Bước đầu khảo sát văn học dân gian đảo Phú Quý - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
NGUYỄN THỊ NGỌC HẠNH BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT VĂN HỌC
DÂN GIAN ĐẢO PHÚ QUÝ
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

tuyệt vời của tôi.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo của trường THPT
Phan Bội Châu, Sở văn hóa thông tin tỉnh Bình Thuận, Bảo tàng Bình
Thuận, Huyện Ủy, Ủy ban nhân dân, các Ban ngành đoàn thể, các vò
nghệ nhân, cùng các bà con huyện đảo Phú Quý đã luôn tạo điều kiện,
giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt trong thời gian làm luận văn. Đồng thời, tôi
cũng xin gởi lời tri ân đặc biệt đến Anh Nguyễn Xuân Lý (Giám đốc Bảo
tàng Bình Thuận), Chò Nguyễn Thò Tuyết Hằng (Phó chủ tòch phụ trách
khối xã văn Phú Quý), Anh Nguyễn Văn Cường (Trưởng phòng Văn hóa
Thông tin Phú Quý), Chú Huỳnh Huy Sô.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 7 năm 2008

Nguyễn Thò Ngọc Hạnh

MỤC LỤC

Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. MẤY ĐẶC ĐIỂM VỀ VĂN HÓA ĐẢO PHÚ QUÝ........................12
1.1. Vùng đất ..........................................................................................................12
1.1.1. Địa lý vùng đất ....................................................................................12
1.1.2. Lịch sử vùng đất ..................................................................................13
1.2. Con người ........................................................................................................15
1.2.1. Cơ cấu và mối quan hệ giữa các tộc người .........................................15
1.2.2. Đời sống sinh hoạt, đặc điểm nghề nghiệp ..........................................23
1.2.3. Đời sống tinh thần ...............................................................................25
Chương 2. TÌNH HÌNH VĂN HỌC DÂN GIAN ĐẢO PHÚ QUÝ..................
31

con người.
Tất cả những vấn đề nêu trên đều không nằm ngoài mục đích giới thiệu sơ bộ
về lý thuyết vùng văn hóa, để từ đây chúng ta có thể đi sâu vào việc khảo sát,
nghiên cứu về văn học dân gian của một vùng đất tiêu biểu: “Tiểu vùng văn hóa cực
Nam Trung Bộ” bao gồm lãnh thổ của ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình
Thuận. Đây là vùng đất khá
đặc biệt về phương diện địa lý, khí hậu, cư dân và văn
hóa của nước ta. Ngay từ đầu, miền đất này đã mang trong mình một số phận lịch
sử riêng, đầy ắp sự kiện, đầy ắp biến động.
Để khắc họa chân dung tiểu vùng văn hóa này đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu, nhưng mảnh đất ấy vẫn còn tiềm ẩn nhiều điều mới mẻ, hấp dẫn, gợi
nhiều kha
o khát khám phá, tìm hiểu đối với những người quan tâm. Trong quá trình
tiếp cận nền văn hóa dân gian của tiểu vùng văn hóa này, mà chủ yếu là vùng đất
Bình Thuận giàu truyền thống với bề dày lịch sử hơn 300 năm, chúng tôi đặc biệt
chú ý đến văn hóa đảo Phú Quý - một hòn đảo xanh nằm giữa biển khơi, hài hòa
trong bức tranh hùng vĩ của tổ quốc thân yêu - mà trước giờ ít người biết tới. Lịch
sử của đảo Phú Quý hình thà
nh trên nền tảng của quá trình xây dựng văn hóa của
chính nó. Bất chấp bao đổi thay thăng trầm của lịch sử và thử thách nghiệt ngã của
thời gian, những mảng truyện kể, những câu tục ngữ, ca dao, hò vè dân gian trên
đảo vẫn còn được người dân trên đảo bảo tồn, lưu truyền.
Thế giới thi ca dân gian là:“Vũ trụ của tinh thần, của tình cảm, của sinh
hoạt xã hội, của bản chất thiên nhiên, chứa đựng mọi tiềm năng sinh lực, nên
khi đặt mình trước đối tượng bao la ấy, chúng tôi thấy tầm mắt mình chỉ là một
con đom đóm giữa n
gàn sao” [48, tr.607]. Thế nhưng, với bao ấp ủ, băn khoăn,
thắc mắc về truyền thống văn hóa ở vùng đất mà mình đang sinh sống, chúng tôi đã
trải qua những giờ phút vượt trên “đầu sóng, ngọn gió” trong những chuyến hải
trình đầy gian nan để đến với hòn đảo lành Cù Lao Thu tuyệt đẹp. Và trong chuyến

Tâm.
Thứ hai, trong khi tìm hiểu về văn hoá dân gian xứ đảo, chúng tôi chú trọng
đến công tác sưu tầm, nghiên cứu sơ bộ về cơ cấu văn học dân gian ở vùng đất này,
bằng cách phân loại các loại hình văn học dâ
n gian có trên đảo để thuận lợi cho quá
trình khảo sát, phân tích. Ở đây, chúng tôi dựa vào những tiêu chí phân chia đã
được các nhà Folklore học công nhận, để từ đó thấy được sự phong phú, đa dạng
của nền văn hoá hải đảo này. Đồng thời bước đầu đi vào tìm hiểu, phân tích, đánh
giá một cách tổng quan về tình hình và đặc điểm của các thể loại văn học dâ
n gian ở
đảo Phú Quý.
Thứ ba, bước đầu so sánh đối chiếu biến động văn học dân gian ở vùng hải
đảo và vùng lục địa (mà chủ yếu đặt trong mối tương quan với vùng văn hóa duyên
hải miền Trung). Từ đó thấy được nét đặc sắc, độc đáo của nền văn học dân gian
vùng đảo.
Thứ tư, lập một phụ lục, tập hợp tất cả các câu tục ngữ, câu đố, bài hò vè, ca

dao, các hình thức diễn xướng dân gian như hát sắc bùa, hát bả trạo, tuồng cổ… mà
chúng tôi sưu tầm được và hiện còn lưu truyền trên đảo.
3. Lịch sử vấn đề:
Đề tài “Bước đầu khảo sát Văn học dân gian đảo Phú Quý” mà chúng tôi
nghiên cứu là một đề tài mang tính địa phương. Hơn nữa đảo Phú Quý là một địa
danh mà từ trước tới nay rất ít người biết đến, nê
n tư liệu nghiên cứu liên quan đến
đề tài này là rất ít và không hệ thống. Bên cạnh đó, đề tài này được thực hiện qua
các chuyến điền dã, sưu tầm các câu chuyện kể được lưu truyền trong dân gian bằng
hình thức truyền miệng, nên việc thẩm định tính chính xác, tính lịch sử, khoa học là
hết sức khó khăn. Trong thực tế nghiên cứu, chúng tôi đã được tiếp cận với một số
tài liệu có liên quan đến những vấn đề chúng tôi đang quan tâm tìm hiểu. Đó là các
công trình:

ghi chép lại 4 truyện kể dân gian (Bà Chúa Bàn Tranh, Ông Đụn - Bà Giàng, Thầy
Nại, Giặc Tàu Ô cướp đảo) và sắp xếp thành 3 nhóm: về nhân vật thời mở đất, về
sáng tạo văn hóa gắn với lý giải địa danh, về giặc cướp đảo, mà không đưa ra được
tiêu chí phân loại cụ thể nào. Với mảng truyện cười, chỉ m
ang tính chất giới thiệu,
tóm tắt rất sơ lược nên khó hình dung ra diễn biến cốt truyện và tác giả khẳng định
“hầu hết các truyện cười đều sử dụng yếu tố tục để gây cười…, truyện cười ít dị
bản, vì có nguồn gốc từ một số sự việc hàng ngày, được gia cố thêm và truyền khẩu
nên chưa mạch lạc, lôi cuốn” [9, tr.46]. Với thể loại vè, tác giả bình tán về một số
đoạn trích ngắn trong những bài
vè như: Thơ đi kinh, Vè chiếc tàu gạo Nhật mắc
cạn, Vè trận bão năm 88, Vè các lái, Vè làm mướn, Vè nói ngược, Vè con cá, Vè
trái cây. Để kết thúc phần trình bày về loại hình tự sự , tác giả đưa ra một số nhận
định ngắn về giá trị tư tưởng: 1. Đề cao nghị lực phi thường, tài lao động của nhân
vật và cộng đồng, 2. Tôn thờ và
kính trọng những vị thần có công trong việc ngăn
ngừa, bảo vệ đảo thoát khỏi giặc biển, 3. Phản ánh cuộc sống cộng đồng nhiều dân
tộc, 4. Tạo tiếng cười các thói hư tật xấu, góp phần xây dựng một xã hội đảo trong
lành, 5. Phản ánh sự việc nổi bật xảy ra trên đảo từ đầu thế kỷ.
-
Loại hình trữ tình: trong phần này tác giả không tạo thành các đề mục nhỏ,
riêng biệt để bàn về đặc điểm thi pháp của các thể loại ca dao dân ca (theo mục
đích: trong nghi lễ, sinh hoạt, vui chơi), mà triển khai vấn đề một cách đơn thuần,
tràn lan theo cách “ trích dẫn - bình tán - phát biểu cảm xúc”. Trong phần tiểu kết,
tác giả khẳng định “Ca dao dân ca đảo Phú Quý là sự kế thừa nghệ thuật thơ trữ
tình dân gian Việt Nam” thông qua những biểu hiện cụ thể sau: tạo bản sắc riêng,
thể hiện rõ phong các
h dân gian địa phương, có tính dị bản, không gian và thời gian
nghệ thuật của ca dao dân ca giống những công thức truyền thống quen thuộc có
trên đất liền.

số đơn vị tác phẩm sưu tầm trong cơng trình này, như là một nguồn tư liệu đáng tin
cậy để chúng tơi tham khảo và chọn lọc.
“Sưu tầm tư liệu Hán Nơm trên đảo Phú Q Bình Thuận” [72]:
Cơng trình nghiên cứu này của tác giả Võ Thị Tâm
(ở Viện khoa học xã hội
Tp.HCM, Trung tâm nghiên cứu Hán Nơm, cơng bố năm 2000). Trong cơng trình
này, tác giả mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét về “tiềm năng” tư liệu Hán Nơm
đất đảo mà chưa cung cấp hết các tư liệu sưu tầm, tập hợp được (mỗi một thể loại
chỉ có 01 - 02 đơn vị tác phẩm, nhiều nhất là văn tế có 06 bài). Trong đó quan trọng
nhất là có thể loại tuồng cổ được ghi chép bằng chữ Hán (9 bản tuồng hoàn
chỉnh), nhưng tác giả mới chỉ cung cấp được 1 bản tuồng (Sầm Bành). Mặc dù
vậy, đây vẫn là nguồn tư liệu q, cung cấp một cách trọn vẹn bài “Vè đi Kinh” dài
1.284 câu thơ, của nghệ nhân Bùi Quang Diêu, mà khơng có cơng trình sưu tầm nào
được cơng bố rộng rãi ghi chép lại tồn vẹn.
+ “Địa chí Bình Thuận” [70]:
Cuốn sách này của Sở văn hóa Thơng tin Tỉnh Bình Thuận, được xuất bản
năm 2006, do một nhóm tác giả thực hiện. Đây là một cơng trình mang tính tổng

hợp về tất cả các mặt lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa… của tỉnh Bình Thuận (với
dung lượng rất ấn tượng: 1.241 trang). Nhìn chung, có thể xem cuốn sách này là
một trong số ít tư liệu hiếm hoi viết về tỉnh Bình Thuận nói chung và huyện đảo
Phú Q nói riêng. Trong đó, chúng tơi đặc biệt chú ý đến chương 3 phần IV -
“Văn học nghệ thuật dân gian”, vì nó cung cấp một cái nhìn tổng thể về tình hình
văn học dâ
n gian tỉnh nhà, cụ thể là đề cập đến 2 vấn đề chính: Văn học của dân
tộc Kinh (văn học dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian, trò diễn dân gian) và
Văn học của các dân tộc ít người (Chăm, Hoa, các dân tộc ít người ở miền núi,
Tày, Nùng).
Ở phần đầu, cơng trình này khẳng định “văn học dân gian Bình Thuận bắt
nguồn từ miền Trung và cả nước, đồng thời chịu ít nhiều ảnh hưởng với cư dân bản

các hình thức sau: hát ru, hát đối đáp, hò bả trạo,
hô bài chòi. Phản ánh nếp sống, cách cảm cách nghĩ của nhân dân lao động về các
mối quan hệ trong gia đình, quê hương, làng xóm…và dẫn chứng bằng các lời ca
điệu hò lưu truyền trong địa bàn tỉnh, bao gồm cả vùng đất liền lẫn hải đảo.
Ở phần tiếp theo, tư liệu này đi vào giới thiệu về nền văn học dâ
n gian của
người dân tộc, chủ yếu là người Chăm. Nền văn học dân gian Chăm có những thể
loại phổ biến như trường ca, truyền thuyết sáng tác theo thể lục bát mang đậm dấu
ấn lịch sử dân tộc lồng trong quan hệ thể hiện các sinh hoạt tôn giáo, tình người.
Nhìn chung, công trình “Địa chí Bình Thuận” cũng không phải là một công
trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian của đảo P
hú Quý nói riêng, của
tỉnh Bình Thuận nói chung, nhưng trong chừng mực nào đó, nó có đề cập, phác họa
bức chân dung về diện mạo văn học dân gian của tỉnh nhà. Trong tình hình thực tế,
khi mà nguồn tư liệu về văn học dân gian đảo Phú Quý là rất hiếm hoi, thì chúng tôi
vẫn coi ñây cũng sẽ là một cứ liệu quan trọng, để lấy đó làm cơ sở, tiến hành phân
tích đối chiếu văn học hải đảo với lục địa, nhằm tìm ra mối tương đồng, khác biệt.
Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu m
à chúng tôi đã đề cập ở trên, mới chỉ
dừng lại ở chỗ làm công tác giới thiệu, “sưu tầm” và bình giảng về nội dung, nghệ
thuật của các đơn vị tác phẩm văn học dân gian thuộc các thể loại khác nhau, mà
chưa tiếp cận văn học ở góc độ “nghiên cứu, phân tích, thẩm định, lý giải hiện
tượng văn học”. Do vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp cận văn học dân gia
n theo
hướng toàn diện hơn, dưới góc nhìn địa văn hóa, lịch sử giao lưu tiếp biến văn học
(bởi điều này có liên quan đến nguồn gốc tộc người trên đảo Phú Quý). Từ đó, chỉ
ra được đâu là nét đặc sắc, là sức “hấp dẫn” riêng của nền văn học dân gian xứ đảo,
đâu là sự chuyển hóa của văn học dân gian từ lục địa đến hải đảo, mà các công trình
nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến một cách toàn diện,
sâu sắc.

B ởi văn hóa dân gian là một nghệ thuật nguyên hợp, thể hiện chức năng phản
ánh nhận thức có tính chất nguyên hợp về thế giới, nên thông thường chúng ta tiếp
cận nó trước hết ở phương diện thẩm mỹ kết hợp với tiếp cận chỉnh thể. Với cách
tiếp cận này, chúng ta có thể xác định được giá trị đích thực của tác phẩm
dân gian,
cũng như giúp cho việc tìm hiểu quá trình tiếp biến văn hóa. Ngoài ra, luận văn còn
sử dụng những phương pháp quen thuộc trong nghiên cứu khảo sát:
Phương pháp thống kê hệ thống: người viết trình bày một cách hệ thống
những đơn vị tác phẩm cùng thể loại, tóm tắt những truyện kể dân gian lưu truyền.
Đồng thời khảo sát, phân loại, thống kê các câu ca dao, câu hát đối, câu đố… để tìm
ra hệ đề tài, môtip chung của các loại hình văn học dâ
n gian tự sự, trữ tình đó.
Phương pháp phân tích đối chiếu: bên cạnh việc tiến hành phân tích các
loại hình văn học dân gian có trên đất đảo, người viết còn đối chiếu với các đơn vị
tác phẩm không thuộc về vùng đất này nhưng lại có quan hệ khá mật thiết đến việc
hình thành, phát sinh những lời ca, câu kể của người dân bản xứ…
Phương pháp sưu tầm và thẩm định tư liệu: người viết tập hợp, sắp xếp
nguồn tư liệu sưu tầm
. Trong một chừng mực nào đó, người viết đã bước đầu thẩm
định được tính chính xác của một số tư liệu sưu tầm.
Trình tự nghiên cứu: chúng tôi lần lượt đi vào những vấn đề cơ bản:
- Tìm hiểu vùng đất một cách hệ thống, t
oàn diện về cả địa chí, lịch sử hình
thành, văn hoá vùng đất.
- Xác định đối tượng sưu tầm, chọn lọc theo những tiêu chí khoa học.
- Phân loại tư liệu tham khảo.
6. Đóng góp của luận văn:
Thứ nhất, chúng tôi tập hợp lại các thể loại văn học dân gian hiện còn tồn tại
trên đảo Phú Quý (dù số lượng tác phẩm có thể không nhiều, bởi hầu hết những loại
hình văn học dân gian này không được lưu giữ bằng văn bản viết mà chỉ qua truyền

Tỉnh Bình Thuận, một vùng đất mới của miền duyên hải cực Nam Trung bộ
với tuổi đời hơn 300 năm (1697 – 2008), đã trải qua nhiều sự kiện biến động lớn
của lịch sử. Cùng với quá trình tụ cư, hợp cư của cư dân miền ngoài với người dân
bản địa diễn ra rất phức tạp, mảnh đất này còn lưu dấu nhiều chứng tích bi hùng của
cả một thời chiến tranh loạn lạc. Theo sách xưa ghi lại: “Tỉnh Bình Thuận đời xưa
là đất Phan Lý, Phan Lang nước Chiêm Thành. Sau cuộc Nam chinh của vua Lê
Thánh Tông vào năm Canh Dần 1470, C
hiêm Thành trở nên suy yếu. Năm Nhâm
Thân 1693, vua Chiêm là Bà Tranh bị chưởng cơ Nguyễn Hữu Kỉnh đánh bại, Hiển
Tông Hiếu Minh hoàng đế Nguyễn Phúc Chu lấy đất Chiêm Thành rồi đổi thành
Thuận Trấn…Đời Duệ Tông Hiếu Đinh hoàng đế N
guyễn Phúc Thuần vào năm
1773, Tây Sơn chiếm Bình Thuận. Nhưng tới năm 1793 Thế Tổ Cao hoàng đế
Nguyễn Phúc Ánh lại khôi phục được đất cũ” [68, tr.264 - 265].
Bình Thuận có 10 đơn vị trực thuộc hành chính, trong đó có Phú Quý – một
huyện đảo nhỏ bé, xa xôi - nơi mênh mông sóng nước chập chùng, nơi có những
danh lam thắng cảnh nổi tiếng, có hàng dừa xanh soi bóng, có bãi cát trắng trải dài
hài hoà trong bức tranh thiên nhiên hùng vĩ nên thơ của tổ quốc thân yêu. Và nơi ấy
còn có cả một nền văn học dân gian phong phú, đặc sắc m
ang sắc thái văn hóa biển
đậm nét.
Cách bờ biển thành phố Phan Thiết 56,7 hải lý (khoảng 105km) theo hướng
Đông - Đông Nam, ta sẽ bắt gặp một hòn đảo nằm giữa biển Đông với hình thù rất
kỳ thú. Theo sự tưởng tượng và nhận xét của rất nhiều người, đảo Phú Quý khi nhìn
từ phía Đông thì trông như một con rồng đang uốn lượn nổi trên mặt biển xanh
(hình dá
ng rồng tương ứng với những địa danh trên đảo: đầu - Long Hải, thân –
Tam Thanh, đuôi – Ngũ Phụng). Khi nhìn từ phía Bắc thì lại có hình dáng như một
con cá thu, và nếu nhìn ngắm đảo từ phía Tây Nam trông chẳng khác nào một con
cá voi khổng lồ đang trồi lên mặt nước, với đầu là núi Cao Cát, đuôi là núi Ông

1.1.2. Lịch sử vùng đất:
Quá trình hình thành và phát triển đảo Phú Quý đã nhiều lần đổi thay đơn vị
hành chính và cấp trực thuộc. Đảo Phú Quý được ghi nhận nguồn gốc có trong lịch
sử từ thời Tiền Lê (981 - 1009). Sách sử xưa “Đại Nam Nhất Thống Chí” có ghi lại
rằng: “Đảo Thuận Tịnh: giữa biển Đông đột khởi một hòn đảo, tiếp thẳng bờ biển
Phan Lý. Đảo dài 15 dặm, bốn bên đều là bãi cát, dân ở bao quanh, có 11 thôn
dùng người thổ hào quản lãnh, thường năm phải biệt nạp thuế vải”. [19, tr.24].
Qua những tài liệu về khảo cổ học thời Sơ sử - Tiền sử của nhóm nghiên cứu
khoa học về di tích đảo Phú Quý, cho thấy rằng từ thời xa xưa đã có người sinh
sống trên mảnh đất này. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rất nhiều dấu t
ích văn
hoá cổ (ở cả 3 xã trên đảo): trong những ngôi mộ cổ phân bố tập trung ở xã Long
Hải, người ta tìm thấy nhiều hiện vật là những mảnh gốm, đây là phương tiện sử
dụng của người xưa, cùng với những công cụ lao động là những chiếc rìu bằng đá.
Ngoài ra, còn có những hiện vật liên quan đến ngành nghề truyền thống như: hiện
vật về nghề dệt, nghề chế biến đậu phụng, hũ ghè đựng vôi ăn trầu. Bê
n cạnh đó,
trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân trong vùng đã tìm thấy những mộ vò
lớn. Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như búa và cả những chiếc
vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo. Căn cứ vào nhiều tài liệu lịch
sử, những bằng chứng vật chất thu đư
ợc trên đảo như rìu, bôn, mộ vò…Cộng với
các đợt điều tra thăm dò khảo cổ học trong suốt 20 năm qua của Bảo tàng tỉnh Bình
Thuận và sau này là của viện Khảo cổ học Việt Nam, đã xác định các di chỉ khảo cổ
học thuộc thời tiền, sơ sử trên đảo Phú Quý mang đặc trưng điển hình của văn hóa
giai đoạn Sa Huỳnh muộn sang tiền văn hóa
Chămpa “Nền văn hoá tồn tại cách
đây 2.500 – 3.000 năm” [72, tr.3]. Theo nhận định của hai nhà khảo cổ học - Giáo
sư Trần Quốc Vượng và Giáo sư Hà Văn Tấn: “Chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ
tiên trực tiếp của những cư dân đã xây dựng các quốc gia Chămpa” [84, tr.19].

uế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc
tỉnh Bình Thuận, phủ Ninh Thuận, huyện Tuy Phong. Ngày 15 - 12 - 1977, từ vị trí
địa lý quan trọng của đảo, xã Phú Quý được nâng lên thành huyện Phú Quý trực
thuộc tỉnh Bình Thuận.
1.2. Con người:
1.2.1. Cơ cấu và mối quan hệ giữa các tộc người:
Về nguồn gốc cư dân đảo P
hú Quý, theo các sự tích cũ thì cộng đồng người
Chăm, người Kinh, người Hoa đến đây sinh cư lập nghiệp từ khá sớm. Người
Chăm là chủ nhân đầu tiên đến khai phá trên đảo. Trong điều kiện tư liệu còn hạn
chế, chúng ta vẫn chưa thể biết đích xác họ đặt chân đến đảo vào thời điểm nào,
nhưng có giả thiết cho rằng họ đến đảo và
o khoảng từ thế kỷ XV – XVI. Căn cứ vào
những dấu tích cổ xưa nhất còn lại trên đảo như: miếu Bà Chúa, những ngôi mộ cổ
của người Chăm ở ấp Tây Long Hải, những giếng cổ bằng đá được làm theo kiểu
của giếng người Chăm, cách xây nhà… cho thấy người Chăm đến đảo từ rất sớm
khi chưa có người Việt, và đặt tên đảo là Koh Rong. Sau đó là tập đoàn người Việt
đầu tiên đến Phú Quý (khoảng cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII).
Thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ lịch sử nhiều biến động, gắn liền với nó là
công cuộc khai phá, mở rộng bờ cõi phía Nam
do các chúa Nguyễn khởi xướng.
Vào thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627 – 1672), chỉ trong vòng nửa thế kỷ:
“Hai bên đánh nhau 7 trận lớn. Từ nam Nghệ An đến Quảng Bình trở thành chiến
trường… nội chiến đã để lại biết bao hậu quả đau lòng không chỉ về vật chất, về
con người mà cả về tinh t
hần của nhân dân cả nước…” [46, tr.155], “trong cuộc
chiến tranh với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn cảm thấy vấn đề mở
rộng lãnh thổ vào phía Nam – nếu có thể làm được – có ý nghĩa sống còn với chính
quyền của mình... Từ năm 1611, công cuộc mở rộng lãnh thổ bắt đầu và kéo dài đến
giữa thế kỷ XVIII, bằng hai con đường chính là: di dân và xâm lấn. Trong quá trình

đơn từ xi
n lập ấp Quý Thạnh, trong đơn viết: “…Tổ phụ chúng tôi xưa kia vốn
người có nguyên quán ở hai phủ Bình Định, Quảng Ngãi, gặp mùa đói kém nên
phiêu bạt đến ngụ ở xứ Cù Lao Thu khai phá vùng đất hoang nhàn. Sau này có lời
truyền 50 nóc nhà được lập thành một ấp, ông cha chúng tôi đã đăng bộ và xứ ấy là
Thương Hải để nộp thuế hàng năm” [71, tr.23]. Về sau khi người Việt đến đảo
đông và thế lực dần mạnh hơn đã lấn áp người Chàm. Vì bị t
hua kém người Việt
nên người Chàm từ từ rời bỏ đảo đi nơi khác. Cùng với người Chăm và người Kinh,
một số người Hoa cũng hòa nhập vào cộng đồng cư dân Phú Quý. Theo sách sử,
vào thế kỷ XVII một số quan quân nhà Minh cùng họ hàng gia quyến, sau khi
chống nhà Thanh thất bại, không chịu khuất phục, đã dong thuyền vào Nam nước
ta, xin chúa
Nguyễn cho được định cư lập nghiệp ở vùng đất Thuỷ Chân Lạp (Đông
Nam Bộ ngày nay). Họ dùng thuyền vượt biển đi về phương Nam, hàng chục
thuyền ghé lại đảo Phú Quý tiếp nước ngọt, nghỉ ngơi và dừng chân lập nghiệp ở
đó. “Cùng với người Kinh, một số người Hoa, cũng hòa nhập vào cộng đồng cư
dân ở Phú Quý, vào khoảng thế kỷ XVII” [12, tr.12]. Khi đặt châ
n lên hòn Cù Lao
Thu, các Hoa kiều đem đến cho hòn đảo nhỏ một luồng không khí mới, năng động
hơn, tất bật hơn. Người Hoa vốn rất giỏi về chăn nuôi, buôn bán, nên khi đến đây họ
đã phát huy thế mạnh của mình. Nhiều người trong số họ đã làm ăn khấm khá và trở
nên giàu có. Nhưng có lẽ mảnh đất ấy không đủ chỗ cho họ phát huy hết sở trường
của mình, dần dà họ đã di cư vào các thành phố lớn ở đất liền. Họ như cánh chim
bằng muốn hòa mình vào không gian bao la của đất trời, đến muộn và ra đi rất sớm.
Tuy nhiên không vì thế mà dấu ấn văn hóa của người Hoa họ trở nên phai nhòa
trong kí ức người dân nơi đây.
Một mình trơ trọi giữa đại dương mênh mông sóng nước, đảo Phú Quý dường
như bị cô lập hoàn t
oàn với thế giới xung quanh. Từng ngày trôi qua, người dân trên

và làm đồ gốm.
Được xem là những chủ nhân đầu tiên cư ngụ tại đảo Phú Quý và cũng là
những người rời đảo sớm nhất, người Chăm đã kịp để lại cho mảnh đất bé nhỏ một
di sản văn hóa ti
nh thần và vật chất phong phú. Mà người được thừa hưởng những
tinh hoa văn hóa ấy, không ai khác là những lưu dân đến từ dải đất miền Trung chật
hẹp, gian khó. Từ buổi ban đầu bỡ ngỡ khi đặt bước chân lên hòn đảo nhỏ “xứ sở lạ
lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”, những tộc người Việt đã sớm
nhận ra giá
trị của nền văn hóa Chăm và đã nhanh chóng tiếp thu một cách chủ
động có chọn lọc, trên tinh thần gạn đục khơi trong. Mà trước hết là đón nhận lấy
những gì tốt đẹp, tiện ích phục vụ cho nhu cầu sống tối thiểu của mình. Không có
thói quen “dựng nhà mái thấp, ít cửa sổ, đi phải khom lưng như người Chăm” [90,
tr.149], nên người Việt vẫn xâ
y dựng nhà cửa thoáng mát, cao rộng. Thế nhưng ở
đảo, mỗi khi đổi mùa thì đất, cát và gió cứ tung bay trắng trời. Để đối phó với thiên
nhiên, người Việt đã học hỏi cách xây tường rào bằng đá của người Chăm để che
xung quanh nhà. Mỗi khi đi làm nương, phải vượt qua những gò đồi cao, cây cối
rậm rạp, cát nóng phỏng chân, lại phải thồ vác nặng, thì nhờ có chiếc gùi được làm
theo cách của người Chăm, nên bà con lưu dân mới phần nào vơi bớt mệt nhọc. Để
đối phó với môi trường khí hậu khắc nghiệt, nhất là vào những buổi trưa hè oi ả
nóng bức, rát mặt bỏng chân, những đêm khuya giá rét lênh đênh trên biển để câu
mực, đánh cá, những ngà
y mùa thất bát đói kém, người Việt cũng đã học hỏi kinh
nghiệm làm nương rẫy, trồng bông, dệt vải của người Chăm, để giải quyết nhu cầu
ăn mặc. Vốn chăm chỉ lại khéo tay, nê
n họ nhanh chóng tìm được bí quyết ngành
nghề để tạo ra những súc Vải Bạch bố bền chắc, trồng được các loại đậu, bắp, khoai
có chất lượng cao.
Đời sống tâm linh là cái nền vững chắc nhất của quan hệ cộng đồng. Do

mang trong mình sự hỗn dung văn hóa Chăm - Việt. Do đó, chúng ta cũng có thể
hiểu được lý do vì sao mà những người lưu dân ở đảo Phú Q
uý cũng nhất mực tôn
kính, thờ phụng vị Thượng Đẳng Thần này. Mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa
các tộc người còn được thể hiện rất rõ trong văn học, mà tiêu biểu nhất là ở các
truyện kể dân gian. Trên đất đảo cũng còn lưu truyền một truyền thuyết khác về
một vị nữ thần Chăm, cũng được xem là Mẹ xứ sở. Đó là truyền thuyết về Bà Chúa,
người phụ nữ đầu tiên có công khai phá mảnh đất hoang sơ và biến nó thành những
làng mạc trù phú, nhưng với nội dung khác hẳn so với các truyện kể trước đó. Mặc
dù Bà Chúa không có được sự bất tử, biến hóa vô biên như Thần Sáng Thế Pô Inư
Nagar, nhưng khi qua đời Bà vẫn được nhân dân tôn thờ kính cẩn và trở thành một
trong hai vị thần c
ó quyền lực nhất trên đảo. Nên khi người Chăm rời bỏ hòn đảo để
đến nơi khác làm ăn sinh sống, người Việt đã thay họ “tiếp quản” ngôi miếu thờ Bà
Chúa và tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng, hết lòng phụng thờ Bà Chúa Bàn
Tranh. Tương truyền rằng những mảnh ruộng xưa kia Bà Chúa cấp phát cho dân,
nay đều được nhân dân đảo gọi với một cái tên rất thân mật: Ruộng Bà
Chúa.
Những thửa ruộng này vẫn còn được giữ lại và nhân dân trong vùng không canh tác
trên đất ấy, như để thể hiện tấm lòng tôn kính với vị thần xứ sở.
Cũng giống như truyền thuyết về Thiên Y A Na, về Bà Chúa, truyền thuyết về
Thầy Chúa không chỉ cho chúng ta thấy công lao to lớn của vị thần này, mà còn mở
ra một chân trời mới gợi nhắc lại về mối quan hệ văn h
óa, nguồn gốc tộc người
giữa hai dân tộc Hoa – Chăm. Không phải ngẫu nhiên mà trong truyền thuyết kể
rằng Thầy Nại (thầy địa lý người Hoa) lại xuất thân là một vị hoàng tử người Chăm.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà Thầy Nại lại gọi công chúa Bàn Tranh (người
Chăm) là chị và họ đã cùng hiển linh, sát cánh bên nhau, để bảo vệ hòn đảo nhỏ bé
thân yêu nhưng đầy ắp tình người nà
y. Trong tâm thức văn hóa người Chăm, họ

giữa các tộc nguời Chăm – Việt còn được
phản ánh trong tập tục thờ cúng Cá Ông. Trong tín ngưỡng của người Chăm, họ
rất tôn thờ vị thần biển Nam Hải (tiếng Chăm gọi là Thần Po Riay hay Po Yamư).
Chúng ta đều biết người Việt “Cơ bản là nông dân, nên tín ngưỡng của họ gắn bó
với nông nghiệp, tuy nhiên có một bộ phận sống ven biển, đặc biệt là từ Trung Bộ
vào N
am Bộ, làm nghề đánh cá nên tín ngưỡng của họ gắn bó với sông nước, biển
khơi…Đó là tục thờ thủy thần” [75, tr.373]. Bên cạnh đó, những người lưu dân Việt
trên đường Nam tiến, đã tiếp thu tín ngưỡng này của người Chăm trong quá trình
giao lưu văn hóa và Thần Nam Hải đã đi vào tín ngưỡng dân gian của người cư dân
Việt một cách sâu sắc, đậm nét. Theo truyền t
huyết dân gian của người Chăm, “Vị
thần Cha-aih-va vì quá nôn nóng trở về xứ sở sau thời gian khổ luyện phép thuật,
đã cãi lại vị thầy của mình và tự ý biến thành Cá Voi ra sông lớn mà đi và sau đó bị
trừng phạt. Cha-aih-va đổi tên và tự xưng là Po Riyah (thần Sóng biển). Từ đó mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status