Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bước đầu khảo sát tình hình viết địa danh nước ngoài trên một số văn bản
tiếng Việt hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Địa danh là một phạm trù lịch sử. Địa danh phản ánh nhiều khía cạnh địa
lý, lịch sử, văn hoá... . Địa danh được xem là những tấm bia lịch sử, văn hoá
bằng ngôn ngữ. Chính vì vậy, để hiểu rõ một vùng đất nào, ta không thể không
quan tâm đến địa danh.
Địa danh, hơn thế nữa còn là sản phẩm của một chế độ chính trị nhất định.
là nơi tàng trữ dấu ấn của việc tiếp xúc ngôn ngữ và văn hoá của các dân tộc.
Địa danh ra đời trong một hoàn cảnh văn hoá nhất định và còn lưu giữ đến trăm,
ngàn năm sau. Do đó, địa danh trở thành “vật hoá thạch”, một di chỉ khảo cổ học
ghi những cái mốc trong dòng thời gian. Cho nên, qua việc nghiên cứu địa danh,
ta sẽ biết phần nào lịch sử, chính trị của một vùng, một nước, lịch sử văn hoá
của các dân tộc sống trên vùng đất ấy. Hơn nữa, địa danh còn thể hiện tâm lý của
những người đã tạo ra địa danh, cũng như lịch sử ngôn ngữ ở các thời đại xa
xưa.
Ở nước ta, trong những năm gần đây đã có nhiều sách nhgiên cứu địa
danh, từ điển địa danh (trong và ngoài nước)đã được công bố. Điều đó cho thấy
nhu cầu rất lớn của xã hội về đề tài này. Tuy nhiên, do sự hiều biết còn rất khác
nhau về địa danh học, lịch sử, ngôn ngữ dẫn đến sự không thống nhất trong cách
viết địa danh (viết hoa, viết thường, viết rời, có gạch nối, không có gạch nối),
cách phiên chuyển địa danh từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt (phiên âm, dịch
nghĩa, giữ nguyên ngữ hoặc phiên chuyển từ nguyên ngữ, qua ngữ trung gian)
“Sự không thống nhất này dẫn đến những khó khăn và trở ngại lớn trong
giao lưu, học tập và thực tế không mấy ai có thể hiều đọc thế nào, viết thế nào
về địa danh cho đúng, cho chuẩn” [4, 40]
Như vậy, vấn đề địa danh, đặc biệt là địa danh nước ngoài trên các văn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bản tiếng Việt (báo chí, sách giáo khoa, bản đồ...) xử lý thế nào cho thống nhất,
lớp 12
c. Bản đồ và Atlas
c1. Bản đồ Quân sự
c2. Bản đồ Dân sự
c3.Atlas
Bước 2.
Tìm hiều về các cách viết địa danh nước ngoài phổ biến từ trước tới nay,
từ đó lấy cơ sở để thống kê các cách viết địa danh trong từng văn bản cụ thể.
Bước 3.
So sánh, đối chiếu cách xử lý địa danh trên các văn bản.Từ đó đánh giá sự
không thống nhất trong cách viết địa danh. Trong đề tài này, chúng tôi chọn cách
ghi địa danh trên Atlas là tài lệu gốc, là cơ sở để tiến hành so sánh.
Bước 4.
Tổng kết và đưa ra kiến nghị chuẩn hoá địa danh trên các văn bản.
4. Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài của chúng tôi gồm bốn chương và
một phụ lục
Chương 1. Lý luận chung
Chuơng 2. Tình hình viết địa danh trên một số văn bản tiếng Việt hiện nay
Chương 3. Đánh giá tình hình địa danh nước ngoài trên các văn bản, giải
pháp và kiến nghị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
LÍ LUẬN CHUNG
1. Các khái niệm
1.1. Địa danh và Địa danh học
1.1.1. Khái niệm địa danh
Có rất nhiều cách khác nhau để định nghĩa địa danh
- Theo Trần Văn Dũng : “Địa danh là tên gọi các đối tượng địa lý, tồn
tại trong vốn từ vựng của ngôn ngữ. Cách hiều này dựa trên cơ sở thuật ngữ
Nhân danh học (Authroponymy) là nghành chuyên nghiên cứu tên riêng
của người gồm (họ, tên, chữ lót, tự hiệu, bút danh, bí danh...)
Địa danh học (toponymy) chuyên nghiên cứu các ý nghĩa, nguồn gốc và
những biến đổi của địa danh, cấu tạo và phương thức đặt tên địa danh
Khoa học nghiên cứu địa danh (Điạ danh học) ra đời từ thế kỷ XIX. Ở các
nước châu Âu ngày nay, bộ môn này rất phát triển. Từ đầu thế kỷ đến nay có
hàng trăm chuyên khảo về địa danh, từ điển địa danh đã ra đời ở Liên Xô (cũ),
Mỹ, Anh, Pháp, Đức...
Ở nước ta, Địa danh học đã có mầm mống từ lâu đời nhưng lại phát triển
rất châm chạp. Các tài liệu có bàn về địa danh học phải kể đến “ Dư địa chí” của
Nguyễn Trãi thế kỷ XV năm 1435, Đến thế kỷ XIX có “ Lịch triều hiến chương
loại chí” của Phan Huy Chú (1821), và tới đầu thế kỷ XX, một số tác phẩm bắt
đầu đi sâu và có tính chất chuyên nghành hơn. Ví dụ “ Vũ trung tuỳ bút” của
Phạm Đình Hổ, “ Phương Đình- Dư địa chí” của Nguyễn Siêu (1900), “ Sử học
bị khảo , địa lý thượng hạ” của Đặng Xuân Bảng....
Đến cuối thế kỷ XX, địa danh học nước ta đã phát triển hơn lên trên cơ sở
tiếng Việt hiện đại. Trong giai đoạn này, có rất nhiều chuyên khảo đi sâu vào
việc nghiên cứu địa danh như: “ Việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc”, “
Nước Văn Lang qua các tài liệu ngôn ngữ”(1969), “ Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ
đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” của GS Hoàng Thị Châu, “ Phương
pháp vận dụng địa danh học trong việc nghiên cứu địa danh học, lịch sử cổ đại
Việt Nam” của Đinh Văn Nhật, “ Thử bàn về địa danh Việt Nam” của Trần
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thanh Tâm, “ Địa danh Việt Nam” của Nguyễn Văn Âu, “ Địa danh thành phố
Hồ Chí Minh” của Lê Trung Hoa.... các tác giả với những chuyên khảo của
mình về địa danh đã tạo một cơ sở lý luận nhất định cho việc nghiên cứu địa
danh Việt Nam.
Bên cạnh địa danh Việt Nam, địa danh nước ngoài cũng được giới khoa
học rất quan tâm, xem xét nó trong tổng thể là tên riêng nước ngoài, có rất
nhiều cuốn sách, từ điển, bài viết bàn về tên riêng, địa danh nước ngoài, cách
về lịch sử, ngôn ngữ, địa lý, tổ chức hành chính, lãnh thổ.
1.3. Mối quan hệ giữa địa danh và ngôn ngữ
Địa danh là đối tượng nghiên cứu của địa danh học, một bộ phận của khoa
ngôn ngữ học.
Địa danh là một bộ phận của từ vựng, có số lượng khá lớn, có nguồn gốc
và ý nghĩa riêng. Địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm nên địa danh
là tư liệu nghiên cứu của ngữ âm học. Địa danh là những danh từ, danh ngữ...
tuân theo những phương thức cấu tạo từ, ngữ của một ngôn ngữ nên địa danh
cũng là tài liệu khảo cứu của ngữ pháp học. Địa danh còn là sản phẩm do người
bản địa tạo ra, gắn chặt với phương ngữ ở một địa phương nhất định nên địa
danh nằm trong tư liệu nghiên cứu của phương ngữ học. Địa danh ra đời trong
một thời đại nhất định nên nó cũng là tài liệu của nghành ngôn ngữ học lịch sử.
1.4. Các c¸ch phân loại địa danh
a. Theo Nguyễn Văn Âu, địa danh có thể được chia làm 8 loại [1]
- Địa danh sông ngòi
- Địa danh hồ đầm
- Địa danh đồi núi
- Địa danh hải đảo
- Địa danh làng, xã
- Địa danh huyện, quận
- Địa danh tỉnh, thành phố
- Địa danh quốc gia
b. Lê Trung Hoa chia địa danh thành 4 loại [13]
- Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Địa danh hành chính
- Địa danh vùng
- Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều
( cầu đường, công viên, sân vận động)
c.Theo chúng tôi, có thể chia địa danh thành hai loại như sau:
2.2. Sỏch giỏo khoa
Bao gm sỏch a lý v sỏch lch s (k c sỏch bi tp)
a. Đa lý lp 7
Nxb HSP, H Ni , 2004, 70 a danh
b. Lch s v bi tp lch s lp 8
Nxb HSP, H Ni , 2004, 136 a danh
c. Lch s lp 9
Nxb GD, H Ni, 2003, 153 a danh
d. a lý v lch s lp 11
Nxb GD, H Ni, 2003, 160 a danh
e. Lch s lp 12
Nxb GD, H Ni, 2003, 223 a danh
Tng s a danh m chỳng tụi thng kờ c õy s khụng trựng vi
tng s a danh ca sỏch giỏo khoa ct ph lc. Bi vỡ, ph lc chỳng tụi
khụng cú iu kin th hin c tỡnh hỡnh a danh c th tng loi sỏch
giỏo khoa, vỡ vy, nhng a danh cú cỏch vit nh nhau, vớ d: M , Anh... ch
c vit mt ln. Cỏc cỏch vit c th ca tng loi sỏch c chỳng tụi sp
xp trỡnh by chng 2
2.3. Bản đồ và Atlas
a. Bản đồ Quân sự
Tỷ lệ: 1/ 20.000.000, Nxb Đà Lạt, 1995, 430 địa danh
b. Bản đồ Dân sự
Tỷ lệ: 1/ 20.000.000, 2001, 356 địa danh
c. Atlas
Atlas by England, 1998 (tái bản), 376 địa danh
3. Vi nột v cỏc cỏch vit a danh nc ngoi
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.1. Các cách viết địa danh nước ngoài từ trước tới nay
a. Như trên đã nói, tên riêng nước ngoài nói chung và địa danh nước
ngoài nói riêng là một vấn đề được nhiều nghành khoa học quan tâm trong đó có
ra cách phát âm của một từ hoặc một âm nào đó bằng chữ hoặc những ký hiệu
riêng. Mục đích của phiên âm là phản ánh mặt âm thanh của ngôn ngữ”.
Hay nói cách khác: “phiên âm là cách ghi lại cách phát âm của ngoại ngữ
bằng hệ thống chữ cái của bản ngữ”
3.2.1.1. Phiên âm trực tiếp (phiên âm từ ngôn ngữ gốc)
Đây là phương pháp dựa vào cách đọc trong nguyên ngữ, dùng chữ viết
của ngôn ngữ nước mình để phản ánh lại âm trong nguyên ngữ. (phiên âm theo
ngôn ngữ gốc là phiên ngôn ngữ nước nào thì dựa vào cách đọc của ngôn ngữ
nước đó). [10, 73]
Ví dụ: MOKBA--> MAXCƠVA
Những người chủ trương phiên âm đã đưa ra những lập luận về ưu điểm
của phương pháp này như sau:
- Phiên âm có thể phản ánh gần đúng cách đọc trong nguyên ngữ. Do đó,
giúp cho người ta có thể nhận biết chính xác các tên riêng, đáp ứng cả cách đọc,
nói và viết.
- Cách phiên này có thể áp dụng với nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Nếu
như trước đây chúng ta mới biết chủ yếu các thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga thì bây
giờ tình hình lại rất thuận lợi: hiện nay nước ta dặt quan hệ ngoại giao với nhiều
nước trên thế giới. Do đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ của những nước này, tuy có
khó khăn nhưng không phải là điều không làm được.
- “Phương pháp phiên âm theo ngôn ngữ gốc dựa vào cách đọc để phiên
có thể áp dụng cho tất cả các ngôn ngữ khác loại hình: Hán, Tạng, Pali, Aráp...
kể cả các dân tộc chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết. Phương pháp phiên âm
này dựa vào hệ thống âm vị và các qui luật kết hợp âm vị của ngôn ngữ phiên
(tiếng Việt) nên người Việt có thể đọc được, viết được và nhớ được một cách dễ
dàng” [17, 71]
-“Phiên âm dễ dàng và đơn giản cho quảng đại quần chúng có thể viết và
đọc được. Do đó, việc giao tiếp ngôn ngữ tốt hơn, sự cảm nhận thông tin được
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nâng cao, giữ gìn được bản sắc tiếng Việt, các qui tắc tiếng Việt, đúng chính tả
Vì những khó khăn như thế khi phiên âm âm vị hoc. Nên trong hai cách
phiên âm này người ta thường dùng phiên âm ngữ âm học. Khó khăn của
nguyên tắc này là ở chỗ mọi biến thể âm vị phải được chuyển thành một ký hiệu
riêng. Do đó, ký hiệu phiên âm phải nhiều hơn
3.2.1.2. Phiên âm gián tiếp (phiên âm qua ngôn ngữ trung gian)
Cách phiên này áp dụng phổ biến trên sách báo trong suốt một thời gian
dài. Chủ yếu là phiên qua tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) kết quả là sự ra đời
của hàng loạt các địa danh trở nên quen thuộc với người Việt: Pháp, Anh, Đức,
Ý, Nhật, La Mã...
Những địa danh này so với cách phiên trực tiếp thì ngắn gọn, dễ đọc và dễ
nhớ. Mặt khác, chúng gần gũi với các tên riêng tiếng Việt nên dễ trở thành quen
thuộc với nhân dân. Đây là điều lý giải tại sao nhân dân ta hay dùng cách phiên
âm này.
Phiên âm qua Hán Việt có nhiều nhược điểm. Nhược điểm chủ yếu của
cách phiên này là tên phiên khác xa với tên gốc cả về cách đọc lẫn cách viết, nó
làm cho người đọc khó nhận ra tên gốc. Cách phiên này từ trước tới nay được áp
dụng nhiều là vì trước kia do ảnh hưởng của tiếng Hán đến nước ta rất nặng nề,
hơn nữa do chỗ người ta không biết ngôn ngữ gốc nên phải phiên âm qua ngôn
ngữ trung gian.
Ngày nay, rất nhiều ngôn ngữ đã được đổi lại theo cách phiên âm trực tiếp
từ ngôn ngữ gốc.
Ôxtrâylia thay cho Úc và Úc đại lợi
Italia thay cho Ý và Ý đại lợi....
Về vấn đề này, cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng không
nên thay đổi lại vì như thế sẽ gây trở ngại cho nhân dân. Họ nhấn mạnh tới tính
giản tiện và quen dùng.
“Đối với những tên đã thông dụng, không nên thay đổi lại vì hai lý do:
hoặc để tránh khỏi bắt dân mình phải mất thì giờ học lại những tên mới xa lạ,
hoặc để tránh luôn cho người nước ngoài phải học lại một lần nữa cách dân
mình phiên âm tên những từ thuộc nước họ” [19, 102]
hai ngụn ng khụng cú nhng ch cỏi tng ng, ngi ta phi tỡm nhng õm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
gần gũi nhau để tìm cách đối chiếu cho phù hợp. Cho nên, giữa chuyển chữ và
phiên âm vẫn có liên hệ với nhau, tuy rằng chúng khác hẳn nhau”. [17, 77]
Chuyển tự có ưu điểm là: có khả năng loại trừ những quan hệ phức tạp
giữa các cách viết và cách đọc của hai ngôn ngữ, có thể gảm bớt khả năng một
tên có nhiều cách phiên.
Chuyển tự có những thuận lợi nhất định nhưng cũng có nhiều khó khăn:
- Giữa hai ngôn ngữ không phải bao giờ cũng có tương ứng về hệ thống
chũ cái, trong những trường hợp đó người ta phải căn cứ vào âm để tìm những
con chữ thích hợp, có âm gần gũi.
- Phương pháp chuyển tự áp dụng khó khăn đối với các ngôn ngữ khác
loại hình. Mặt khác, chuyển tự căn cứ vào chữ viết nhưng không phải tất cả các
ngôn ngữ trên thế giới đều có chữ viết bằng chũ cái.
- Đối với những ngôn ngữ được cấu tạo theo nguyên tắc ghi ý, tượng
hình, ví dụ : Trung Quốc... Phương pháp này không áp dụng được (hơn nữa
người Trung Quốc cũng phải chuyển chữ của họ ra Latin hoá).
- Tiếng Việt của chúng ta tuy cùng một bộ chữ cái Latin như một số nước
khác nhưng chữ viết của ta có nhiều dấu phụ (các dấu thanh và các dấu mũ ....)
Mặt khác, từ trong tiếng Việt tuy có những từ đa tiết nhưng không giống
với các từ trong các ngôn ngữ khác có những từ rất dài
Tâm lý nhân dân ta ưa ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ. Tên riêng nước ngoài
phải ngắn gọn thì mới đáp ứng được yêu cầu đó.
Qua những phân tích trên, chúng ta thấy rằng chuyển tự có những ưu
điểm nhất định, nhưng nếu áp dụng cho cách viết địa danh nước ngoài là chưa
thoả đáng. “Chuyển tự chỉ có thể dùng trong các chuyên san hẹp, trong các thư
mục nghiên cứu, các thư viện... để có thể tiện cho việc tra cứu. còn để phục vụ
cho nhu cầu của đông đảo quần chúng thì phương pháp này không thể coi là phổ
thông được” [10]
3.2.3. Dịch nghĩa
Tuy nhiên, cũng có một số người băn khoăn sợ theo nguyên dạng thì quần
chúng sẽ không đọc được do chưa biết ngoại ngữ, mà không đọc được thì cũng
rất khó nhớ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sở dĩ có các khó khăn “khó đọc, khó nhớ” là do bản thân tên riêng nước
ngoài nó như vậy. Nhưng người ta vẫn tôn trọng cái dạng trong ngôn ngữ của
những tên riêng, địa danh ấy, không tuỳ tiện sửa đổi, bởi vì người ta đã có kinh
nghiệm rằng: đây là khó khăn không thể tránh được, lẩn tránh nó bằng những
cách viết khác thì sẽ đẻ ra những khó khăn lớn hơn nhiều.
Lại có ý kiến cho rằng: chấp nhận giải pháp nguyên dạng đối với tên
riêng, địa danh nước ngoài sẽ tạo lên một bức tranh lổn nhổn tiếng nước ngoài.
Nhưng nếu không chấp nhận nguyên dạng mà theo phiên âm thì tình hình còn có
vẻ hỗn loạn hơn khi cùng một tên mà mà có tới quá nhiều cách viết khác nhau.
Thậm chí, khi chúng ta bắt gặp các cách viết ấy thì thấy rất băn khoăn vì không
biết đó là một hay nhiều địa danh.
Tóm lại, theo chúng tôi cách viết địa danh nước ngoài theo nguyên dạng
là giải pháp khoa học nhất và cần được thực hiện theo từng trình tự nhất định tuỳ
theo từng đối tượng cụ thể. Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày ở chương 3 giải
pháp và kiến nghị
4. Cơ sở ngôn ngữ của việc viết tên riêng và địa danh nước ngoài
- Ngôn ngữ có hai hình thức: nói và viết. Nói bao giờ cũng là chủ
yếu , song từ khi có chữ viết, dần dà chữ viết không chỉ làm chức năng đại
diện cho vỏ âm thanh mà còn tiến xa hơn: làm ký hiệu trực tiếp. Ban đầu, chữ
viết phải qua kênh mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe rồi mới đến óc tiếp nhận. Trình
độ văn hoá của con người ngày càng nâng cao, ký hiệu sử dụng ngày càng nhiều
thì con đường đi từ ký hiệu vào óc càng ngắn đi. Ngày nay, thường là: ký hiệu -
mắt nhìn - óc nhận. Đơn vị ngôn ngữ nói chung là các ký hiệu đặc biệt.
- Địa danh nước ngoài tồn tại với tư cách là một bộ phận của tên riêng
nước ngoài. “Tên riêng, tuy là những đơn vị ngôn ngữ nhưng do chúng là những
ký hiệu đơn giản 1- 1 nên chúng lại có những tính chất của những ký hiệu
trong bản thân người Mĩ đã có tới ít nhất bốn cách phát âm khác nhau. (các từ
điển Mĩ thường chú ba hoặc bốn cách phát âm, mà không ghi chú cách phát âm
nào là chuẩn, tạm phiên là “loxanjơlax”, “loxanjơlet”, “lôxangơlơx”,
“loxanggơliz” và không ai tính được thực tế trên thế giới còn bao nhiêu cách
phát âm khác nữa (một số từ điển Anh, Pháp chú âm: “loxanjiliz”,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
“loxanghiliz”.... phát âm có thể khác nhau, thậm chí khác nhau khá nhiều nhưng
chính tả chỉ là một”.[22, 13- 14]
Như thế, có nghĩa là khi chúng ta làm việc với địa danh nước ngoài cần
chú ý đến chữ viết sau đó mới đến phát âm.
CHƯƠNG II
Website: Email : Tel : 0918.775.368
TÌNH HÌNH VIẾT ĐỊA DANH NƯỚC NGOÀI TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN
TIẾNG VIỆT HIỆN NAY
1. Báo chí
Báo chí là một hình thái ý thức xã hội , lấy hiện thực khách quan làm đối
tượng phản ánh. Thông tin trong báo chí luôn mang tính thời sự. Vì vậy, trong
từng thời điểm cụ thể ta có thể bắt gặp sự xuất hiện liên tục và đều đặn của một
số địa danh trên tất cả các báo. Đây cũng chính là điểm đặc biệt để chúng ta dễ
dàng nhận ra tình trạng xử lý địa danh không nhất quán trên các báo.
Báo chí là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân
dân. Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của nhà nước, của các tổ chức chính trị
xã hội, vừa là diễn đàn của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Báo chí thông
tin, tham gia phát hiện và giải thích những vấn đề nóng hổi của xã hội, làm như
vậy là báo chí thực hiện chức năng tuyên truyền cổ động và tổ chức tập thể của
mình.
Chúng ta nhận thức được vai trò như thế của báo chí trong đời sống, đồng
thời cũng nhằm xác định nhiệm vụ của báo chí trong công cuộc định hướng xã
hội, chuẩn hoá ngôn ngữ trong đó có chuẩn hoá địa danh nước ngoài.
Đây chính là nhiệm vụ to lớn đặt ra cho báo chí nước ta vì tình hình địa
Dim- ba- bu- ê
Dim- ba- buê
Sở dĩ có cách viết này là vì địa danh nước ngoài khi phiên đều có số
lượng âm tiết rất lớn 3- 4 âm tiết. Số lượng âm tiết hơi lớn so với thông thường
như thế làm cho người Việt cảm thấy khó khăn khi ban đầu tiếp xúc với địa danh
nước ngoài, để dễ dàng hơn họ lựa chọ giải pháp viết rời có gạch nối
- Viết hoa các chữ cái đầu âm tiết
Ví dụ: A- déc- bai- gian
Ai- đa- hô
Ban- khát
Bai- rơn...
Việc xây dựng qui tắc viết hoa đã được nhiều người lưu tâm, bàn luận từ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lâu.
Theo Nguyễn Văn Thạc: “Chữ hoa biều thị sự bắt đầu của một câu, có tác
dụng phân đoạn về mặt cú pháp. Về mặt này nó thường được kết hợp với các
dấu biểu thị sự kết thúc của câu như dấu chấm, dấu hỏi chấm, dấu than, dấu
chấm lửng.[25, 45]
Khi chữ hoa được dùng để viết những đơn vị không phải tên riêng, danh
từ riêng thì nó có tác dụng biểu thị sự tôn kính, trân trọng như Chủ tịch nước
CHXHCNVN, Tổng bí thư BCHTWĐ
Chữ hoa còn chủ yếu được dùng vào việc phân đoạn các đơn vị từ vựng,
các tiếng hoặc các từ, các cụm từ được gọi là tên riêng. Các đơn vị tên riêng ấy
cũng rất đa dạng, phức tạp về danh giới, nguồn gốc, cấu tạo, hoạt động chức
năng, tạo nên bức tranh nhiều màu, nhiều vẻ về mặt từ vựng học của vấn đề.
Cũng có thể nói đến mặt tác dụng thẩm mỹ của chữ hoa như một hình
thức mỹ thuật của văn tự, thường được dùng vào việc trang trí, trình bày. Nhưng
đó là mặt tác dụng không thuộc về ngôn ngữ học”… [25, 45- 46]
“Tên địa lý, (địa danh) do mỗi yếu tố cấu tạo của nó không có ý nghĩa
định danh biệt lập. Cho nên cách viết hoa địa danh cũng phải dựa trên qui tắc
.... “hội nghị và triển lãm nhân “tuần lễ xanh” 2005 diễn ra từ ngày 31. 5
đến 3. 6 tại Brúc- xen....”
(ND, ngày 04. 02. 2005, tr8)
... “ngày 6. 2 nhóm tìm kiếm hỗn hợp gồm cảnh sát Áp- ga- ni- xtan và
lực lượng An ninh quốc tế (ISF) tại Áp- ga- ni- xtan đã tìm thấy xác chiếc máy
bay Bô- inh 3747...”
(ND, ngày 07. 02. 2005, tr8)
... “đã có ba nước thành viên EU phê chuẩn bản hiến pháp trên thông qua
con đường quốc hội là Hung – ga- ri , Lít- va và Xlô- vê- ni- a...”
(ND, ngày 22. 02. 2005, tr8)
“Vê- nê- xu- ê- la và Cô- lôm –bi- a thông báo sẽ nối lại tất cả các dự án
hợp tác kinh tế và thương mại song phương bị gián đoạn từ cuộc khủng hoảng
ngoại giao hồi tháng 1 do Cô- lôm – bi- a bắt giữ một thủ lĩnh quân nổi dậy
nước này tại thủ đô Ca- ra- cát”
Website: Email : Tel : 0918.775.368
(ND, ngày 22. 02. 2005, tr8)
“Tại thủ đô Ma- pu- tô (Mô- dăm- bích), tổng thống đắc cử nước này
tuyên thệ nhậm chức....”
(ND, ngày 04. 02. 2005, tr8)
1.1.2. Phiên âm gián tiếp
Chủ yếu phiên theo tiếng Hán và cách đọc Hán Việt
“Ngày 17. 2 tại Hà Nội, ngài Ha- tô- ri, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam và
GS Nguyễn Trọng Nhân, chủ tịch hội Nhãn Khoa Việt Nam cùng ký kết “Dự án
nâng cao kỹ thuật điều trị nhãn khoa của Việt Nam...”
(ND, ngày 19. 02. 2005, tr8)
“Khai mạc hội nghị cấp cao cộng đồng các nước có sử dụng tiếng
Pháp...”
(ND, ngày 27. 11. 2004, tr8)
“CHDCND Triều Tiên đình chỉ tham gia đàm phán sáu bên”
(ND, ngày 11.02.2005, tr8)
cách: Dịch nghĩa, phiên âm gián tiếp qua Hán Việt.
Tình hình cụ thể như sau:
BẢNG 1
STT Các cách viết
Tần số xuất
hiện (lần)
Tổng số địa
danh
Tû lệ
(%)
1
Phiên âm trực tiếp và
viết rời có gạch nối
742 797 93,2
2 Phiên âm gián tiếp 52 797 6,3
3 Dịch nghĩa 4 797 0,5
1.2. Báo An ninh thế giới
1.2.1. Sử dụng cách viết nguyên dạng địa danh
“ANDERSON HOUSE hay ngôi nhà mèo, cách Meniapolis về phía đông
nam 75 dặm, bên bờ sông Mississippi được xây dựng vào năm 1856”
(Antg, số 264, ngày 24. 01. 2002, tr32)
“Cứ mỗi học kỳ, 56 sinh viên đang theo học khoa quản trị kinh doanh của