PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong các loài gia súc thường được nuôi ở nước ta như: trâu, bò, dê, lợn…thì
lợn là loài gia súc cho thu hoạch nhanh nhất và đem lại giá trị kinh tế cao. Lợn là loài
gia súc phàm ăn, dễ thuần tính. Do vậy nó rất thuận lợi cho quá trình chăm sóc, nuôi
dưỡng. Người nuôi lợn có thể tận dụng thức ăn thừa của người và các phụ phẩm nông
– công nghiệp cho lợn ăn, giảm bớt chi phí.
Krông Bông – một huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Đắk Lắk. Nền nông
nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã có từ lâu nhưng chưa thật sự phát
triển. Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển mạnh mẻ của ngành
trồng trọt và ngành bảo quản chế biến nông sản trên địa bàn huyện ngành chăn nuôi
đã có động lực để phát triển tương đối nhanh. Chăn nuôi lợn đã trở thành nhu cầu cải
thiện đời sống không thể thiếu của người dân nơi đây. Nhất là đối với các hộ gia đình
nghèo. Ở đây đã có nhiều phương thức chăn nuôi khác nhau như: trang trại, hộ gia
đình,…Chiếm một số lượng đáng kể là chăn nuôi gia đình.
Tuy nhiên hiệu quả chăn nuôi lợn chưa cao. Có thể là do nhiều nguyên nhân.
Song, một trong những nguyên nhân có thể kể đến là tình trạng nhiễm ký sinh trùng.
Nguy hiểm và gây nhiều thiệt hại như: làm cho lợn chậm lớn, còi cọc, tiêu tốn nhiều
thức ăn, có thể tắc ruột, thủng ruột và chết… là do nhiễm giun đũa lợn (Ascaris
suum).
Mặt khác, ở Krông Bông, việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp phòng trị giun
đũa trên lợn một cách có hiệu quả thì tương đối ít.
Thế nên thực tế đặt ra một câu hỏi là lợn nuôi theo hộ gia đình ở Krông Bông
có nhiễm giun đũa lợn hay không? Tỉ lệ và cường độ nhiễm là bao nhiêu? Làm thế
nào để phòng, trị bệnh giun đũa lợn có hiệu quả, đảm bảo cho chăn nuôi phát triển
bền vững. Đó là nhiệm vụ quan trọng của ngành thú y, của các nhà nghiên cứu. Xuất
phát từ đòi hỏi đó tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát tình hình nhiễm Ascaris suum trên lợn chăn nuôi gia đình tại
huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk và biện pháp phòng, trị.”
+ Với mục đích:
Đề ra biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn một cách tốt nhất.
2.1.1.2. Địa hình
Địa hình Krông Bông nằm trên cao nguyên Đắk Lắk (nơi giáp ranh với 3 tỉnh,
Đăk Lắk, Lâm Đồng, Khánh Hòa) nên có kiểu địa hình phức tạp, toàn bộ địa hình là
lòng chảo, ở giữa có đồng bằng và vùng trũng được tạo thành bởi 3 hệ thống sông
chính là Krông Ana, Krông Bông, Krông Pắk. Xung quanh được bao bọc bởi các dãy
núi cao hiểm trở. Nhất là dãy núi Đông Nam, đoạn cuối của dãy Trường Sơn cao
trung bình 2000 m.
2.1.1.3. Thời tiết khí hậu
3
Do tính chất đặc thù về vị trí địa lý và địa hình, huyện Krông Bông nằm giữa vùng
Cao Nguyên Buôn Ma Thuột và dãy Chư Yang Sin nên khí hậu vừa chịu chi phối của
khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính khí hậu Cao Nguyên dịu mát, có hai mùa rõ
rệt: mùa mưa và mùa khô. Do ảnh hưởng của khí hậu duyên hải miền Trung nên mùa
mưa trong vùng thường đến sớm, mưa nhiều vào tháng 9- 11, chiếm 80- 85% lượng
mưa hàng năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng
kể, có năm nắng hạn kéo dài thiếu nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
2.1.1.4. Chế độ nhiệt
- Nhiệt độ bình quân hàng năm: 23,7
o
C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình hàng năm: 32,8
o
C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình hàng năm: 17,6
o
C
- Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất: tháng 4, 5.
- Bình quân giờ nắng chiếu sáng/ năm: 2250- 2700
2.1.1.5. Chế độ ẩm
- Lượng mưa bình quân hàng năm: 1800- 2400 mm.
lớn, khá phì nhiêu, hơi chua, thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ, một số ngập
vào mùa mưa, phân bố ven sông suối, thích hợp cho cây lúa nước chuyên màu và cây
công nghiệp ngắn ngày.
- Đất phù sa Glay (Pg) với diện tích 2.910 ha chiếm 2,33%, phân bố chủ yếu ở
Hòa Lễ, Hòa Phong, thuộc dạng đất pha cát, một số có lẫn đá 30%.
- Đất đỏ vàng trên phiến sét (Fs) với diện tích 30.920 ha, chiếm 24,73% phân
bố chủ yếu ở khu vực phía Đông Bắc (Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Tân) có thành phần
cơ giới thịt trung bình tầng dày < 30 cm.
- Ngoài ra còn có các nhóm đất khác: Đất phù sa loang lỗ đỏ vàng (Pf) diện
tích 1.611 ha, chiếm 1,29%; đất phù sa sông ngòi, suối (Py) diện tích 1480 ha
(1,18%); đất xám trên phù sa cổ (X) 1.815 ha (1,45%), đất xám Glay (Xg) 1000 ha
(0,80%), đất dốc tụ thung lũng (D) 280 ha (0,22%), đất nâu trên đá Bazan (Ru) 420
ha (0,34%).
CƠ CẤU THÀNH PHẦN CỦA ĐẤT NHƯ SAU:
Nhóm đất Ký hiệu Diện tích
(ha)
Tỉ lệ
(%)
Phân bố
Đất mùn vàng
đỏ trên đá
Granit
Ha 35280 28,22 Khu vực trung tâm Khuê Ngọc
Điền và phía Đông Nam huyện
Đất đỏ vàng
trên đá Granit
Fa 42710 34,16 Phía Đông, Đông Nam và Ea
Trul
Đất đỏ vàng
trên phiến sét
Bazan
Ru 420 0,34
Hồ 70 0,06
Tổng diện tích 125020
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên:
- Thuận lợi: Khí hậu thổ nhưỡng đa dạng thích hợp với nhiều loại cây trồng
khác nhau. Trong đó đặc biệt thích hợp cho sự phát triển cây lương thực, thực phẩm,
chăn nuôi và một số nơi rất thích hợp cho cây công nghiệp ngắn ngày cũng như dài
ngày và cây ăn quả. Với vùng đất phù sa được bồi đắp hàng năm, mật độ sông suối
dày đặc là lợi thế cho việc xây dựng các công trình thủy nông vừa và nhỏ, phục vụ
cho sản xuất các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao và chi phí thấp.
- Khó khăn: Một số vùng có địa hình phân cách, độ dốc nên dễ bị thoái hóa do
xói mòn, rửa trôi nên cần chú ý việc khoanh nuôi bảo vệ, trồng rừng bảo vệ đầu
nguồn (băng rừng, đai rừng...), ngược lại vùng phù sa ven sông thường bị ngập úng
gây lụt lội một số nơi ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.
Mùa mưa đến sớm và thường mưa nhiều vào thời gian thu hoạch nên cần chú
trọng khâu sơ chế và chế biến sau thu hoạch để giảm hao hụt sản lượng và chất lượng
sản phẩm.
6
Địa bàn rộng, cơ sở hạ tầng thuộc miền núi phát triển chưa cao và có những
nền tảng thúc đẩy kinh tế xã hội phải có sự ưu tiên và đầu tư về mọi mặt.
2.1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
2.1.2.1. Điều kiện kinh tế
- Về dân số: Toàn huyện có 13 xã: Yang Reh, Ea Trul, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền,
CưKty, Hòa Thành, Yang Kang, Hòa Tân, Hòa Lễ, Hòa Phong, Cư Pui, CưDrăm,
Yang Mao và 1 thị trấn Krông Kmar, với dân số năm 2009 là 87.136 người, trong đó
nữ là 42.783 người.
+ Dân cư ở đây chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó còn có một số các dân tộc thiểu
số khác như: Ê đê, Tày, H’Mông,… Người Kinh chủ yếu có nguồn gốc từ Quảng
Nam, Đà Nẵng; chính nguồn gốc dân cư của người Kinh đã tạo ra tại đây một môi
Houdemer (1925)[2], đã nghiên cứu trên heo ở Bắc Bộ và cho biết heo nhiễm
Ascarissuum với tỷ lệ 48,35%.
Lương Văn Huấn mổ khám toàn diện theo độ tuổi 891 heo tại 12 tỉnh thành phố
cho biết tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn là 55%.[2]
Trần Thị Thanh Thuý qua mổ khám không theo tuổi 204 heo tại thị xã Cao
Lãnh - Đồng Tháp cho biết tỷ lệ nhiễm Ascaris suum là 53,39%.[2]
Trịnh Văn Thịnh Và Dương Công Thuận (1959 - 1960)[2], đã xét nghiệm phân
trên 2.200 heo cho biết tỷ lệ nhiễm Ascaris suum là 56%.
Kết quả của việc điều tra về thành phần loài giun sán ở heo từ năm 1963-1975
[2] (viện Pasteur Sài Gòn), công việc chủ yếu là thu thập giun sán trên heo giết mổ tại
lò mổ Chánh Hưng và từ khắp nơi Miền Nam gửi tới trong đó tỷ lệ nhiễm giun đũa
lợn là 70%.
2.3. Tình hình chăn nuôi lợn và công tác thú y tại huyện Krông Bông
2.3.1. Tình hình chăn nuôi lợn
Năm 2007, tổng đàn lợn trên địa bàn huyện khoảng: 22.064 con ( do ảnh
hưởng của dịch Lở mồm long móng và giá lợn xuống thấp)
Năm 2008, tổng đàn lợn: 35.570 con
Năm 2009, tổng đàn lợn 35.380 con. Trong đó, lợn thịt: 29.507 con, lợn nái:
5732 con, lợn đực giống: 141 con. (Nguồn: Niên giám thống kê Krông Bông,
01/10/2010)
Các giống lợn được nuôi chủ yếu ở đây bao gồm: Lợn ngoại: chủ yếu là lợn
đực giống (Duroc, Landrace), lợn nội (lợn Móng Cái, lợn Ỉ) và lợn lai từ các giống
lợn ngoại và lợn nội trên.
8
Lợn được nuôi phổ biến ở tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Tại 3 địa
điểm nghiên cứu thì lợn nuôi nhiều nhất là ở xã Hòa Sơn, sau đó là Thị trấn Krông
Kmar, ít hơn cả là xã Ea Trul.
Nhìn chung, tổng đàn lợn trên địa bàn huyện ngày một tăng lên. Tuy nhiên, số
hộ gia đình chăn nuôi lợn có xu hướng giảm dần, lợn nuôi phân bố không đồng đều,
có nơi tập trung nuôi nhiều thì có nơi hầu như không nuôi. Nguyên nhân chính là do
xảy ra với đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện, có một số bệnh xảy ra lẻ tẻ như
E.Coli, ỉa chảy heo con, toi gia cầm… ngày 19/8/2009 bệnh Lở mồm long móng xảy
ra ở xã Cư Đrăm, sau đó lây lan ra các xã như Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ với tổng
số gia súc mắc bệnh là 242 con, trong đó có 02 con trâu, 240 con bò. Đến ngày 13
tháng 11 năm 2009 dịch bệnh đã được khống chế và được Trung tâm Thú y vùng V
và Chi cục Thú y tỉnh về kiểm tra và chuẩn bị công bố hết dịch.
2. Các biện pháp phòng chống dịch, nhận định tình hình
- Biện pháp phòng chống dịch: Năm 2008 và 7 tháng đầu năm 2009 dịch bệnh
không xảy ra, Trạm và mạng lưới Thú y không lơ là trong công tác phòng, chống
dịch bệnh, mà luôn chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh như triển khai
tiêm phòng các loại vắc xin theo định kỳ, tổ chức phun thuốc sát trùng tiêu độc ở 14
xã, thị trấn, thường xuyên cùng các Ban Thú y cơ sở kiểm tra tình hình chăn nuôi và
dịch bệnh đến từng đơn vị thôn, buôn. Khi dịch bệnh xảy ra Trạm Thú y và ban Thú
y xã Cư Drăm đã triển khai ngay biện pháp chống dịch là gom toàn bộ 38 con bò dự
án về tại khu vực buôn Chàm B để nuôi nhốt điều trị bệnh, không cho chăn thả tự do
và phun thuốc sát trùng ngày 01 lần tại các thôn buôn có dịch bệnh, báo Chi cục Thú
y tỉnh cung ứng vật tư chống dịch như thuốc bencocid, vắc xin. Đặc biệt các xã có
dịch đã thành lập các chốt chặn ở lối ra vào thôn buôn không cho mua bán, vận
chuyển trâu bò ở thôn buôn có dịch. UBND huyện có Quyết định số 2083/QĐ-UB
thành lập 03 chốt chặn tại các địa điểm như xã Yang Kang, Yang Réh, Hòa Phong để
không cho mua bán, vận chuyển trâu bò trong thời gian có dịch. Bên cạnh đó, các xã
trong toàn huyện đã chủ động tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn trâu bò. Vì vậy mà
dịch bệnh không lây lan trên diện rộng và đã được khống chế vào ngày 13 tháng 11
năm 2009.
Cuối tháng 10 và tháng 11 năm 2009 toàn huyện đã tổng tiêu độc chuồng trại
chăn nuôi để có cơ sở cho công bố hết dịch trên địa bàn huyện.
10
Đối với một số bệnh thông thường trên đàn gia súc thì Ban Thú y các xã, thị
trấn đã luôn can thiệp kịp thời để giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, giảm
được nguy cơ lây lan dịch bệnh truyền nhiễm ở gia súc trên địa bàn huyện.
Vụ 1/2009 Vụ 2/2009
Tiêm được
(con)
Tỷ lệ % so
tổng đàn
Tiêm được
(con)
Tỷ lệ %
so tổng
đàn
1 Dại chó 15.000 (chó) 2.500 16.67
2 THT trâu bò 26.042 (trâu bò) 8.700 33.41 9.000 34.56
3 LMLM trâu bò 26.042 (trâu bò) 20.600 79.1 20.675 79.4
4 THT heo 35.380 (heo) 500 1.41 500 1.41
5 Dịch tả heo 35.380 (heo) 500 1.41 500 1.41
6 PTH heo 35.380 (heo) 500 1.41 500 1.41
7 LMLM heo 35.380 (heo) 1.500 4.24 1.500 4.24
8 Tam liên heo 35.380 (heo) 6.250 17.67 5.430 15.35
Kết quả cụ thể từng đơn vị:
STT Tên đơn vị
Loại vắc xin
Dại chó
LMLM
trâu bò
LMLM
heo
THT
trâu bò
THT
heo
bệnh.
4. Công tác tiêu độc khử trùng:
Số hóa chất được cấp trong năm 2009 là : 900 lít.
12
Số hoá chất trên đã được triển khai trong 03 đợt sát trùng tiêu độc trên toàn
huyện và ở thôn buôn có dịch. Bên cạnh đó còn cung cấp cho các chốt chặn để phun
tiêu độc các xe qua lại.
Công tác vệ sinh sát trùng tiêu độc năm nay tương đối thuận lợi kinh phí cho
một thôn buôn (gồm xăng nhớt, công phun, công Thú y được ngân sách chi trả cho
từng thôn buôn là 180.000 đ) và một số đơn vị vẫn được nhận được sự quan tâm của
UBND xã hỗ trợ ít nhiều nữa, song bên cạnh đó có những đơn vị vì nhiều lý do mà
triển khai chậm hơn nhiều so với kế hoạch triển khai. Tiêm phòng vắc xin LMLM vụ
2/2009 kết thúc muộn hơn 1 tháng do nguồn vắc xin từ nhà sản xuất cung cấp trễ.
+ Kiểm tra, kiểm soát giết mổ gia súc (KSGMGS)
Công tác kiểm soát giết mổ gia súc là một công tác chuyên môn đòi hỏi mỗi
cán bộ Thú y làm công tác KSGMGS phải thật kiên trì, chịu khó và nắm vững chuyên
môn như nắm rõ về bệnh tích của từng bệnh trên gia súc, biết được bệnh nguy hiểm
cần tiêu hủy … để từ đó phân biệt và xử lý đúng từng trường hợp cần xử lý. Bên
cạnh đó, Trạm Thú y cũng thường xuyên đi kiểm tra đến tận các chợ, các lò giết mổ,
điểm giết mổ gia súc để nhắc nhở các chủ kinh doanh giết mổ gia súc thực hiện đảm
bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Song một số lò, điểm giết mổ gia súc còn có chủ kinh
doanh giết mổ gia súc chống đối cán bộ Thú y làm công tác kiểm tra kiểm soát giết
mổ gia súc như không nộp đúng, đủ tiền lệ phí, coi thường cán bộ làm công tác
KSGMGS, giết mổ gia súc không tuân thủ theo qui định giờ giấc trong nội quy lò
giết mổ gia súc tập trung gây khó khăn không nhỏ cho cán bộ làm công tác
KSGMGS.
Trong năm toàn huyện có 05 lò giết mổ gia súc tập trung, 07 điểm giết mổ gia
súc tại nhà và đã kiểm tra, kiểm soát được số lượng sau:
TT
Loại
+ Công tác khác
- Quản lý thuốc Thú y: Toàn huyện có 6 điểm dịch vụ thuốc thú y (vừa bán
thuốc, thức ăn gia súc, làm dịch vụ chữa trị bệnh, phối tinh nhân tạo cho heo). Trạm
đã kiểm tra địa điểm kinh doanh và giấy phép hành nghề, giấy phép kinh doanh thì
hiện nay có 03 điểm đủ điều kiện, còn lại 03 điểm chưa có giấy phép hành nghề của
Chi cục Thú y cấp, Trạm đã nhắc nhở và đề nghị Chi cục Thú y năm 2009 mở lớp
học tập huấn để 3 chủ điểm kinh doanh đi học, nếu không 03 chủ điểm này sẽ bị
đóng cửa và không được hành nghề buôn bán, dịch vụ Thú y nữa.
- Trạm cùng với Ban Thú y các xã đã mở được 6 lớp tập huấn cho nông dân ở
các xã Yang Mao, Cư Đrăm, Hòa Phong, Cư Kty, Hòa Sơn, Ea Trul. Đồng thời,
Trạm cùng phối hợp với Trạm Khuyến nông mở thêm 03 lớp tập huấn cho nông dân
ở các xã Cư Đrăm, Hòa Tân, Hòa Phong về các biện pháp phòng chống dịch bệnh ở
gia súc, gia cầm, mỗi lớp có khoảng 40 – 50 người tham dự.
- Trạm cùng ban Thú y các xã, thị trấn thường xuyên kiểm tra tình hình dịch
bệnh trên địa bàn huyện để phát hiện, xử lý dịch bệnh và báo cáo cho UBND huyện,
Chi cục Thú y để chỉ đạo kịp thời chống dịch bệnh.
(Nguồn: Trạm thú y huyện)
2.4. Cơ sở lý luận của đề tài
2.4.1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa lợn
Giun đũa lợn ký sinh ở ruột non lợn, màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi
nhọn. Đầu giun có ba môi bao bọc quanh miệng, một môi ở phía lưng và hai môi ở
phía bụng. Trên rìa môi có một hàng răng cưa, cấu tạo hai môi này khác nhau giữa
hai loài giun đũa, hàng răng cưa ở môi giun đũa người không rõ ràng bằng răng cưa
của giun đũa lợn.
14
Giun đực dài 12- 25 cm, đường kính 3 mm. Giun cái dài 30- 35 cm, đường
kính 5- 6 mm. Phân biệt giun đực và giun cái: giun đực nhỏ, đuôi cong về mặt bụng,
đuôi giun cái thì thẳng. Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau, khoảng 1,2- 2
mm, không có túi giao hợp.
Trứng hình bầu dục hơi ngắn, kích thước 0,056- 0,087 x 0,046- 0,067 mm, vỏ
Giun đũa phân bố rộng khắp thế giới, nguyên nhân chính là vòng đời của giun
đũa lợn rất đơn giản, truyền trực tiếp và sức đề kháng của trứng rất cao.
Đặc điểm của trứng giun đũa lợn có 4 lớp vỏ: lớp trong cùng bảo vệ phôi thai,
giữ cho các chất hữu cơ không ảnh hưởng tới trứng, hai lớp giữa giữ cho chất lỏng
của trứng không bị bốc hơi, lớp ngoài cùng là lớp protit có màu vàng cánh dán giữ
cho tia tử ngoại không xâm nhập được vào bên trong. Trứng sống rất lâu 6- 12 tháng
trong đống phân, trong điều kiện tự nhiên sống 1- 2 năm. Nhiệt độ thích hợp cho
trứng phát triển khoảng 25
o
C. Khi nhiệt độ xuống thấp (12
o
C) trứng phát triển chậm.
Trứng ở sâu 3 cm, nhiệt độ 26- 33
o
C, hàm lượng nước 9,5-19% thì 89% trứng
phát triển. Trứng ngừng phát triển khi nhiệt độ ở rất thấp: - 4,8
o
C đến – 13,4
o
C, hàm
lượng nước 6,3-17%. Trứng có thể bị chết khi gặp một trong ba trường hợp sau:
- Độ ẩm quá thấp
- Độ ẩm quá thấp, nhiệt độ cao.
- Độ ẩm và nhiệt độ cao.
Khi nhiệt độ 45-50
o
C trứng chết trong nửa giờ, nước nóng 60
o
C diệt trứng
trong 5 phút, nước 70