Đặc điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Thị Phương Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn: PGS.TS. Mai Hương
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Luận văn làm rõ quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về văn chương, con
người và sự chi phối của những quan niệm đó đến sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
Khảo sát và hệ thống các kiểu nhân vật và những đặc điểm nổi bật trong thế giới
nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư. Làm rõ những đặc điểm nghệ thuật đặc sắc trong
sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
Keywords. Văn học Việt Nam; Truyện ngắn
Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hơn hai mươi năm trở lại đây, văn học Việt Nam có nhiều biến chuyển đa dạng
và phức tạp. Khác với văn học của những thời kì trước, văn học thời kì này đã thể hiện
những cái nhìn mới về hiện thực đời sống, về con người. Đề tài thay đổi và mở rộng,
cảm hứng đời tư, thế sự được đề cao. Cái nhìn của tác giả cũng có sự thay đổi, hiện thực
được khai thác sâu hơn, chân thực hơn, đa chiều hơn. Bởi thế văn học thời kì này có
những màu sắc phong phú đồng thời cũng từng gây nhiều tranh luận.
Sự chuyển đổi của văn học có được nhờ sự đóng góp của nhiều cây bút ở các thế
hệ khác nhau, trong đó có phần đóng góp đáng quý của những cây bút nữ trẻ và đầy sáng
viết, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của tác giả Nguyễn Ngọc Tư khá phong phú,
tuy nhiên chủ yếu mới dừng lại ở từng tác phẩm, hoặc đi vào một số khía cạnh trong
sáng tác của chị. Với luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng khảo sát một cách hệ thống,
thấu đáo sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, từ đó đúc rút những nét riêng độc đáo cả về nội
dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện, khẳng định những đóng góp đáng quý của tác giả
Nguyễn Ngọc Tư với nền văn học nước nhà.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu tìm hiểu quan niệm văn chương, chặng đầu sáng tác; thế giới
nhân vật; đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
Luận văn khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ở các thể loại truyện
ngắn, ký, tản văn, tạp văn, thơ. Tuy nhiên trong khuôn khổ có hạn, luận văn chủ yếu tập
trung vào thể loại truyện ngắn. Để có điều kiện so sánh làm nổi bật nét riêng trong phong
cách sáng tạo của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi cũng khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu
của các cây bút chuyên viết về Nam Bộ như Sơn Nam, Phi Vân, Hồ Biểu Chánh, Bình
Nguyên Lộc, Đoàn Giỏi, Dạ Ngân…và một số nhà văn nữ cùng thời.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tác phẩm;
phương pháp cấu trúc hệ thống; phương pháp phân loại, thống kê và phương pháp so
sánh.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư về văn chương, con người và sự chi
phối của những quan niệm đó đến sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
- Khảo sát và hệ thống các kiểu nhân vật và những đặc điểm nổi bật trong thế
giới nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư.
- Chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1: Nhìn lại chặng đầu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Chương 2: Thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Đoàn trao tặng.
- Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2006, Tác phẩm Cánh đồng bất tận.
- Giải thưởng văn học các nước Đông Nam Á (ASEAN) 2008.
Thời gian gần đây tác phẩm Cánh đồng bất tận đã được chuyển thể thành phim và được công
chúng nồng nhiệt đón nhận.
1.2. Quan niệm văn chƣơng và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
1.2.1. “Tôi viết nhƣ cảm xúc của mình”
Cho dù viết về mảng nào, lĩnh vực nào thể loại nào thì với Nguyễn Ngọc Tư, điều
quan trọng vẫn là cảm xúc. Cảm xúc thật từ đời sống chỉ có được khi trực tiếp sống,
thực sự hòa nhập với đời sống. Nguyễn Ngọc Tư không muốn viết những gì mà chị
không có cảm xúc. Trong những năm gần đây Nguyễn Ngọc Tư rất tâm đắc với thể loại
tản văn. Chị cho rằng thể loại này là thể loại thể hiện được những chiều kích cảm xúc
nhất.
Nguyễn Ngọc Tư cũng đã từng tâm sự, chị lấy cảm hứng từ cuộc sống và số phận
của những nhân vật nhỏ bé, những người nông dân nghèo, lam lũ, những người nghệ sĩ
nghèo khổ bất hạnh, những đứa trẻ đáng thương, những người đàn bà tội nghiệp…ở
chính vùng quê Nam Bộ của chị. Chính những tình cảm, số phận trớ trêu của họ đã tạo
cảm xúc cho Nguyễn Ngọc Tư sáng tác.
1.2.2. “Tôi nhƣ kẻ đẽo cày giữa đƣờng”
Với Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn phải luôn là chính mình cho dù có những dư luận
thậm chí trái chiều. Cũng chính bởi quan niệm là văn viết bắt nguồn từ những cảm xúc
nên chị quan tâm nhất là những gì mình viết có thực sự làm thỏa mãn mình không.
Nguyễn Ngọc Tư là tác giả nhận được rất nhiều dư luận đánh giá xung quanh các tác
phẩm của chị. Tuy vậy, với chị cảm xúc thật của mình quan trọng hơn bao giờ hết. Chị
luôn cố gắng được là chính mình sau những ồn ào xung quanh những vấn đề lien quan
đến tác phẩm của chị.
1.2.3. Cái “Tôi” nhà văn là cái “Tôi” cô đơn
Nguyễn Ngọc Tư sớm cảm nhận và ý thức về sự khắc nghiệt của nghề văn, về sự
cô đơn trong sáng tạo của người nghệ sĩ. Chị cũng tự nhận mình là người cô đơn. Chị
cũng phát hiện ra một thế mạnh của người phụ nữ là phụ nữ dễ nuôi cô đơn để viết. Bởi
1.3.3. “Tình cảm phải xuất phát từ tấm lòng mới quý”
Ta thường biết đến một tính cách của con người Nam Bộ chính là tính cách trọng
tình nghĩa. Trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tư, tình cảm phải chân thành, không
khiên cưỡng, không giả dối. Sự giả dối rất đáng sợ, nó khiến cho những người trung thực
luôn cảm thấy khổ sở, bất an. Có thể nói, các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư đều bộc lộ
tính cách của con người Nam Bộ: Thẳng thắn, bộc trực, quý trọng sự thật lòng, ghét sự
giả dối, nhất là trong tình cảm.
1.4. Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ trong dòng văn xuôi nữ thời kì đổi mới
Các nhà văn nữ với ưu thế về sự đông đảo và sức trẻ đã góp phần không nhỏ làm
mới diện mạo của văn học Việt Nam. Chúng ta có thể kể đến một số tên tuổi như: Lê
Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân, Võ Thị Hảo, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thị Thu
Huệ, Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Xuân Hà…và một thế hệ nhà văn nữ
sau này đã có sự nối tiếp thành công với những cây bút sớm có bản sắc riêng: Nguyễn
Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Hoàng Diệu … Những sáng tác của các cây bút nữ là những
phản ánh chân thực về cuộc sống con người hiện đại. Họ thường viết sâu sắc về mảng đề
tài tình yêu, trăn trở với những kí ức. Cuộc sống đa chiều hiện ra dưới con mắt của các
nhà văn nữ càng đằm thắm hơn, nhân bản hơn.
Trong chục năm trở lại đây, Nguyễn Ngọc Tư đã trở nên khá quen thuộc với công
chúng độc giả yêu văn học. Chị là cây bút trẻ đoạt nhiều giải thưởng cao trong các giải
thưởng thường kỳ cũng như trong các cuộc thi viết truyện ngắn do các đơn vị có uy tín
trong và ngoài nước tổ chức. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đã được in ấn với số
lượng lớn, được tái bản, đặc biệt số lượng tái bản tập truyện Cánh đồng bất tận đã lên tới
16 lượt với hàng vạn bản. Trong dòng chảy chung của văn xuôi nữ đương đại Nguyễn
Ngọc Tư đã tìm cho mình một lối đi riêng, một phong cách riêng để lại ấn tượng sâu đậm
trong lòng bạn đọc. Cũng như nhiều nhà văn nữ khác, thế mạnh của Nguyễn Ngọc Tư là nói
về nỗi đau, về thân phận những người đàn bà trong cuộc sống hiện đại. Viết bằng sự thấu
hiểu, cảm thông của một nhà văn nữ, Nguyễn Ngọc Tư ý nhị đưa ra những khao khát khôn
nguôi về bến bờ hạnh phúc, sự bình yên trong tâm hồn mỗi con người.
1.5. Nguyễn Ngọc Tƣ – một cây bút độc đáo đậm chất Nam Bộ
Các nhà văn thường có những vùng đất riêng để nuôi dưỡng đứa con tinh thần của
Nhân vật của ba tác giả cũng có những điểm chung: Nhân vật rơi vào bi kịch khi khát vọng
tình yêu và hạnh phúc bị chà đạp. Tuy vậy, nhân vật của ba nhà văn này không bị hòa lẫn vào
nhau.
2.2. Các kiểu dạng nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
2.2.1. Nhân vật kiếm tìm
Nhân vật kiếm tìm là kiểu nhân vật xuất hiện chủ yếu trong tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư. Những tìm kiếm ấy có thể thành công nhưng cũng có nhiều đau khổ, thất vọng.
Tuy nhiên, chính những khao khát về tình yêu hạnh phúc của người phụ nữ, hành trình tìm
kiếm cái đẹp, ý nghĩa thực sự của cuộc sống của các nghệ sĩ, hành trình tìm kiếm chính mình,
tìm kiếm niềm tin ở cuộc sống… luôn là nỗi trăn trở của các nhân vật.
2.2.2. Nhân vật sám hối
Trong những năm gần đây nhân vật sám hối đã trở thành một kiểu nhân vật thường
xuất hiện trong văn học Việt Nam. Nhân vật sám hối là kiểu nhân vật nội tâm.
. Nhân vật sám hối và nhân vật tìm kiếm có quan hệ mật thiết với nhau. Nhiều khi tìm kiếm là
sám hối và có lẽ vì sám hối mà nhân vật tìm lại được chính mình. So với Tạ Duy Anh hệ
thống nhân vật sám hối của Nguyễn Ngọc Tư không khốc liệt bằng. Tuy vậy những dằn vặt,
giày vò luôn thường trực ở các nhân vật này khiến cho nhân vật trở nên khắc khổ hơn.
2.2.3. Nhân vật lƣu lạc
Nhân vật lưu lạc là loại nhân vật đặc trưng cho tính cách con người khai phá vùng đất
mới Nam Bộ. Cuộc sống tha hương phiêu dạt của những người khai phá vùng đất mới đã tạo
nên nét đặc trưng trong tính cách của họ. Các nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thường có cuộc
sống bất định, liên tục di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Không gian sống và cả không gian
tâm tưởng của nhân vật luôn thay đổi. Hoặc giả có ở cố định một nơi nhưng từ sâu xa, nhân
vật vẫn nghĩ về một cuộc ra đi, vẫn chịu ám ảnh về sự chia ly phiêu bạt. Phần lớn các nhân
vật lưu lạc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đều là người có tình cảm, tình yêu thương sâu
sắc.
2.2.4. Nhân vật cô đơn
Nhân vật cô đơn là kiểu nhân vật khá phổ biến trong văn học Việt Nam đổi
mới. Có thể nhận thấy một điều, nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu là
những người nghệ sĩ và những người nông dân. Ở cả hai loại nhân vật này cô đơn là một
sẽ lĩnh hội được câu chuyện và thấu hiểu cả những suy tư, trăn trở trong tâm hồn của nhân vật
kể chuyện. Từ điểm nhìn ngôi thứ nhất, người kể chuyện tham gia vào hành động của câu
chuyện. Các nhân vật sống hồn nhiên như chính trong cuộc đời thực của họ.
3.1.2. Ngƣời kể chuyện ở ngôi kể thứ ba
Từ điểm nhìn này, người kể không tham gia vào hành động của câu chuyện với vai trò
như một trong các nhân vật. Theo Nguyễn Thái Hòa, ở lối kể chuyện này, người kể đứng ở vị
trí khách quan “giả vờ”, không dính líu đến câu chuyện. Những tác phẩm tiêu biểu cho lối kể
này là: Ngọn đèn không tắt, Truyện của Điệp, Cải ơi!, Huệ lấy chồng… Nhân vật được kể ở
ngôi thứ ba với giọng kể liền mạch của người kể chuyện, có lúc lại là lời độc thoại nhân vật
tự nói lên.
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.2.1. Đặt nhân vật vào những tình huống “có vấn đề”
Nguyễn Ngọc Tư đã đặt nhân vật vào những tình huống, những biến cố để nhân vật
không còn suy nghĩ theo lối mòn nữa mà bắt đầu chiêm nghiệm, phân tích lại bản thân, để
nhận ra sai lầm, nhận ra những chân lý của cuộc đời. Với những tình huống tự nhận thức,
Nguyễn Ngọc Tư đã để cho nhân vật tự đối thoại, tự đẩy mình đến tận cùng những cảm xúc,
để tự thức tỉnh và điều tiết hành động của chính mình.
3.2.2. Chú ý đến ngoại hình và nội tâm nhân vật trong xây dựng tính cách nhân
vật
Nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư không giống nhau, có đặc điểm ngoại
hình không giống nhau. Mỗi nhân vật có một nét riêng, một số phận riêng. Đối với ngoại hình
nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư chú ý nhiều đến đôi mắt. Đôi mắt bộc lộ tâm trạng nhân
vật.Ngoài chú ý miêu tả ngoại hình nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư còn chú ý đến miêu tả nội tâm
nhân vật. Để miều tả tâm lý nhân vật, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng độc thoại và dòng ý thức.
3.2.3. Các nhân vật bộc lộ tính cách của mình qua lời nói và hành động.
Lời nói và hành động là hai cách thể hiện tính cách nhân vật một cách sắc nét
nhất.
3.3 Giọng điệu trần thuật
“Giọng điệu: Là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn
với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ,
miệt vườn sông nước. Chúng tôi nhận thấy số từ ngữ thể hiện đặc trưng địa hình văn hóa của
vùng đồng bằng Sông Cửu Long rất rõ. Việc sử dụng những từ này thường xuyên làm nổi bật
bức tranh hiện thực, đời sống con người. Số lượng từ đặc trưng cho vùng văn hóa sông nước
khá nhiều.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Trong một nền văn học có nhiều đổi mới, Nguyễn Ngọc Tư đã trở nên khá quen
thuộc với độc giả yêu văn học.
2. Với cái nhìn chân chất, đầy cảm xúc Nguyễn Ngọc Tư đã thổi vào hệ thống nhân
vật của mình những nét tính cách sống động, giống như con người thật ngoài cuộc
đời. Qua nhân vật chi gửi gắm những quan niệm về con người, về cuộc sống.
Cũng xuất phát từ quan niệm văn học là nhân học, Nguyễn Ngọc Tư đã khái quát
hiện thực cuộc sống thông qua thế giới nhân vật.
3. Không cầu kì trong việc sử dụng những phương thức biểu đạt, Nguyễn Ngọc Tư
đã khái quát về hiện thực cuộc sống đầy màu sắc.
4. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn
Ngọc Tư, chúng tôi nhận thấy Nguyễn Ngọc Tư thực sự là một cây bút có trách
nhiệm với nghề.
5. Là một cây bút trẻ, con đường sáng tác của chị vẫn đang ở phía trước.
References
I. Tác phẩm
1. Nguyễn Ngọc Tư (2000), Ngọn đèn không tắt, NXB Trẻ.
2. Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ.
3. Nguyễn Ngọc Tư (2001), Ông ngoại, NXB Trẻ.
4. Nguyễn Ngọc Tư (2003), Biển người mênh mông, NXB Kim Đồng.
5. Nguyễn Ngọc Tư (2003), Giao thừa, NXB Trẻ.
6. Nguyễn Ngọc Tư (2005), Nước chảy mây trôi, NXB Văn học nghệ thuật.
7. Nguyễn Ngọc Tư (2007), Sầu trên đỉnh Puvan.
8. Nguyễn Ngọc Tư (2005), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Văn học
31. Trần Đình Sử(2004), Tự sự học - Một số vấn đề lý luận và lịch sử, NXB ĐHP Hà
Nội.
32. Bùi Việt Thắng, Mã Giang Lân (2005), Văn học Việt Nam sau 1975, NXB
ĐHQGHN.
33. Bakhtinne (H.1990), Nghệ thuật như là thủ pháp, NXB KHXH.
34. G.N. Poxpelop (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,
Lê Ngọc Trà dịch, NXB Giáo dục.
35. Manfred Jahn (2005), Trần thuật học (Nhập môn lý thuyết trần thuật), Nguyễn Thị
Như Trang dịch, Phạm Gia Lâm hiệu đính, Hà Nội.
III. Báo, tạp chí
36. Điệp Anh, Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ, VNT số 10 ra ngày 11/3/2001, trang
3.
37. Kim Anh, Hỏi chuyện nhà văn Dạ Ngân: Nguyễn Ngọc Tư - Điềm đạm mà thấu đáo,
VNT số 15 ra ngày 11/04/2004, trang 3.
38. Lê Huy Bắc, Cốt truyện trong tự sự, Tạp chí nghiên cứu văn học số 7 năm 2008.
39. Phan Quý Bích, Sức lôi cuốn của ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư, VNT số 46 ra ngày
12/11/2006, trang 10.
40. Nguyễn Trọng Bình, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa,
http://www.viet-studies.info.
41. Võ Đắc Danh, Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư – tôi như kẻ đẽo cày giữa đường,
http://www.viet-studies.info.
42. Trần Phòng Diều, Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, VNQD số
467 năm 2006, trang 94.
43. Trần Hữu Dũng, Nguyễn Ngọc Tư – đặc sản Nam Bộ, http://www.viet-studies.info
44. Đoàn Ánh Dương, Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật,
TCNCVH số tháng 2/2007.
45. Phạm Thùy Dương, Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thủy và
Nguyễn Ngọc Tư, VNQĐ số 661, tháng 1/2007, trang 101.
46. Đặng Anh Đào, Sự sống bất tận, Văn nghệ số 17-18 ra ngày 29/04 và 06/05/2006.
63. Trần Văn Sỹ, Bức tranh quê buồn tím ngắt, Văn nghệ số 15, ra ngày 15/04/2006.
64. Kiệt Tấn, “Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư”, http://www.viet-studies.info.
65. Bùi Việt Thắng, Bài học văn chương từ Cánh đồng bất tận, Tạp chí nghiên cứu văn
học số 7/2006.
66. Huỳnh Công Tín, “Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam Bộ”,
http://namkyluctinh.org.
67. Nguyễn Thanh Tú, Bi kịch hóa trần thuật –một phương thức tự sự, Tạp chí nghiên
cứu văn học số 5/2008.
68. Nguyễn Tý, Nhân vật người nông dân và nghệ sĩ trong Giao thừa của Nguyễn Ngọc
Tư, VN số 21, ra ngày 24/05/2003, trang 7.
69. Nguyễn Tý, Ngày đầu năm đọc Cánh đồng bất tận với sức hút kì lạ, Báo Công an
thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/02/2006.
70. Anh Vân, “Nguyễn Ngọc Tư: Tôi viết như cảm xúc của mình”, http://vnexpress.net.
71. Thảo Vy, Nỗi nhớ qua Cánh đồng bất tận, báo Tuổi trẻ ra ngày 25/11/2005.
72. Thảo Vy, Nỗi đau qua Cánh đồng bất tận, Tạp chí văn học Phật giáo, số 2 ra ngày
28/12/2005.
73. Lê Xuân, Nhịp sống cải lương Nam Bộ, VN số tết Mậu Tý 2008, trang 47.
IV. Các trang web tham khảo
74. http://www.viet-studies.info
75. http://www.dactrung.com
76. http://www.evan.com
77. http://www.vietnamnet.vn