Đề tài: " VỀ KHÁI NIỆM DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC " - Pdf 21


Nghiên cứu triết học

Đề tài: " VỀ KHÁI NIỆM DÂN TỘC VÀ
CHỦ NGHĨA DÂN TỘC "
VỀ KHÁI NIỆM DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA DÂN TỘC

PHẠM HUY CHÂU (*)

Trong bài viết này, tác giả đã phân tích, lý giải để làm rõ thêm các khái ni
ệm
dân tộc và chủ nghĩa dân tộc. Theo tác giả, dân tộc là cộng đồng những ngư
ời
cùng chung một lịch sử, nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một v
ùng lãnh
thổ và có chung một nền văn hoá. Chủ nghĩa dân tộc là ý thức của mỗi ngư
ời về
cội nguồn dân tộc, ý thức về quyền dân tộc, về phẩm giá dân tộc,… Ch
ủ nghĩa

ển của dân tộc), nói chung một ngôn
ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hi
ểu theo nghĩa
rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con ngư
ời
sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt đư
ợc. Văn hoá của các dân tộc
có những nét chung giống nhau (thí dụ như đ
ều trải qua nền văn minh nông
nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù g
ọi
là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt v
à
ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ưu thế phát triển về mặt này hay m
ặt khác)
tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại.
Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng h
ợp với khái
niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội đư
ợc quản lý bằng
bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như trư
ờng hợp
Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhi
ều dân tộc
(nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường l
à đông hơn
và phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng m
ột dân
tộc nhưng s
ống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc

ầu có những
công trình trị thuỷ lớn ở các vùng trồng lúa nước, nhu cầu chống lại sự xâm lư
ợc,
đô hộ và đồng hoá của ngoại tộc. Việt Nam đã từng bị ngoại tộc đô hộ hơn m
ột
nghìn năm mà không bị đồng hoá, sở dĩ như vậy là vì con người (Việt Nam) đ
ã
có ý thức về bản sắc của dân tộc mình và n
ổi dậy chống lại sự đồng hoá ấy. Ý
thức về quốc gia - dân tộc đã thể hiện rõ trong hành đ
ộng lịch sử của Lý Bí khi
ông tự xưng là Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân thế kỷ thứ VI, hoặc trong câu th
ơ
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư" thế kỷ thứ XI, trong áng văn bất hủ "B
ình Ngô
đại cáo" thế kỷ thứ XV. Vậy mà cho đến thế kỷ thứ XX, Việt Nam vẫn chưa đ
ạt
đến trình độ một nước tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng là, người Việt Nam đ
ã hình
thành nên dân tộc của mình ngay từ thời cổ đại, có thể là ngay t
ừ khi bị ngoại tộc
đô hộ mà không sao đồng hoá nổi, chứ không phải đợi đến khi lập ra nhà nư
ớc
phong kiến độc lập bền vững vào thế kỷ thứ X.
Có dân tộc hình thành rồi, sau đó mới có ý thức dân tộc. Con người đư
ợc sinh ra
trong cộng đồng, từ cộng đồng. Chỉ có thông qua cộng đồng, ở đây là c
ộng đồng
dân tộc, cá nhân con người mới được xã hội hoá, mới trở thành người. Đứa trẻ s
ơ

ộc, vừa có
bản sắc riêng, vừa là bộ phận hợp thành nền văn hoá chung của nhân loại.
Song, điều phức tạp của lịch sử là ở chỗ, các tộc người, các dân tộc h
ình thành và
phát triển khi đã có sự phân tầng xã hội thành các giai cấp. Sự xuất hiện giai cấ
p
không làm tan rã cộng đồng dân tộc, mà chỉ chia rẽ con ngư
ời trong cộng đồng
dân tộc, thậm chí đến mức đối kháng. Trong cùng m
ột dân tộc, ý thức dân tộc
của mỗi giai cấp lại được chiết quang qua ý thức về lợi ích giai cấp; vì v
ậy, nó
không thể không mang thêm những sắc thái riêng bắt nguồn từ tính giai cấp.
Việc cải tiến công cụ lao động tuy chậm chạp nhưng liên tục trong xã hội nguy
ên
thủy làm tăng dần năng suất lao động của con ngư
ời; đến một độ nhất định (thời
đại đồ đồng, đồ sắt), sản xuất xã hội đủ sức tạo ra những sản phẩm thặng d
ư.
Tiền đề này đã dẫn đến một tất yếu lịch sử là sự hình thành giai cấp v
à kèm theo
nó là sự phân công lao động xã hội thành lao động chân tay và lao đ
ộng trí óc.
Một số người có điều kiện chiếm dụng những sản phẩm thặng dư và sống tr
ên
lưng người khác, trở thành giai cấp ăn bám và thống trị. Đa số người còn l
ại vẫn
buộc phải sản xuất trực tiếp đổ mồ hôi kiếm miếng ăn, đó là nh
ững giai cấp bị
bóc lột và bị trị, là nhân dân lao động. Đồng thời, cũng chỉ có người n

đấu tranh giai cấp không làm tan rã được xã hội. Nó không phủ định b
ản chất con
người đã bắt đầu định hình, mà chỉ minh hoạ cho thấy rằng, việc h
ình thành con
người là một quá trình tiến hoá trường kỳ, từ tính động vật đơn thu
ần đến tính
người hoàn thiện hơn, thực sự là con người. Tính động vật hay thú tính là cái n
ền
tảng ban đầu nhưng được cải biến dần dần, còn tính người hay nhân tính thì
ngày
càng được trau dồi và nâng cao. Sự đối kháng giai cấp không điều hoà, tuy đ
ã
biến con người thành "chó sói đối với người"; nhưng cũng chính đấu tranh
giai
cấp lại là động lực làm cho xã hội tiến hoá đi lên, từ hình thức bóc lột và th
ống trị
tàn nhẫn và thô bạo của chế độ chiếm nô, đến chế độ phong kiến hết sức chuy
ên
chế nhưng đã ít tàn bạo hơn, đến chế độ tư bản bóc lột tinh vi hơn và th
ống trị một
cách "dân chủ”, nghĩa là che đậy hơn. Tính động vật đơn thuần đã từng bư
ớc
chuyển hoá, mở đường cho tính người được nâng lên d
ần dần một cách không thể
đảo ngược được.
Mặt khác, giai cấp xuất hiện cũng có nghĩa là con người đã làm gia tăng m
ột
cách đáng kể năng lực sản xuất và khai thác tự nhiên của mình. Con người đ
ã
vượt qua được giai đoạn tiền sử - giai đoạn dã man và tiến vào giai đoạn

giai cấp. Vậy, ý thức giai cấp đã tác động như thế nào t
ới ý thức cộng đồng, cụ
thể ở đây là ý thức dân tộc?
Nhìn một cách đại thể thì xã hội có giai cấp gồm hai lớp người: lớp tr
ên là
những giai cấp bóc lột, thống trị và lớp dưới là những giai cấp lao động, bị trị. L
à
thành viên của dân tộc, dĩ nhiên các giai cấp lớp trên c
ũng có ý thức về dân tộc
mình, có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Là giai cấp thống trị, nắm bộ máy nh
à
nước, họ đồng hành với dân tộc mình và hiểu rằng, không có dân thì làm s
ao có

ớc. Lợi ích giai cấp của họ thời kỳ đầu nằm trong lợi ích của dân tộc. Vô số
những anh hùng dân tộc trong lịch sử là những vua sáng, tướng tài, những nh
à tư
tưởng, nhà văn hoá thuộc thành phần lớp trên. Nhưng khi m
ột triều đại phong
kiến nào đó đã suy đồi thì cũng có những ông vua bán nước cầu vinh, “cõng r
ắn
cắn gà nhà” hòng giữ lại lợi ích nhỏ nhen của triều đại mình. Bản thân giai cấp t
ư
sản đã từng giương cao ngọn cờ cách mạng dân chủ, làm rung chuy
ển châu Âu
phong kiến các thế kỷ XVII, XVIII. Đại cách mạng Pháp đã đem l
ại thống nhất,
tự do và vinh quang cho dân tộc Pháp. Nhưng t
ừ giữa thế kỷ XIX, chính giai cấp
tư sản Pháp đã trở thành bảo thủ và phản động; nó đã ký hiệp ước đầu h

cũng thương người, vì trọng dân tộc mình nên c
ũng biết trọng dân tộc khác. Chủ
nghĩa dân tộc của họ không đối kháng với các dân tộc khác. Giai cấp vô s
ản
trong chế độ tư bản chủ nghĩa không vướng chút nào vào tư tưởng tư h
ữu, lại
càng có điều kiện vật chất để đi tới tư tưởng chủ nghĩa quốc tế thực sự(2) -
hoàn
toàn đối lập với mọi dạng chủ nghĩa quốc gia từng có trong lịch sử. V.I.L
ênin
trước đây đã nhận xét: "Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có những thành phần, th
ậm
chí không phát triển, của một nền văn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, v
ì trong
mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà đi
ều kiện sinh sống của
họ nhất định phải sản sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và xã h
ội chủ nghĩa.
Nhưng trong mỗi dân tộc, cũng còn có một nền văn hoá tư s
ản (…) không phải
chỉ ở trong tình trạng là những “thành phần” mà là dưới hình th
ức nền văn hoá
thống trị"(3).
Như vậy, trong xã h
ội có giai cấp, chủ nghĩa dân tộc cũng có tính giai cấp. Có
chủ nghĩa dân tộc tiến bộ, cách m
ạng, cũng có chủ nghĩa dân tộc lỗi thời, phản
động. Chủ nghĩa dân tộc của các giai cấp lớp trên thay đ
ổi tính chính trị của nó
tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, khi giai cấp đó còn vai trò tiến bộ hay đã l

xã hội.
Hồ Chí Minh đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và cũng vì t
ất cả các
dân tộc bị áp bức khác trên thế giới. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tư
ởng Hồ Chí
Minh là chủ nghĩa dân tộc của nhân dân lao động; nó không tách rời mà trái l
ại,
luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.r

(*) Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Xtalin cho rằng, “Quá trình thủ tiêu chủ nghĩa phong kiến và phát tri
ển chủ
nghĩa tư bản đồng thời cũng là quá trình người ta kết hợp thành dân tộc”. Ch

nghĩa Mác và vấn đề dân tộc. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.24.
(2) Giai cấp tư sản cũng có “tính quốc tế” nhưng họ chỉ liên kết đư
ợc với nhau
trong chừng mực phải đương đ
ầu với giai cấp vô sản, họ chỉ có tính quốc tế “nửa
vời”, không “thực sự”; còn bản thân họ thì không bao gi
ờ hết cạnh tranh đối địch
với nhau (Tác giả).
(3) V.I.Lênin. Toàn tập, t.24. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.154.
(4) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.161.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.560.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status