Tài liệu THƯ PHÁP CHỮ VIỆT TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA - Pdf 10

THƯ PHÁP CHỮ VIỆT TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

Trong những năm gần đây, ở nhiều nơi trên khắp đất nước, “thư pháp
chữ Việt” “thư pháp Quốc ngữ” (chữ Latinh) đã bắt đầu khởi sắc và
trở thành phong trào phát triển khá mạnh mẽ. Hầu như chỗ nào ta
cũng bắt gặp thư pháp chữ Việt. Từ việc in trên sách báo, viết trên lịch,
đến vẽ trên áo, thêu trên vải, cũng như những cuộc triển lãm lớn, nhỏ ở
khắp mọi nơi được công chúng quan tâm.
Bên cạnh đó, cũng có không ít các câu lạc bộ, các lớp giảng dạy thư
pháp được hình thành. Song, xung quanh “thư pháp chữ Việt” vẫn còn
nhiều ý kiến khác nhau, có người không đồng tình, có người chấp nhận
ở mặt này, không tán thành ở mặt khác. Các phương tiện thông tin đại
chúng cũng đã có sự quan tâm và tham gia vào “mổ xẻ” bộ môn nghệ
thuật này. Có nhiều ý kiến đóng góp xây dựng, có ý kiến gợi ý dẫn dắt,
cũng có ý kiến chê bai. Vì vậy, có thể thấy rằng sự xuất hiện của “thư
pháp chữ Việt” đã trở thành một hiện tượng văn hóa, và hơn nữa là cả
vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội, rất cần thiết để tìm tòi và suy
ngẫm. Thư pháp Thế Mẫn - Đà Nẵng 1.Thư pháp theo các Từ điển tiếng Việt (Đoàn Văn Tập) và Từ điển
Hán – Việt (Đào Duy Anh) đều giải thích: là cách viết chữ. Còn từ
điển Anh – Việt (Nguyễn Văn Khôn) và Pháp – Việt (Đoàn Văn Tập)
thì thư pháp có nghĩa là nghệ thuật viết chữ đẹp, tài viết chữ đẹp, kiểu
viết chữ đẹp, viết nắùn nót. Theo chữ Hán: Thư ( ) là viết chữ; Pháp

nhà Hán những năm đầu công nguyên). Điều đặc biệt là ngay từ khi
chữ Hán được tiếp nhận, cha ông ta đã sớm nhận thức được đặc trưng,
bản chất của hệ văn tự này và sớm coi trọng nghệ thuật thư pháp”.(1).
Truyền thống yêu quí kính trọng chữ là truyền thống ngàn đời vừa sâu
xa, vừa bền chắc. Câu nói dân gian “Văn hay chữ tốt” đã trở thành
thành ngữ dành để ca ngợi những tài năng văn học và thư pháp vốn
không nhiều lắm ở mỗi thời.
Theo ông Phan Văn Các, nguyên viện trưởng viện Hán Nôm : “Di sản
Hán môn của chúng ta chỉ có thể tồn tại sau khi chiến thắng được sự
xâm thực huỹ hoại khắc nghiệt của khí hậu nóng ẩm nhiệt đới và sự
tâm phá muôn phần khắc nghiệt của các cuộc binh đao máu lửa kéo dài
suốt hàng trăm năm. Cho nên hệ quả hiển nhiên là ngày nay, khi muốn
dựng lại lịch sử thư pháp nước nhà, chúng ta trước hết phải tìm đến
những trang chữ viết trên đá”. Nếu đúng như vậy, thì tác phẩm thư
pháp đầu tiên của Việt Nam hiện tìm thấy được là dòng chữ Đại Tuỳ
Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn đắp theo lối chữ “triện”
trên trán bia ở làng Trường Xuân (Thanh Hoá), hiện đang trưng bày ở
việân bảo tàng lịch sử. Và có vô số những lệnh chỉ, sắc phong, các đại
tự, hoành phi, câu đối, áng văn, cổ vật,… đã lưu trữ nhiều tác phẩm thư
pháp quý giá_ chứng tích của một thời văn hoá phát triển cao. Dù trải
qua bao biến cố thời gian, những bức thư pháp trên đá, vẫn hiện rõ tâm
tính, chí khí của người muôn năm cũ.

(1). Hoàng Anh Sướng, Thư pháp Việt Nam – những nổi niềm thao
thức, tạp chí Thế giới mới, (số 522)
Xuôi theo dòng thời gian thư pháp chữ Hán tại Việt Nam cũng êm đềm
lặng lẽ như chính sự lặng lẽ của tự thân bộ môn thư pháp. Mặc dù ở
Việt Nam không có những bậc thư pháp kỹ tài đặc sắc như Trương
Húc, Vương Hy Chi, (Trung Hoa), hay Bạch Aån, Thiết Chu, ( Nhật
Bản), nhưng chúng ta cũng có những như danh sĩ tao nhân mặc khánh

Từ thế kỷ 17, với mục đích du nhập Thiên chúa giáo vào Việt Nam, các
giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha được sự giúp đỡ của các giáo
sĩ ngừơi Việt đã Latinh hóa chữ viết để truyền giáo, đồng thời tách
người Việt ra khỏi khuôn viên của chữ vuông và văn hóa khổng giáo.
(1) Phan Ngọc, 1998: Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn Hóa Thông
Tin, trang 127-128
Chính từ công cụ chữ viết quan trọng này, việc tiếp xúc văn hóa Đông
Tây, nửa đầu thế kỷ 20 diễn ra sôi động. Đặc biệt sau khi giành độc lập,
Hồ Chủ Tịch lần đầu tiên đã chính thức coi chữ quốc Ngữ là ngôn ngữ
chính thống của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, đánh dấu thời kỳ
phát triển mạnh mẽ của chữ Quốc Ngữ. Tiếng Việt nhờ đó đã biến đổi
và phát triển vượt bậc, vượt xa các nước trong khu vực. Nhất là sự biển
đổi về cú pháp vốn là lĩnh vực không thể vay mượn để trở thành tiếng
Việt hiện đại như ngày nay.
Trong bối cảnh quốc tế hóa hiện nay, tiếng Việt được đánh giá như một
trong những nhân tố quan trọng, đóng vai trò tích cực vào quá trình hội
nhập của Việt Nam và thế giới.
Như vậy, chữ Việt đã thực sự đi vào cuộc sống của chúng ta chỉ được
vài thế kỷ. Quả thật, đây là một thời gian quá ngắn gũi so với chữ viết
của người Trung Hoa và các dân tộc phương Đông khác. Nhìn từ góc
độ bề dày lịch sử của chữ viết các dân tộc rồi bàn đến bộ môn nghệ
thuật thư pháp của dân tộc, mới thấy đời sống văn hóa của dân tộc Việt
vô cùng phong phú, sự phát triển với tốc độ rất nhanh. Chính điều này
khiến chúng ta càng phấn khởi, tự hào hơn về sự có mặt kịp thời của
phong trào thư pháp chữ Việt trong suốt thập niên qua.
Ngay từ thời vua Khải Định đã có những quan văn, thầy đề, linh mục
rồi thông ngôn, ký lục… dùng ngòi bút tre, bút sắt viết chữ quốc Ngữ
rất đẹp. Tuy nhiên đó chưa phải là thư pháp mà chỉ là thư bút. Đến đầu
những năm 1930, khi phong trào thơ mới nổ rộ trên văn đàn, nhiều nhà
thơ đã dùng chữ quốc ngữ để phóng bút đề thơ, ghi thơ vóc những nét

của mặt chữ này.

Tác phẩm chữ Tâm - Thư pháp Hoa Nghiêm - Khắc gỗ Trần Quốc Âu 3. Một số đặc điểm trong nghệ thuật thư pháp chữ Việt :
a.Tính biểu cảm của nghệ thuật thư pháp chữ Việt
Tính biểu cảm là một đặc điểm tiêu biểu của các loại hình nghệ thuật
của văn hóa Việt Nam nói riêng là và văn hóa nông nghiệp nói chung.
Với nghệ thuật thư pháp chữ Việt thì tính biểu cảm thể hiện khá rõ nét,
cảm thức thẩm mỹ của người viết cũng như thị hiếu của người thưởng
lãm thường hướng đến sự đơn giản hài hòa bình dị, mang chất thơ, chất
lãng mạn. Nó luôn phản nghịch hoàn toàn lại sự trao chuốt chiết lọc,
hay sự ồn ào của màu sắc. Hơn nữa, những nội dung đựơc viết thường
là ca dao, tục ngữ, những lời dạy của danh nhân, những bài thơ giàu
chất trữ tình… tất cả được tạo nên bức thư họa khi nhẹ nhàng thanh
thoát, khi ảo điệu khói sương… khiến người thưởng lãm như lạc vào
thế giới nghệ thuật trầm ảo, lắng động. Thư pháp chữ Việt cũng không
có những bức cuồng thư, mạch hảo như thư pháp Trung Hoa – xuất
phát từ bản tính người Việt rất trọng tình cảm, hiếu hòa. Ví như trong
suốt lịch sử nghệ thuật hội hoạ của mình, hầu như người Việt không hề
sáng tạo những tác phẩm hội hoạ, điêu khắc về đề tài chiến tranh với
cảnh đầu rơi máu chảy rùng rợn như các nước có nền văn hoá khác mà
tranh tượng thường thể hiện tình cảm nồng thắm của con người thì rất
nhiều, mặc dù người Việt phải chịu nhiều cảnh chiến tranh liên miên,
ác liệt. Nhờ sự phong phú của tình cảm thẩm mỹ mà các sáng tác trong
nghệ thuật chữ viết giữ được bản sắc dân tộác độc đáo và hòa chung
c. Tính tổng hợp trong nghệ thuật thư pháp chữ Việt
Trong nền văn hóa Việt Nam, thì tính dung hợp, giao hòa thể hiện ở
nhiều lĩnh vực, như “ trên lĩnh vực vật chất, ta thấy sự kết hợp tuyệt vời
giữa truyền thống dân tộc kín đáo dịu dàng và chất Phương Tây táo bạo
trong tà áo dài tân thời, hay là sự kết hợp khá hài hòa giữa kiến trúc cổ
truyền với kiến trúc hiện đại phương Tây trong nhiều tòa nhà được xây
dựng vào thời Pháp, Trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, loại hình cải
lương xuất hiện ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ là sự kết hợp hài hòa giữa
phong cách biểu trưng truyền thống của nghệ thuật thanh sắc Việt Nam
với phong cách tả thực của truyền thống nghệ thuật thanh sắc Phương
Tây,…” (1) Sự ra đời của nghệ thuật thư pháp chữ Việt một lần nữa
minh chứng cho tính dung hợp mạnh mẽ của văn hóa Việt – đó là sự
kết hợp các thần của chữ Hán vào nét chữ quốc ngữ. Với ngọn bút lông
“kỳ diệu” (sản phẩm của văn hóa phương Đông) được vận dụng một
cách thuần phục, tế nhị vào mẫu tự Latinh (sản phẩm của văn hóa
phương Tây) . Nghệ thuật thư pháp chữ Việt chính là sự giao hòa văn
hóa Đông – Tây.
(1). Trần Ngọc Thêm, , 2001, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, , Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, trang 559-
Nếu văn hoá được xem là một tổng thể các hệ thống tín hiệu do con
người sáng tạo nên, thì ngôn ngữ, chữ viết là một hệ tín hiệu tiêu biểu,
hoàn chỉnh nhất và cần thiết nhất để hình thành xã hội loài người. Chữ
viết gắn liền với lịch sử dân tộc và nó ghi lại những chặng đường phát
triển và sáng tạo của dân tộc cùng với nền văn hoá của họ. Chính nghệ
thuật chữ viết ở mỗi chặng đường lịch sử đã tôn vinh nét chữ đáng yêu
của dân tộc. Lịch sử chữ viết Việt Nam đã trải qua một hành trình rất
dài, rất phức tạp với nhiều biến đổi: từ những chữ tượng hình (chữ viết
cổ (?) ) cách đây hàng nghìn năm, rồi việc sử dụng chữ Hán hơn nghìn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status