truyền thống thờ cúng tổ tiên
và hiếu khách thể hiện ở bàn thờ ở gian giữa (phía trong là bàn thờ, phía
ngoài là bàn ghế tiếp khác). sau nữa là truyền thống coi trọng bên trái
(phía Đông) với chiếc đòn nóc có đầu gốc ở phía Đông, bếp ở phía
đông,... Trong kiến trúc nhà ở Bắc Bộ, nguyên tắc coi trọng số lẻ cũng
được tôn trọng, thể hiện qua số gian, số cổng, số toà đều là số lẻ (có câu:
Ngọ Môn 5 cửa 9 lầu, Cột cờ 3 cấp). Đây là do quan niệm của người
xưa: lẻ là số dương, dành cho người sống.
2. ẩm thực.
ẩm thực cũng là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoă
Bắc Bộ. Giống như ở mọi vùng miền khác trên đất Việt, cơ cấu bữa ăn
của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền
thống văn hoá nông nghiệp lúa nước, bao gồm có cơm, rau, cá, thịt, cơm
là thức ăn cho cơ thể. Đặc biệt, ở đây các gia vị có tính chất chua, cay,
đắng không được ưa chuộng như ở vùng Trung Bộ vf Nam Bộ. Có người
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status