phân lập, xác định vai trò gây bệnh của salmonella typhimurium và salmonella enteritidis trên đàn vịt tại một số huyện thuộc tỉnh hưng yên và biện pháp phòng trị - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN VĂN THÀNH

PHÂN LẬP, XÁC ĐỊNH VAI TRÒ GÂY BỆNH CỦA
SALMONELLA TYPHIMURIUM VÀ SALMONELLA
ENTERITIDIS TRÊN ĐÀN VỊT TẠI MỘT SỐ HUYỆN THUỘC
TỈNH HƯNG YÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. NGUYỄN QUANG TUYÊN
2. PGS.TS. TRẦN THỊ HẠNH

THÁI NGUYÊN - 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế của nước ta đang phát triển cùng hội nhập kinh tế toàn cầu,
mức sống ngày càng được nâng cao. Do vậy, ngành chăn nuôi nước ta chiếm
một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền
kinh tế nói chung. Chăn nuôi với nhiều phương thức đã góp phần giải quyết
công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có
giá trị xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế, xã hội, nhất là khi nước ta vừa
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì việc nâng cao chất lượng đàn
gia súc, gia cầm càng cần được đầu tư, chú trọng.
Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển chăn nuôi của Việt Nam đến
năm 2010 cần đạt: đàn lợn 32,8 triệu con, sản lượng thịt lợn là 3,2 triệu tấn;
đàn bò thịt 7,1 triệu con, sản lượng thịt bò 210 ngàn tấn; đàn bò sữa 200 ngàn
con, sản lượng sữa 350 ngàn tấn; đàn gia cầm 283 triệu con, sản lượng thịt
1427 ngàn tấn và 7,95 tỷ quả trứng gà, vịt (Cục chăn nuôi, 2006)[3].
Để đạt được những mục tiêu trên cần phải đầu tư cho công tác giống,
quan tâm đến vấn đề thức ăn, các chương trình quản lý, đồng thời cũng phải
chú trọng hơn nữa công tác thú y, tăng cường áp dụng các biện pháp khoa học

nuôi vịt nói riêng phát triển bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực
phẩm, có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Ở nước ta cho tới nay những
nghiên cứu về Salmonella nói chung và đặc biệt là 2 loài Salmonella
typhimurium (S. typhimurium) và Salmonella enteritidis (S. enteritidis) gây
ngộ độc thực phẩm chủ yếu ở người còn ít được quan tâm.
Tại Hưng Yên chăn nuôi vịt trong những năm gần đây vẫn được duy trì
và phát triển trong các hộ gia đình và trang trại góp phần tăng thu nhập kinh
tế cho các nông hộ. Tuy nhiên, ngoài một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
như cúm gia cầm, viêm gan thì đàn thủy cầm nuôi tại Hưng Yên còn bị tổn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
thất nhiều do nhiễm bệnh Salmonellosis. Để có cơ sở trong việc nghiên cứu
và xây dựng những biện pháp phòng và trị Salmonellosis ở đàn vịt cho hiệu
quả cao tại Hưng Yên, chúng tôi đã phân lập, xác định Serotype và kiểm tra
động lực của các chủng vi khuẩn Salmonella gây bệnh phân lập được.
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của tập thể thầy cô
giáo hướng dẫn và cơ sở nghiên cứu chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phân lập, xác định vai trò gây bệnh của Salmonella typhimurium và
Salmonella enteritidis trên đàn vịt tại một số huyện thuộc tỉnh Hưng Yên và
biện pháp phòng trị”.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Xác định đặc tính sinh vật, hoá học và đặc tính gây bệnh của vi khuẩn
S. typhimurium và S. enteritidis trên vịt tại một số huyện thuộc tỉnh Hưng Yên.
Xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella phân lập được.
Kiểm tra độc lực, độc tố, khả năng bám dính… của các chủng Salmonella
phân lập được.
Đề xuất biện pháp phòng trị thích hợp.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ở Long An, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, cho thấy:
8,8% vịt đẻ, 24,7% vịt con, 31,7% phôi trứng bị chết và 64,8% cứt xu đã bị
nhiễm Salmonella (Trần Xuân Hạnh và cs, 1998[18]).
Ở Inđônêsia, năm 1992 - 1993, đã xác định 26 mẫu huyết thanh vịt,
trong đó S. tyhimurium là 24%, S. amsterdam là 10,5%, S. virchov là 7,5% và
S. thompson là 6,8% (Trần Thị Hạnh và cs, 2002)[15].
Đối với tất cả các loài gia cầm, Salmonellosis thể hiện các thể bệnh như
nhiễm trùng, nhiễm trùng không xuất hiện triệu chứng, không bệnh tích trở
thành những con vật khoẻ mang trùng, chúng suốt đời bài tiết thường xuyên
hoặc gián đoạn Salmonella ra môi trường hoặc dưới thể bệnh với những triệu
chứng khi nở hoặc chết ngay khi mới nở. Các vịt con bị xù lông, sợ rét,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
cuộn mình dưới chụp sưởi, khát nước và chết do mất nước. Đôi khi biểu
hiện viêm khớp, viêm rốn, đặc biệt khi nhiễm S. typhimurium. Trong một số
trường hợp biểu hiện triệu chứng tiêu hoá như ỉa lỏng nước trắng hoặc xanh,
có vết máu, tỷ lệ chết có thể tới 70%. Trong thể cấp tính, bệnh kéo dài 3 hoặc
4 ngày và không có triệu chứng điển hình nào. Ở vịt đẻ, thể cấp tính đặc trưng
bằng những triệu chứng như ủ rũ, sốt, manh tràng xanh sẫm. Thể mãn tính
trước hết biểu hiện ở triệu chứng sinh sản như chậm đẻ, giảm tỷ lệ đẻ, viêm
buồng trứng - vòi trứng và trứng không có vỏ. Ở vịt con, những tổn thương
viêm ống tiêu hoá, gan và màng ngoài tim thể hiện khá rõ hội chứng phó
thương hàn (PTH). Tuy nhiên, ở vịt đẻ những thể hiện tổn thương trên ít rõ
ràng hơn.
Vịt có thể là nơi cư trú của những type Salmonalla khác nhau phân bố
rộng rãi, đặc biệt là S. enteritidis, S. saintpaul, S. typhimurium, S. montevideo,
S. panama… Ở Pháp, vào những năm 1994-1995 đã thấy 27 type huyết thanh
khác nhau ở vịt. Tại Việt Nam, 14 type huyết thanh đã được xác định ở cứt su

người phát hiện ra vi khuẩn, cũng như nơi mà vi khuẩn gây bệnh; trong một
khoảng thời gian dài loài vi khuẩn S. enteritidis được gọi là trực khuẩn
Gartner với các tên khác nhau như Gartner - bacillus hoặc Typus Gartner
Jena. Năm 1889 và 1890 tại Viện vệ sinh trường Đại học Greiswald (Đức) do
F.Loeffler phụ trách đã xảy ra dịch bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đối với
chuột thí nghiệm. Nguyên nhân do loài vi khuẩn lúc đó được gọi tên là
Bacillus typhimurium. Năm 1891, C.O Jensen đã tách được S. dublin từ bệnh
phẩm của bê bị bệnh tiêu chảy. Cùng năm đó loài S. typhimurium được phát
hiện ở Greiswald và Breslau. Năm 1900, tên giống Salmonella được Lignieres
sử dụng đặt cho trực khuẩn gây bệnh dịch tả “Hogcholera bacillus”. Lúc đầu
tất cả các bệnh ở gia súc do Salmonella gây ra được gọi chung một tên là
bệnh PTH “Paratyphus”. Cho đến năm 1914 có tổng cộng 12 loài vi khuẩn
được mô tả và xếp vào giống Salmonella. Trong những năm 30 (thế kỷ XX)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
số lượng loài Salmonella đã tăng lên nhanh chóng. Năm 1926, White đã có
những công trình nghiên cứu về cấu trúc kháng nguyên của Salmonella, bắt
đầu một thời kỳ khoa học mới về giống vi khuẩn này. F.Kauffmann tiếp tục
thành công trong những nghiên cứu sau đó và đã thiết lập được bảng kháng
nguyên đầu tiên vào năm 1934, làm nền tảng cho việc tra cứu. Bảng kháng
nguyên vi khuẩn Salmonella được gọi tên là bảng phân loại Kauffmann -
White đã thường xuyên được Trung tâm hợp tác của WHO về nghiên cứu
Salmonella tại Viện Pasteur - Pari bổ sung và công nhận. Cùng năm đó, hai
nhà bác học đã thiết lập được bảng cấu trúc kháng nguyên đầu tiên đặt tên là
bảng phân loại Kauffmann-White. Từ đó đến nay, bảng cấu trúc kháng
nguyên của Salmonella luôn luôn được bổ sung. Năm 1993 đã có 2375 type
Salmonella được định danh. Đến năm 1997 con số type Salmonella đã lên đến
3000. Năm 1998 lại có thêm 6 type khác được bổ sung. Như vậy giống

Salmonella gây trên vịt xảy ra ở hầu khắp thế giới và tỷ lệ thay đổi từ 1 -
60%. Trong một ổ dịch thường thấy vịt chết ngay từ những ngày đầu sau khi
đưa ra khỏi lò ấp, vịt ở mọi lứa tuổi đều mẫn cảm với bệnh, tuy nhiên triệu
chứng lâm sàng thường chỉ thấy ở vịt con. Đã có những nghiên cứu về
các chủng Salmonella gây bệnh trên vịt, một số tác giả đã phân lập được
S. typhimurium từ một số ổ dịch tự nhiên xảy ra trên vịt con và vịt đẻ. Tuy
nhiên, các tác giả cũng nhận thấy rằng vịt có sức đề kháng với Salmonella
cao hơn so với gà. S. typhimurium và S. enteritidis đựơc coi là nguyên nhân
chủ yếu gây bệnh cho vịt. Tại Thái Lan, đã phân lập được S. typhimurium từ
các ổ dịch tự nhiên xảy ra trên vịt.
Vai trò gây bệnh của Salmonella đối với gia cầm được đề cập từ đầu
thế kỷ XX, tuy nhiên triệu chứng bệnh đã được mô tả sớm hơn nhiều. Vào
năm 1888 một vụ dịch xảy ra ở Anh tại một cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp
đã gây chết 400 con. Lúc bấy giờ người ta nghi đây là bệnh dịch tả gà, ngay

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
sau đó Klein phân lập được căn bệnh và đặt tên là Bacillus gallinarum. Một
vài năm sau Lucet ở Pháp, Pfeiler và Rhese ở Đức cũng mô tả căn bệnh tương
tự. Cho đến năm 1892, Loeff đã gọi Bacterium typhimurium là vi trùng gây
bệnh chủ yếu của bệnh thương hàn ở gia cầm. Từ năm 1933 đến năm 1956 tại
Anh đã có rất nhiều tác giả để tâm nghiên cứu về bệnh này. Hầu hết các loài
gia cầm như gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng và bồ câu đều bị nhiễm Salmonella ở
mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm thay đổi từ 1 - 9,8% (Nagaraja và cs, 1991)[66].
Nhờ có sự tiến bộ của khoa học như kính hiển vi điện tử, công nghệ gen
Việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella liên tục được các nhà khoa học trên thế
giới bổ sung, định danh, phân loại. Bảng phân loại của Kauffmann - White bổ
sung đến 1993 đã có 2375 type được định danh. Còn cho biết bộ gene “genom”
của Salmonella được nghiên cứu tương đối kỹ. Cho đến nay ít nhất đã chứng

phố Hồ Chí Minh) đã cho biết 20,82% mẫu hạch màng treo ruột, 11,28% mẫu
phân có Salmonella.
Phùng Quốc Chướng (1995)[9] trong thời gian 5 năm (1989-1994) xét
nghiệm một lượng lớn mẫu phân lợn lấy từ các địa phương, xác định tỷ lệ lợn
ở 4 tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng) nhiễm vi
khuẩn Salmonella ở các vùng khác nhau, lợn các lứa tuổi và theo các mùa
trong năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn nuôi tại Tây Nguyên có tỷ lệ
nhiễm Salmonella 24,83%; 15% số mẫu thức ăn thừa trong máng ăn, 30% số
mẫu nước rửa chuồng tại trại nhiễm Salmonella. Tác giả đã theo dõi biến
động số lợn nhiễm Salmonella ở lợn khoẻ và ở lợn bị tiêu chảy.
Hồ Văn Nam và cs (1997)[25] nghiên cứu sự phân bố của Salmonella
trong cơ thể lợn bị bệnh Phó thương hàn; đã tiến hành gây viêm ruột cho 12
lợn sau cai sữa bằng cách cho uống nước muối và sau 10 giờ cho uống thêm 5
ml canh trùng Salmonella. Sau 4 - 7 ngày lợn sốt (40 - 41
0
C), ỉa chảy phân
khắm; chứng tỏ viêm ruột ở giai đoạn nhiễm trùng. Và tiến hành xét nghiệm
vi khuẩn 12 lợn trên, 100% bệnh phẩm lấy ở ruột; 85,71% đến 100% bệnh
phẩm là hạch lâm ba, gan, lách có Salmonella cả thể cấp tính và mãn tính.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Cù Hữu Phú và cs (2000)[33] nghiên cứu Salmonella trong bệnh tiêu
chảy ở lợn 35 ngày đến 4 tháng tuổi nuôi xung quanh Hà Nội cho biết 80%
mẫu phân lợn tiêu chảy có nhiễm Salmonella. Xác định đặc tính sinh học, khả
năng sản sinh độc tố đường ruột của các chủng Salmonella phân lập được; các
tác giả đã chế thử nghiệm autovacxin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn, kết quả
đạt 89,22% lợn được phòng bệnh sau 4 tháng tiêm phòng.
Nghiên cứu vi khuẩn Salmonella gây bệnh Phó thường hàn lợn ở một

rất nhiều tác giả nghiên cứu căn bệnh do Salmonella trên gà công nghiệp.
Nguyễn Thị Ngọc Liên (1997)[24] nghiên cứu bệnh Phó thương hàn vịt ở
Hà Tây cũ đã phát hiện vịt các lứa tuổi đều nhiễm Salmonella; vịt con (1 - 56 ngày
tuổi) nhiễm cao nhất (20,97% - 25,42%); vịt đẻ nhiễm thấp hơn (8,78% - 14,4%).
Ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, Trần Xuân Hạnh và cs,
(1998)[18] cũng thông báo tình hình tương tự. Ngoài mẫu phân, tác giả còn xét
nghiệm các mẫu trứng và cho kết quả đáng chú ý là tỷ lệ nhiễm Salmonella cao
nhất ở mẫu trứng đã nở (64,8%) tiếp theo là trứng sát (31,7%).
Trần Thị Hạnh và cs (1999)[14] nghiên cứu tình trạng nhiễm
Salmonella tại các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp, đã xác định vi khuẩn ở
thức ăn hỗn hợp, nước uống, nước thải, chất độn chuồng, vỏ trứng và lòng đỏ
trứng. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella cao nhất ở chất độn chuồng
(80,00%); thấp nhất là vỏ trứng và lòng đỏ trứng (18,29%).
Nguyễn Bá Hiên (2001)[19] đã cho biết kết quả phân lập vi khuẩn
thường gặp trong đường ruột, biến động các loài vi khuẩn khi gia súc bị tiêu
chảy, đặc biệt là tình trạng bội nhiễm Salmonella.
Nguyễn Ngọc Huân và cs (2006)[21] nghiên cứu sự lưu hành Salmonella
trên vịt tại trại vịt giống Vigova, đã nghiên cứu trên các mẫu phân vịt, trứng
chết phôi ở lò ấp và mẫu nước môi trường. Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Salmonella không cao (8,83%) và tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở mẫu xét nghiệm
trứng chết phôi ở lò ấp (16,19%), thấp nhất là ở mẫu nước (0%).
Theo Nguyễn Thị Chinh và cs (2010)[11] Nghiên cứu Salmonella trên
đàn vịt tại hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang có tỷ lệ nhiễm 19,02%. Tỷ lệ
nhiễm cao nhất là trứng chết phôi.
Salmonella là vi khuẩn gây ra quá trình bệnh lý đường tiêu hoá cho
nhiều loài vật nuôi. Do vậy, để phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao góp phần

hay vi khuẩn nhận. Do
Fimbriae tạo ra bởi gen di truyền nằm trong ADN plasmid nên khả năng hình
thành phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy. Theo Lê Văn Tạo (1993)[39] môi
trường tốt nhất để hình thành Fimbriae là môi trường MINCA và BHI. Hiện
nay có khoảng 2600 type Salmonella được phát hiện, tuy nhiên không phải tất
cả đều gây bệnh cho người. Hai loại S. typhimurium và S. enteritidis được biết
đến là nguyên nhân chính gây bệnh Salmonellosis ở người.
1.2.2. Đặc điểm về tính chất nuôi cấy
Salmonella là những vi khuẩn sống hiếu khí và yếm khí không bắt
buộc, phát triển trên các môi trường thông thường. Có rất nhiều loại môi
trường dinh dưỡng chọn lọc được dùng trong phân lập Salmonella, hiện nay
thường dùng các loại như môi trường bồi dưỡng (tăng sinh) Buffered Pepton
Water (BPW), môi trường tăng sinh chọn lọc đặc hiệu là Tetrathionate hay
còn gọi là môi trường Mueller- Kauffmann và Rappaport Vassiliadis (RV).
Các loại môi trường thạch dùng để nhận dạng các khuẩn lạc Salmonella cũng
như kiểm tra một số đặc tính sinh hoá bao gồm Brilliant Green Agar (BGA),
Bismuth Sulfite Agar (BSA), Triple Sugar Ion (TSI), Xylose Lysine
Deroxycholate (XLD), Xylose Lysine Tetrathionate 4 (XLT
4
), Modified
Semisolid Rappaport Vassiliadis (MSRV), Rambach, Kligler.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Trên môi trường BSA: sau 48 giờ nuôi cấy ở 37
o
C, vi khuẩn Salmonella
mọc lên những khuẩn lạc đặc trưng, xung quanh khuẩn lạc màu nâu thẫm, giữa
khuẩn lạc màu nâu chuyển dần sang màu đen, khuẩn lạc có màu ánh kim.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Trên môi trường Kligler, mặt nghiêng môi trường không đổi màu do vi
khuẩn không lên men đường lactose, phần thạch đứng môi trường đổi từ màu
đỏ tím sang màu vàng chanh, xen kẽ trong thạch có các bọt khí do vi khuẩn
lên men đường glucose làm thay đổi pH của môi trường và sinh hơi. Trong
thực tế do vi khuẩn sinh H
2
S, nên phần thạch đứng có màu đen, nên màu vàng
thường bị lấn át, khó quan sát được bằng mắt thường.
Nhiệt độ nuôi cấy, PH môi trường và nồng độ muối, liên quan chặt chẽ
đến sự phát triển của vi khuẩn Salmonella. Nhiệt độ thích hợp nhất cho sự
phát triển của vi khuẩn là 37
o
C. Tuy nhiên Salmonella cũng mọc tốt ở nhiệt
độ 42
o
C. Đặc tính này ứng dụng trong phân lập Salmonella nhằm ức chế vi
khuẩn khác trong bệnh phẩm bị ô nhiễm. Môi trường có pH 6,5-7,5 là thích
hợp nhất cho sự phát triển của vi khuẩn. Tuy vậy Salmonella có thể phát triển
được ở pH từ 4,5-9,0. Nồng độ muối NaCl 3-4% trong môi trường có thể ức
chế sự phát triển của Salmonella (Nguyễn Như Thanh, 1990)[41].
1.2.3. Đặc tính sinh hóa
Mỗi loài Salmonella có khả năng lên men một số đường nhất định và
không đổi. Phần lớn các loài Salmonella lên men có sinh hơi đường glucoza,
mannit, mantoza, galactoza, levuloza, arabinoza. Một số loài như S. abortus
equi, S. abortus bovis, S. abortus ovis, S. typhisuis, S. typhi, S. choleraesuis,
S. gallinarum, S. enteritidis cũng lên men các đường nhưng không sinh hơi.

0
C-
12
0
C từ 4 đến 8 tháng. Thịt ướp ít có tác dụng diệt Salmonella ở bên trong,
Salmonella có khả năng tồn tại nhiều tháng trong phân, đất, nước và trong
chuồng nuôi động vật. Vi khuẩn có sức đề kháng cao đối với các loại hóa
chất, phải dùng NaOH nóng 3-4%, Formalin 2-5% thì mới tiêu diệt được
chúng (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)[31].
Trên mặt đất S. abortus có thể sống trong 10 ngày ở độ sâu 0,5cm trong
2 tháng. Ở nơi khô ráo, ánh sáng phân tán vi khuẩn sống trong 5 tháng, ở sàn
gỗ 87 ngày, ở tường gỗ 78 ngày, ở máng gỗ 108 ngày (Đào Trọng Đạt và cs,
1996)[13].
1.2.4. Đặc điểm dịch tễ học của Salmonella
Barnes và Sorensen (1975)[51] cho biết Salmonella phân tán, lây lan
nhanh, rộng rãi hơn ta tưởng. Chỉ cần 1 con trong đàn bị ỉa chảy do
Salmonella gây ra thì 24 giờ sau đó cả đàn đã bị lây nhiễm mầm bệnh. Trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
quá trình nổ ra dịch bệnh, vi khuẩn Salmonella cũng được tìm thấy ở khắp
mọi nơi như chuồng trại, rác rưởi, thức ăn, nước uống.
Nguồn cảm nhiễm chính là tất cả lợn trưởng thành mang trùng. Trực
khuẩn Phó thương hàn sống hoại sinh trong cơ thể lợn khỏe từ 25 - 50% lợn
khỏe mang trùng. Lợn khỏi bệnh là vật mang trùng và bài tiết vi trùng ra
ngoài theo phân. Cũng như hầu hết các loài vi khuẩn khác, Salmonella không
gây bệnh một cách đơn độc, mà bệnh nổ ra thường là kết quả của sự hội tụ
nhiều yếu tố. Trong một số yếu tố có thể chỉ là phụ, không đặc hiệu, song các
yếu tố này làm thay đổi khả năng miễn dịch bẩm sinh và là cơ hội cho bệnh nổ

Salmonella là trạng thái mang trùng và thải trùng của gia súc.
Nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu về đường nhiễm Salmonella đều
cho rằng: vi khuẩn Salmonella theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá và
có thể do tiếp xúc. Bình thường, chúng sống trong ống tiêu hoá mà không gây
bệnh. Chỉ khi nào sức đề kháng của lợn giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào máu
và nội tạng gây bệnh. Bệnh Phó thương hàn chỉ gây thành dịch địa phương,
dịch bệnh phụ thuộc vào cơ cấu đàn, tình hình vệ sinh thú y, chế độ chăm sóc nuôi
dưỡng và đặc điểm dịch tễ học của cơ sở đó. (Phan Thanh Phượng, 1988 [34];
Laval A, 2000[23], Nguyễn Như Thanh, 2001[42]).
Theo Archie Hunter (2002)[22] một nguồn bệnh đặc biệt quan trọng là
gia súc mang vi khuẩn Salmonella nhưng bình thường về lâm sàng. Những
gia súc này cơ thể đã khỏi về lâm sàng hoặc nhiễm vi khuẩn nhưng không
phát triển biểu hiện triệu chứng lâm sàng, chúng có thể thải vi khuẩn vào phân
trong vài tháng. Gia súc nhiễm bệnh thải vi khuẩn Salmonella vào trong phân
và bệnh xảy ra do tiếp xúc trực tiếp hay ô nhiễm phân vào thức ăn, nước uống
hay chuồng trại gia súc.
Gia súc nhập đàn cũng như gia súc xuất đàn là nguồn lây lan mầm bệnh
giữa các trang trại. Đặc biệt là các cơ sở cung cấp giống.
1.2.5. Cấu trúc kháng nguyên
Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp, gồm rất nhiều
loại. Theo Phạm Hồng Sơn (2002)[36] Salmonella có hơn 67 loại kháng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
nguyên O (có nhiều tài liệu công bố hơn 80 loại), 94 loại kháng nguyên H pha
1, hơn 11 kháng nguyên H pha 2, kháng nguyên K là kháng nguyên Vi.
Những năm gần đây, người ta phát hiện thêm kháng nguyên Pili của
Salmonella, yếu tố giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biếu mô. Có tới 80%
type Salmonella sản sinh kháng nguyên Pili, trong đó có S. typhimurium.

(vùng lõi)

Vùng
lipit A Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
KN - O của Salmonella rất phức tạp, theo Nguyễn Như Thanh
(1990)[41] người ta đã tìm thấy 65 yếu tố khác nhau, ký hiệu bằng số La
mã hay Ả rập.
1.2.5.2. Kháng nguyên H
KN - H của Salmonella bản chất là một protein nằm trong phần lông
của vi khuẩn. KN - H không chịu nhiệt, rất kém bền vững so với KN - O; bị
phá huỷ ở 60
0
C trong 1 giờ, dễ bị phá hủy bởi cồn và axit yếu.
KN - H không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh,
nhưng có ý nghĩa trong việc phân loại, định danh vi khuẩn.
KN - H không quyết định yếu tố độc lực, không có vai trò bám dính,
nhưng có tác dụng bảo vệ vi khuẩn đường ruột tránh sự tiêu diệt của đại thực
bào, giúp vi khuẩn sống và nhân lên trong tế bào gan, thận và ngay cả trong
đại thực bào (Weinstein và cs, 1984)[79].
KN - H chia làm 2 pha:
Pha 1 có tính chất đặc hiệu, gồm có 28 kháng nguyên lông, được biểu
thị bằng chữ la tinh thường: a, b, c, d, f, g nếu hết cả 28 chữ thì người ta sử
dụng chữ f và số đứng bên phải chữ f. Ví dụ f5, f27
Pha 2 không có tính chất đặc hiệu, gồm có 6 loại, được biểu thị bằng
chữ số Ả rập: 1, 2, 3, 4, 5, 6.

nhóm trong họ vi khuẩn đường ruột, được biểu thị bằng các chữ cái A, B,
L nhờ các đặc điểm sinh hoá khác nhau (Chữ K bắt nguồn từ chữ Kapsel
trong tiếng Đức).
KN - 5 dễ bị axit HCl phá hủy và tính chất ngưng kết của KN - 5 hoàn
toàn bị phá hủy ở nhiệt độ 120
o
C, nhưng không bị phá hủy bởi cồn.
KN - Vi có sức đề kháng cao với cồn và axit HCl. KN - Vi không liên
quan gì đến độc lực của vi khuẩn, nhưng đóng vai trò chính trong việc tạo
miễn dịch chủ động và thụ động ở động vật và người.
KN - M kháng nguyên của dòng vi khuẩn có khuẩn lạc dạng nhầy.
Kháng nguyên Vi là một loại kháng nguyên có khả năng ngưng kết
kháng thể O khi nó phát triển nhiều.
1.2.5.4. Kháng nguyên màng ngoài vỏ bọc (Outer Membrame Protein - OMP)
(KN - OMP)
Lớp màng ngoài của Salmonella chứa protein có đặc tính đã được
hydrô hóa, thành phần này chiếm tới 5% toàn bộ KN - OMP. OMP của
S. typhymurium có 4 loại protein phân chia theo trọng lượng phân tử, trong đó
có 3 loại tạo kênh vận chuyển của màng tế bào. Chức năng của KN - OMP
chưa được xác định rõ, nhưng khi OMP thay đổi cấu trúc thì ảnh hưởng đến
khả năng hoạt động của vi khuẩn.
1.2.5.5. Kháng nguyên pili (KN - Pili) - Fimbriae antigen
KN pili của vi khuẩn Salmonella nằm trong cấu trúc Fimbriae nên còn
gọi là KN - F. Nó có chức năng giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung
mao ruột. Theo Lê Văn Tạo (1993)[39] kháng nguyên Fimbriae của
Salmonella thuộc type I (CFA/I) có khả năng ngưng kết hồng cầu gà, chuột
lang. Nó được phân biệt với kháng nguyên bám dính không phải type I bằng
phản ứng mẫn cảm với Manoza (MSHA) và phản ứng chống Manoza
(MRHA) của kháng nguyên Fimbriae không phải type I.

Trích đoạn Các yếu tố không phải là độc tố Vai trò gây bệnh đường tiêu hoá của Salmonella Kết quả xác định kháng nguyên bám dính của vi khuẩn Salmonella Kết quả gây bệnh thực nghiệm trên vịt của vi khuẩn Salmonella Kết quả xác định khả năng mẫn cảm kháng sinh của ha
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status