BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
===========
ĐỂ CƯƠNG
Kh¶o s¸t t×nh h×nh nhiÔm vi nÊm
Malassezia.spp
ë mét sè bÖnh da thêng gÆp t¹i bÖnh viÖn Da liÔu TW
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Xuân
Thư ký đề tài: Trần Cẩm Vân
Nhóm thực hiện: Th.s Trần Mẫn Chu
Th.s Nguyễn Minh Thu
Cố vấn chuyên môn: PGS.TS. Trần Hậu Khang
PGS.TS. Trần Lan Anh
HÀ NỘI - 2012
1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BN : Bệnh nhân
HIV/AIDS : Human Immuno Deficiency virus/Acquired Immuno
Deficiency Syndrom
ICD : Internationnal Classification of Diseases
LB : Lang ben
M. dermatitis : Malassezia dermatitis
M. furfur : Malassezia furfur
M. globosa : Malassezia globosa
M. obtusa : Malassezia obtusa
M.pachydermatis : Malassezia pachydermatis
M.sympodialis : Malassezia sympodialis
Malassezia. Spp : Malassezia species plus
P. orbiculair : Pityrosporum orbiculair
ngoài da chiếm tỷ lệ khá cao. Malassezia có rất nhiều loài, mỗi loài có độc
tính khác nhau nên khả năng gây bệnh khác nhau vì vậy lâm sàng cũng rất đa
dạng. Bệnh biểu hiện các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu như: Ngứa, đỏ
da, bong vẩy,…Thương tổn có thể gặp bất kỳ vùng nào trên cơ thể nhưng
3
thông thường khu trú vùng tiết nhiều bã nhờn như: da đầu, lưng, ngực, mặt.
Ngoài ra, có thể gặp ở nếp kẽ, nang lông, vùng móng…thậm chí vi nấm xâm
nhập các cơ quan, bộ phận gây nhiễm nấm nội tạng, nhiễm nấm huyết…
Nhiều khi Malassezia.ssp là căn nguyên gây bệnh, nhưng đôi khi chỉ phối hợp
làm nặng thêm tình trạng bệnh. Do đó, những trường hợp điển hình thường
thuận lợi cho chẩn đoán. Còn những trường hợp không điển hình, nếu thiếu
điều kiện xét nghiệm dễ dẫn đến chẩn đoán nhầm hoặc bỏ qua. Bệnh da do
nhiễm Malassezia.spp không tử vong, nhưng gây nhiều phiền toái ảnh hưởng
đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, đặc biệt nếu không điều trị đúng và
kịp thời sẽ diễn biến dai dẳng, tiến triển nặng nề. Ở Việt Nam còn rất ít
nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về đặc tính vi nấm, đặc điểm lâm sàng các
bệnh biểu hiện ngoài da do nấm Malassezia.spp gây nên. Chính vì lý do trên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với hai mục tiêu:
1. Khảo sát tình hình nhiễm nấm Malassezia spp ở bệnh lang ben,
viêm da dầu và viêm da cơ địa tại Bệnh viện Da liễu TW năm 2012.
2. Đánh giá mức độ nhiễm Malassezia spp ở một số bệnh da bằng kỹ
thuật KOH kết hợp Parker ink.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử vi nấm Malassezia
Bệnh nấm da nói chung mô tả rất sớm trong lịch sử loài người. Năm
1800, Gruby đã nuôi cấy nấm gây bệnh thực nghiệm trên vùng da ẩm ướt.
Năm 1910, Sabouraud là người đầu tiên đưa ra bảng định danh các loài nấm,
đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị bệnh nấm. Với công sức này ông
cũng như làm xét nghiệm tìm nấm rất đông và đa dạng. Trong đó, vi nấm
Malassezia.spp bội nhiễm trên một số bệnh da thông thường chiếm tỷ lệ khá
cao. Theo ICD những bệnh da thông thường gồm rất nhiều bệnh nhưng trong
khuân khổ nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập những bệnh da thường gặp
liên quan đến Malassezia.spp như: Lang ben, viêm da dầu, viêm da cơ địa.
1.2. Đặc điểm Malassezia.spp
Trước đây, Malassezia được biết đến như một vi nấm men thuộc hệ vi sinh
vật bình thường trên da người và cả ở động vật. Và bấy lâu nay người ta vẫn
cho rằng Malassezia không phải tác nhân gây bệnh cho dù là căn nguyên tiên
phát hay bội nhiễm thứ phá bởi con người đã cố chứng minh rằng họ vẫn
thích nghi và kiểm soát được loài vi nấm ký sinh này.
Nhưng vài thập kỷ gần đây rất nhiều nghiên cứu khác nhau ở nhiều nơi
trên thế giới đã cho biết vi nấm này được chú ý rất nhiều trong cơ chế bệnh
sinh của một số bệnh da thường gặp như: Viêm da cơ địa, viêm da dầu, gầu
da đầu [19], [20], [22], [23]
6
Malassezia là nấm men ưa lipid, đa phần các loài gây bệnh cho người
như: M.globosa, M. furfur, M. dermatits, M.sympothealis Chúng thường
biểu hiện ở mọi lúa tuổi và trong rất nhiều bệnh lý với nhiều vị trí khác nhau
nhưng chủ yếu là độ tuổi thanh niên có liên quan vùng da mỡ. Ngoài ra, một
số loài khác gây bệnh móng và cơ quan, hệ thống. Bên cạnh đó, một số loài
gây bệnh động vật như: M.pachydermatis. Nhưng đôi khi cũng gây bệnh cho
người trong một số trường hơp suy giảm miễn dịch , có thể biểu hiện tình
trạng bệnh cảnh lâm sàng nặng nề, nguy kịch.
Malassezia spp có cấu tạo đơn bào và sinh sản hình thức nảy chồi. Tuy
nhiên, một số loài có cấu tạo đa bào như: M.globosa, loài này có phương thức
sinh sản hữu tính tức do đó chúng thích nghi, sinh sản và phát triển hàng loạt.
Đồng thời di truyền những đặc tính về khả năng thích nghi và đề kháng với
những yếu tố có tính chất đào thải nấm trong chính mỗi cá thể hoặc từ môi
trường tự nhiên qua nhiều thế hệ. Do đó, loài M.globosa mang tính chọn lọc
è
Thủy phân
axit béo trung tính
è
axit béo tự do
è
phản ứng trung gian tế bào
è
kích
hoạt con đường gây viêm [18]
- Khả năng né tránh và chống lại quá trình thực bào do:
+ Lớp lipid dày bao quanh tế bào nấm
+ Tính đa kháng nguyên và thay đổi thành phần tế bào.
1.4. Một số yếu tố thuận lợi
Bệnh do nấm Malassezia thường có nguồn gốc nội sinh do các loài
Malassezia phát triển quá mức gây bệnh, đặc biệt khi có điều kiện thuận lợi
[27],[28],[29],[15]
8
Các yếu tố thuận lợi hay gặp là:
* Yếu tố bên trong:
- Sinh lý: phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh
- Bệnh lý toàn thân: Nhiễm trùng cấp và mạn tính, bệnh chuyển hóa, béo
phì…Các bệnh lý như bỏng, ung thư, Hodking, nhiễm HIV/AIDS…
- Bệnh lý tại chỗ làm thay đổi tính chất da: VDCD, VDD, Bạch biến…
- Sử dụng hóa chất: Dùng kháng sinh phổ rộng, kéo dài làm thay đổi sự
cân bằng vi hệ…
* Yếu tố bên ngoài:
- Người già sức đề kháng suy giảm
- Loét do bỏng
- Điều kiện vệ sinh kém, không ý thức bệnh tật hoặc thiếu kiến thức
nhân của hầu hết các trường hợp của gàu. Nhiều nghiên cứu chứng minh
gầu da đầu không chỉ ảnh hưởng tới người bệnh ở góc độ bệnh lý như bong
vẩy gầu nhiều, ngứa ngáy, khó chịu mà còn ảnh hưởng tâm lý, không tự tin
trong giao tiếp sinh hoạt, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. [20]
Viêm da cơ địa là bệnh mạn tính có liên quan yếu tố di truyền. Thông
thường điều trị bằng corticoid, điều biến miễn dịch và dưỡng ẩm nhiều khi
không đáp ứng. Đặc biệt khi tình trạng da khô và chức năng da suy yếu là
điều kiện thuận lợi kích hoạt quá trình dị ứng bởi các vi sinh vật, bọ ve, bụi
nhà…Trong đó, phải kể đến vai trò vi sinh vật gây bệnh là một yếu tố quan
trọng làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh.
10
Một nghiên cứu chỉ ra rằng có hơn 90% VDCĐ vùng đầu và cổ có hàm
là lượng kháng thể IgE trong huyết thanh kháng lại kháng nguyên của
Malassezia. Trong đó có khoảng 83% VDCĐ ở người lớn liên quan đến
Malassezia [22]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chính việc lạm dụng thuốc điều
trị taị chỗ Corticoit cũng như các chất dưỡng ẩm và kết hợp một số yếu tố
liên quan khác đã vô hình chung tạo môi trường thuận lợi cho sự gia tăng số
lượng cũng như sự sinh sản và phát triển của vi nấm Malassezia.
Một báo cáo năm 2008 tại Trung Quốc cho thấy có khoảng 1,5% các
bệnh nhân Da liễu đã được chẩn đoán viêm nang lông do vi nấm Malassezia.
Trong số đó, hầu hết họ đều là nam giới khỏe mạnh và đang ở độ tuổi trung
niên [36]. Một nghiên cứu khác ở Philippines cho biết có khoảng 16% bệnh
nhân viêm nang lông do Malassezia trong tổng số bệnh lý nang lông [37].
Từ tháng 7 năm 1996 đến tháng 12 năm 1999, một nghiên cứu trên 588
bệnh nhân có thương tổn móng tay với chẩn đoán nấm móng tại các Phòng
khám Da liễu và vi khuẩn học EPM \ UNIFESP, Brazil. Cùng thời gian đó ở
Chile, V.Silva cũng có báo cáo về các trường hợp nhiễm nấm móng do
Malassezia spp. Bên cạnh đó, bằng các xét nghiệm soi tươi, nuôi cấy định loại
và sinh học phân tử, một số nghiên cứu đã khẳng định M.furfur là căn nguyên
gây nấm móng [26],[38],[39].
sừng, gây ra bởi một nhóm nấm men trước đây có tên là Pityrosporium, nay
thống nhất dưới tên gọi là Malassezia.spp.
Bệnh gặp bất kỳ tuổi nào nhưng thông thường từ 20 – 45 tuổi, còn trẻ
em và người già ít bị. Có một số quan điểm khác nhau về bệnh lang ben có
12
lây hay không? Theo Eduado Silva bình thường bệnh không lây vì nó thuộc vi
hệ. Nhưng dưới ảnh hưởng một số yếu tố thuận lợi: khí hậu nóng ẩm, tính
chất da thay đổi, sức đề kháng suy giảm…tạo điều kiện vi nấm tăng sinh và
gây bệnh [43]. Nhưng Jose Latoni thì cho rằng bệnh có thể lây do dùng chung
ga giường, quần áo.
● Chẩn đoán của lang ben nói chung là đơn giản
- Triệu chứng lâm sàng điển hình: Đó là đám màu hồng nâu, hình tròn,
ranh giới rõ, đôi khi là những đám thuơng tổn mất sắc tố. Thường khu trú
vùng cổ, ngực, lưng, vai, cánh tay. Hiếm khi ở cẳng tay, chân cũng như lòng
bàn tay và bàn chân [44].
- Xét nghiệm: Kết quả soi trực tiếp cho hình ảnh điển hình sợi và tế bào
nấm men hay gọi là “mì ống và thịt viên”. Ngoài ra, còn quan sát tế bào nấm
men đứng đám hoặc rải rác. Năm 2000, F.Sanchez F nhận ra rằng căn nguyên
gây lang ben là M.globosa [45]. Trong đó, M.globosa chiếm khoảng 53,3%,
tiếp theo M. furfur 25,3%, M. sympodialis 9,3% Bên cạnh đó, Gupta et al
cũng tìm thấy M. sympodialis là tác nhân chủ yếu trong lang ben đối với vùng
khí hậu ôn đới, còn M. globosa là tác nhân chính ở các vùng nhiệt đới. Khi
tiến hành phân tích bộ gen của Malassezia đã khẳng định: M. globosa là loài
gây bệnh phổ biến nhất trong bệnh lang ben [22]
1.6.2.Viêm da dầu
Viêm da dầu (Seborrheic Dermatitis - SD) là bệnh da mạn tính thường
gặp. Bệnh chủ yếu ở trẻ sơ sinh, tuổi dậy thì và độ tuổi ngoài 50, nam gặp
nhiều hơn nữ [42]. Tác nhân gây bệnh viêm da dầu còn đang tiếp tục được
làm rõ, tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy viêm da dầu thường xảy ra trên
cơ địa những người tăng tiết chất nhờn kết hợp nhiễm nấm Malassezia ssp
xét nghiệm tìm nấm. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng M.
furfur là loài gây bệnh chính. Tuy nhiên, gần đây người ta đã khẳng định vai
trò chủ yếu do loài M. restricta, kế đến M.globosa, sau đó mới đến các loài
khác trong đó có M.furfur [45], [42].
1.6.3. Viêm da cơ địa
Viêm da cơ địa (VDCĐ = Atopic Dermatitis) trước đây gọi là chàm thể
tạng hay chàm cơ địa là một bệnh da thường gặp. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa
tuổi, nhưng hay gặp nhất là trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 2 tuổi.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của VDCĐ chưa rõ ràng nhưng đa số
các tác giả cho rằng VDCĐ là sự kết hợp của một cơ địa dị ứng (Atopy) với
những tác nhân gây kích thích từ bên trong hay bên ngoài cơ thể là nguyên
nhân chính gây ra bệnh. Để chẩn đoán VDCĐ dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán
của Hanifin và Rajka Chẩn đoán bệnh VDCĐ phải có ít nhất 3 tiêu chuẩn
chính và ít nhất 3 tiêu chuẩn phụ. [8], [9], [11], [72].
Trong đó, căn nguyên do vi sinh vật thường được nhắc đến trong nhiều
nghiên cứu cho thấy vai trò của tụ cầu vàng trong VDCĐ. Khi có mặt của tụ
cầu vàng trên da thì các kháng nguyên và độc tố của tụ cầu sẽ kích thích đáp
ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân. Nhưng chưa có nghiên cứu nào đề
cập vai trò vi nấm làm trầm trọng tình trạng bệnh lý ở Việt Nam.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu khác nhau đã ghi nhận vai trò vi nấm
trong cơ chế bệnh sinh VDCĐ. Một nghiên cứu chỉ ra có hơn 90% VDCĐ
(vùng đầu và cổ) có hàm là lượng kháng thể IgE trong huyết thanh kháng lại
15
kháng nguyên của Malassezia. Trong đó khoảng 83% VDCĐ ở người lớn liên
quan đến Malassezia [22]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chính việc lạm dụng
thuốc điều trị taị chỗ Corticoit cũng như các chất dưỡng ẩm và kết hợp một
số yếu tố liên quan khác đã vô hình chung tạo môi trường thuận lợi cho sự gia
tăng số lượng cũng như sự sinh sản và phát triển của vi nấm Malassezia.
1.6.4. Gầu da đầu
Các biểu hiện trên da đầu mà thường được gọi là "gàu" gây ra bởi nhiều
xâm nhập sâu nang lông có thể là viêm mạn tính và hoại tử nang lông [49]. .
1.6.6. Nấm móng do Malassezia.spp
Mặc dù hầu hết các trường hợp của nấm móng gây ra bởi các chủng nấm
da. Tuy nhiên, gần đây có nhiều báo cáo trong y văn đã phân lập được
Malassezia.sp là căn nguyên gây bệnh nấm móng . Tuy móng không phải là
một nguồn thức ăn lý tưởng của vi nấm nhưng do nấm men thiếu khả năng
sừng hóa (keratolytic) đồng thời xuất hiện những biến đổi không bình thường
trong quá trình sinh trưởng nên chúng xâm chiếm và phá hủy móng, chủ yếu
móng tay. Tuy nhiên, vẫn có những báo cáo trái ngược nhau xoay quanh vấn
đề vi nấm Malassezia là một tác nhân gây bệnh thực sự ở móng hay không
[38].
Chowdhary đã cô lập Malassezia furfur từ vẩy móng tay thu được ở tổn
thương nấm móng tăng sừng trên bàn tay và bàn chân của nam bệnh nhân 13
tuổi [39]. Crespo-Erchiga đã khẳng định rằng họ đã từng gặp phải Malassezia
spp và Candida spp gây bệnh ở móng.
1.6.7. Một số biểu hiện khác do nhiễm nấm Malassezia.spp
- Malassezia thuộc vi hệ nên vi nấm này có mặt khắp nơi và gây bệnh
nhiều vị trí với các biểu hiện triệu chứng đa dạng trong rất nhiều bệnh cảnh
17
lâm sàng. Malassezia có thể gặp trong viêm da cơ địa và thông thường
Malassezia làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Ngoài ra, trong một số bệnh
lý khác: Trứng cá thông thường, U nhú thể mảng, Gaiden, Bạch biến
- Xâm nhập cơ quan, hệ thống: Người ta phát hiện bệnh nhân nằm điều
trị hồi sức tích cực nhiễm Malassezia.spp huyết. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu
cùng nhận định Malassezia.spp là tác nhân gây bệnh phổi, viêm màng bụng,
nhiễm khuẩn huyết qua đặt Catheter [51],[29],[48]. Sau khi tiến hành nuôi
cấy, định loại nấm và thực hiện kỹ thuật PCR đã xác định có hai loài gây bệnh
hệ thống hay gặp: M.pachydermatis (46%) và M.furfur (63%) [40].
- Theo nghiên cứu CDC (1984) nhận thấy vi nấm Malassezia.spp gây bệnh
nhiều nơi. Khi người ta tiến hành lấy các mẫu từ bệnh phẩm: máu, nước tiểu,
Các xét nghiệm soi trực tiếp có tầm quan
trọng trong việc nhận định hình thái và số lượng Malassezia nhưng chỉ mang
tính tương đối.
Tuy nhiên phần nào đã chứng tỏ sự hiện diện vi nấm Malassezia tồn tại
vi hệ đã trở thành tác nhân gây bệnh cơ hội trên một số bệnh da. Điều đó
chứng tỏ mặc dù trên da người khỏe mạnh vi nấm có thể tồn tại hay chỉ xuất
hiện thoáng qua nên đôi khi ta có thể quan sát được trên kính hiển vi nhưng
khi tiến hành nuôi cấy trên môi trường nhân tạo thì chúng không phát triển.
Có lẽ do vi nấm thuộc vi hệ nên chỉ có thể sinh sản và phát triển cùng cơ thể
vật chủ. Do vậy vi nấm này chưa đủ số lượng, độc lực và không thắng được
hàng rào miễn dịch bảo vệ da nên chưa gây bệnh. Điều này càng rõ hơn khi
15 SV có thương tổn dạng dat khi soi tưoi đều dương tính và nuôi cấy mọc tỷ
lệ 33,33%. Nghiên cứu này phù hợp với thực tế khi phát hiện tỷ lệ giữa Lâm
sàng, soi tươi và nuôi cấy với tỷ lệ (3:2:1)
19
Theo một số tác giả vấn đề nuôi cấy không cần thiêt đối với các bệnh
phẩm lâm sàng không chỉ bởi thời gian mọc chậm mà vi nấm khó mọc và đòi
hỏi môi trường đăc biệt. Quan điểm này phù hợp với nghiên cứu V.Silva và
cộng sự cho biết tầm quan trong của xét nghiệm trực tiếp tìm nấm cho kết quả
chẩn đoán sơ bộ nhanh, chính xác nhưng cũng đòi hỏi kinh nghiệm. Kete quả
trong nghiên cứu của V.Silva đaBên cạnh đó, trong y văn cũng đề cập tới một
số phương pháp xét nghiệm khác có độ nhậy và đặc hiệu cao như: miễn dịch
học, PCR…
Tuy nhiên, so sánh giữa các nghiên cứu không nhằm mục đích nêu ra
sự khác biệt giữa các phương pháp nghiên cứu cũng như các kỹ thuật áp dụng
để phát hiện nấm. Mà xa hơn mỗi nghiên cứu góp phần vào sự hiểu biết ngày
càng sâu rộng về vi nấm Malassezia nói chung. Qua đó làm sáng tỏ hơn vấn
đề vi hệ Malassezia và cơ chế bệnh sinh trong bệnh cảnh lâm sàng, đặc biệt
một số bệnh ngoài da thường gặp.
Gần đây, tại phòng nấm khoa Xét nghiệm Bệnh viện Da liễu TW, được sự
lượng số lượng Malassezia liên quan đến cơ chế sinh bệnh LB và một số bệnh
da khác nói chung là từ 20 TB/VT [32].
Qua nghiên cứu này V.Silva đã đưa ra tiêu chuẩn đánh giá sơ bộ vai trò gây
bệnh của Malassezia.spp trên kính hiển vi dựa vào quan sát mật độ tập trung vi
nấm như sau
● Nếu - : 0-3 tế bào nấm/VT
● Mức độ 1+: 4-10 tế bào nấm/VT
21
● Mức độ 2+: 11-20 tế bào nấm/VT
● Mức độ 3+: 21- 40 tế bào nấm/VT
● Mức độ 4+: ≥ 40 tế bào nấm/VT
* Nuôi cấy định loại
Đây là vi nấm khó nuôi cấy ở môi trường Sabouraud thông thường mà
đòi hỏi những điều kiện đặc biệt.
- Môi trường: Sabouraud phủ dầu oliu với tỷ lệ đặc biệt
- Nhiệt độ: 37ºC. Độ ẩm và pH phù hợp. Thời gian mọc chậm 7-10
ngày: M.furfur dễ phân loại nhất. M.restricta & M.obtusa khó phân loại nhất
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Đối tương nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
- Tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán LB, VDD, VDCĐ, không phân biệt
tuổi, giới, đến khám khám và xét nghiệm có sự hiện diện của Malassezia.spp
- Địa điểm: Khoa Khám bệnh và khoa Xét nghiệm BVDLTW
- Thời gian: Từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2012
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
* Một số nhóm bệnh da thông thường có nghi nhiễm nấm Malassezia.spp
- Nhóm 1: Lang ben
- Nhóm 2: Viêm da dầu,
Cỡ mẫu: Lấy mẫu thuận tiện bao gồm tất cả bệnh nhân đến khám với
chẩn đoán LB, VDD, VDCĐ và xét nghiệm có nhiễm vi nấm Malassezia.spp
2.3.2.1. Biến số nghiên cứu
Khảo sát tỷ lệ nhiễm Malassezia spp
- Khám và làm xét nghiệm
+ Số BN: LB, VDD, VDCĐ đến làm xét nghiệm
24
+ Số BN có các biểu hiên lâm sàng như trên và xét nghiệm có nấm
Malassezia spp gây bệnh (theo tiêu chuẩn V.Silva và cộng sự)
+ Các tỷ lệ khác: Tuổi, Giới, Nghề nghiệp, Địa dư, Các mùa trong năm.
Xác định mức độ nhiễm Malassezia spp bằng KOH 20% + PI (2:1)
+ Chúng tôi tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm ở các vị trí được chỉ định có
nghi nhiễm Malassezia spp. Đồng thời, lấy vẩy da tại một số vị trí ở vùng da
khỏe mạnh bình thường của cùng một bệnh nhân.
2.3.2.2. Quy trình thu thập số liệu
- Khảo sát tỷ lệ nhiễm nấm Malassezia spp ở: LB, VDD, VDCĐ
- Xác định tỷ lệ về độ tâp trung của vi nấm: Xét nghiệm trực tiếp bằng
phương pháp KOH 20% + Parker ink (2:1)
Bệnh nhân viêm da
Khám lâm sàng
Xét nghiệm
(-) (+)
Tỷ lệ nấm gây bệnh
Loại nghiên cứu
Tỷ lệ nhiễm Malassezia spp
Sơ đồ 2.2: Quy trình thu thập số liệu
25
Mật độ tập trung vi nấm