Đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong
trường ĐHSP Hà Nội, khoa Ngữ văn, bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại,
phòng Sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn GS TRẦN ĐĂNG XUYỀN, người đã tận
tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, tạo
điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian và kiến thức
nên chắc chắn luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được ý kiến của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 9, năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hà


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn trẻ nổi lên như một “hiện tượng lạ”,
“một luồng gió mới” (Nguyên Ngọc) của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Từ tập
Ngọn đèn không tắt khiêm nhường lặng lẽ, qua Cánh đồng bất tận khuấy
động văn đàn, đến Gió lẻ và chín câu chuyện khác hay Sông nóng hổi mới ra
mắt bạn đọc, tác phẩm của nhà văn nữ đất mũi Cà Mau này được nhắc đến rất
nhiều trên các báo, tạp chí, các phương tiện truyền thông; được thẩm định qua
các giải thưởng trong nước và khu vực. Nguyễn Ngọc tự so sánh sáng tác của
mình với “quả sầu riêng” và đã không ít lần “sản vật” đặc trưng của Nam
Bộ ấy đã vượt qua địa hạt vùng miền, quốc gia, đến với độc giả khắp nơi, kể

những mô hình nhân cách văn hoá đẹp cho xã hội, cho dân tộc. Đồng thời,
nghiên cứu văn học nhìn từ góc độ quan hệ văn hoá - văn học sẽ góp phần
khẳng định vai trò vừa lưu giữ, chuyển tải vừa thẩm định và lựa chọn văn hoá
của văn học.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN
NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA với hi vọng sẽ đóng góp thêm một
vài ý kiến để tiến tới có một cái nhìn tổng thể, toàn diện về sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư là một trong những nhà văn trẻ và tiêu biểu của văn
xuôi đương đại. Chị thực sự xuất hiện và gây được sự chú ý trên văn đàn từ
năm 2000, sau khi đạt giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ hai do Nhà
xuất bản trẻ, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ tổ chức.
Từ đó cho đến nay, Nguyễn Ngọc Tư viết nhiều, viết hay với một khối lượng
tác phẩm đáng kể; tập trung ở các thể loại chủ yếu như truyện ngắn, tản văn,
tạp văn. Gần đây cuốn tiểu thuyết đầu tay Sông của chị đã ra đời. Có thể nói,
sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đã dành được sự ưu ái, quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu phê bình cũng như độc giả trên khắp mọi miền Tổ quốc và cả
nước ngoài. Nhiều bài viết được đăng trên các báo uy tín như: Tuổi trẻ, Thanh
niền, Văn nghệ, Tạp chí nghiên cứu văn học, Văn nghệ đồng bằng Sông Cửu
Long, và trên những trang web báo mạng... Sau đây, chúng tôi chỉ dẫn ra một

2


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

số nhận xét tiêu biểu:
Khi tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đoạt giải của Hội Liên hiệp
văn học nghệ thuật Việt Nam, cái tên Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu được các nhà


phá rất ngoạn mục, tự vượt lên chính mình và tạo nên bất ngờ thú vị cho giới
nhà văn... Cánh đồng bất tận viết về những con người Nam Bộ với tính cách
đặc thù: chân thực, chất phác, hồn nhiên và bản năng”. Khi được hỏi: “Điều
gì ở Cánh đồng bất tận thuyết phục ông nhất, với tư cách là một nhà văn”,
Hữu Thỉnh trả lời: “Đó là không khí của tác phẩm: cuộc sống Nam Bộ, hơi
thở Nam Bộ, nhân vật Nam Bộ, ngôn ngữ Nam Bộ thấm đẫm, nồng nàn trong
“cánh đồng”. Đó là điều Nguyễn Ngọc Tư rất giỏi trong các truyện trước
đây và càng khẳng định bản sắc và bản lĩnh vượt trội trong tác phẩm” (Hà
Linh – Chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc Tƣ và Cánh đồng bất tận,
http://www.vnexpress.net., 2006).
Có rất nhiều bài báo có giá trị khoa học thể hiện niềm yêu mến và tâm
huyết của các tác giả dành cho Nguyễn Ngọc Tư. Tiêu biểu và đáng kể nhất
phải nói tới các bài viết của GS Trần Hữu Dũng trên web riêng Viet-studies,
ông thiết kế để đăng tải các bài viết và tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư. Ông
đã nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư một cách tường tận và thấu đáo
trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Ông đặc biệt đề cao tài năng
sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư và đánh giá đó là nét đặc
sắc riêng không thể trộn lẫn với bất kỳ nhà văn nào khác. Ông gọi Nguyễn
Ngọc Tư là “đặc sản miền Nam”.
Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cùng sáng tác của chị còn là đề tài hấp
dẫn của các công trình luận văn, luận án. Tiêu biểu như:
Luận văn Thạc sĩ Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
của Nguyễn Thị Kiều Oanh, ĐHSP Hà Nội, 2006.
Luận văn Thạc sĩ Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời trong truyện
Nguyễn Ngọc Tƣ của Phạm Thị Thái Lê, ĐHSP Hà Nội, 2007
Báo cáo khoa học Khế ƣớc của tự nhiên và kiểu xây dựng nhân vật
nữ trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ của Lê Hải
Vân, ĐHSP Hà Nội, 2007.
Luận văn Thạc sĩ Đồng bằng Nam Bộ trong Hƣơng rừng Cà Mau

1. Ngọn đèn không tắt (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2000)
2. Biển ngƣời mênh mông (Tập truyện ngắn, NXB Kim Đồng, 2003)
3. Giao thừa (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2003)
4. Cánh đồng bất tận (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2005)
5


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

5. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2008)
6. Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn, NXB Thời đại, 2010)
Tiểu thuyết: Sông (Tiểu thuyết, NXB Trẻ, 2012)
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: vận dụng những hiểu biết về ngôn
ngữ học, tự sự học, thi pháp học hiện đại... kết hợp với cảm thụ truyền thống
để khảo sát và nhận định tác phẩm theo quan niệm, hiểu biết của mình.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Để chỉ ra những đặc điểm giống
nhau cũng như những nét riêng, tiêu biểu về văn hoá Nam Bộ được thể hiện
trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh,
đối chiếu sáng tác của chị với một số nhà văn lớp trước và đương thời. Từ đó,
khẳng định đóng góp của chị với nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Phương pháp thống kê, phân loại: khảo sát các hiện tượng lặp lại ở
một số các yếu tố thuộc về nội dung và hình thức của tác phẩm và dựa vào tần
số xuất hiện của các yếu tố đó để khái quát và hệ thống thành những đặc điểm
riêng, nổi bật dưới góc nhìn văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình khảo sát về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ
góc nhìn văn hoá - văn học. Chúng tôi không đặt nhiều tham vọng đưa ra
những kiến giải mới khác với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó mà
chỉ vận dụng những thành tựu đã có để đưa ra những đánh giá có tính chất cụ

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Văn hoá
Văn hoá là một khái niệm đã có từ lâu đời và có nội hàm rất rộng. Theo
A.L. Kroeber và C.L. Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: cái nhìn phân tích về
khái niệm và định nghĩa có khoảng hơn 200 định nghĩa về văn hóa. Sở dĩ số
lượng định nghĩa văn hóa phong phú như vậy vì một phần văn hóa là một
phạm trù hết sức rộng. Phần khác, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích
và phương pháp nghiên cứu của mình đều có quyền đưa ra một định nghĩa
thích hợp. Sau đây, chúng tôi xin phép điểm qua một số định nghĩa về văn
hóa tiêu biểu. Cụ thể như:
Theo Từ điển tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa:
“Văn hoá là:
1. Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Kho tàng văn hoá dân tộc. Văn hoá
Phương Đông. Nền văn hoá cổ.
2. Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầucủa đời sống
tinh thần (nói tổng quát). Phát triển văn hoá. Công tác văn hoá
3. Tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát). Học văn hoá. Trình độ
văn hoá.
4. Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. Sống có
văn hoá. Ăn nói thiếu văn hoá.
5. Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở
một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống
8


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

nhau. Văn hoá rìu hai vai. Văn hoá gốm màu. Văn hoá Đông Sơn.
Trong Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP Hồ Chí Minh,

Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hoá là một mặt trận; Xây dựng và
phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí
cách mạng và sự kiên trì, thận trọng”.
Tóm lại, dù có nhiều khái niệm khác nhau về văn hoá, nhưng tựu trung
lại, văn hoá có những đặc điểm cơ bản sau: Văn hoá là một hoạt động sáng
tạo, mang tính lịch sử chỉ riêng con người mới có. Hoạt động sáng tạo đó bao
trùm mọi ứng xử của con người với nhau và của con người với tự nhiên - xã
hội, thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống: đời sống vật chất, đời sống xã
hội, đời sống tinh thần. Những hoạt động sáng tạo đó đã đạt được thành tựu
của các giá trị văn hoá, được bảo tồn và khai thác phát huy từ thế hệ này sang
thế hệ khác bằng con đường giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng). Văn hoá là thể
hiện của mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại, tạo ra một
kiểu lựa chọn riêng của tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác,
một cá nhân khác, tạo thành những nhân cách văn hoá (cá nhân), những nền
văn hoá khác nhau (cộng đồng).
Dù hiểu theo cách nào thì văn hoá cũng đều là thành quả, là sản phẩm
độc đáo của quá trình lịch sử do cá nhân và cộng đồng người tạo nên. Trong
phạm vi vấn đề được đề cập trong luận văn này, chúng tôi nghiêng về cách
hiểu văn hoá gắn liền với bản sắc văn hoá theo định nghĩa của Phan Ngọc và
của UNESCO.
1.1.2. Bản sắc văn hoá
Văn hoá là sản phẩm, là diện mạo của cá nhân và cộng đồng. Vì thế nói
tới văn hoá không thể không nhắc đến vấn đề bản sắc văn hoá, tức là cái “tinh
tuý”, cái cốt lõi của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử.
Bản sắc văn hoá, theo Ngô Đức Thinh, là “một tổng thể các đặc trưng
của văn hoá, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử của
dân tộc, các đặc trưng văn hoá ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu
tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc

trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán... là những thành tố hợp thành cấu
trúc tổng thể bao trùm lên tất cả là văn hoá. Vì vậy, cũng như các thành tố kia,
văn học luôn chịu sự chi phối trực tiếp (dù vô thức hay có chủ ý) “từ môi
trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một
dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời
11


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

đại và một cộng đồng dân tộc” (Trần Lê Bảo, (2011), Giải mã văn học từ mã
văn hóa, Nxb ĐHQG Hà Nội).
Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước
thế giới thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh
động nhất. Để có được những thành quả quả đó, văn hoá của một dân tộc
cũng như của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm,
chọn lựa, đấu tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội. Văn
học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị
đã hình thành. Chính vì vậy, có thể nói văn học là văn hoá lên tiếng bằng
ngôn từ nghệ thuật. Như nhà nghiên cứu Phương Lựu khẳng định: “Nếu nghệ
thuật là một loại văn hoá đặc biệt, thì lấy ngôn ngữ với tư cách là biểu hiện
đầu tiên, cơ bản, vĩ đại của văn hoá nhân loại làm chất liệu, văn học chính là
gương mặt tiêu biểu cho văn hoá tinh thần của mỗi dân tộc”. (Phương Lựu
(chủ biên), Giáo trình Lí luận văn học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, 2010)
Ở một mặt khác, văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấm
gương của văn hoá. Và khi nhìn văn học từ góc độ văn hóa học một cách cặn
kẽ thì “nếu văn học có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể
phản ánh trực tiếp được, mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn
hóa, thông qua “bộ lọc” các giá trị văn hóa”.
1.2.2. Văn hoá trong văn học

với đời sống văn hoá cộng đồng, giúp cộng đồng nhận thức, gìn giữ và phát
huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình; đồng thời tẩy chay,
bài trừ những biểu hiện phản văn hoá.
Ngoài ra, văn học không chỉ là phương thức thể hiện, tồn tại của văn
hoá mà còn là phương tiện cất giữ, bảo lưu văn hoá bằng chất liệu có tính
năng động và bền vững, đó là ngôn từ. Thông qua ngôn từ nghệ thuật, người
ta có thể thấu đáo hơn giá trị văn hoá của từng dân tộc, từng thời đại. Bởi vì,
“văn chương của một dân tộc cũng như toàn thể nhân loại từng trải qua
nhiều chặng đường tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để hình thành
những giá trị trong xã hội. Văn học vừa thể hiện con đường tìm kiếm đó, vừa
là nơi định hình những giá trị đã hình thành”. (Dẫn theo, Tống Thị Hạnh Chi,
Tiểu thuyết Nguyễn Xuân khánh dƣới góc nhìn văn hoá, luận văn thạc sĩ,
ĐHSP HN 2012, trang 16).
13


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Tóm lại, giữa văn học và văn hoá luôn có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Văn học là một bộ phận của văn hoá. Mọi sự biểu hiện của văn học xét
đến cùng, chính là sự thể hiện của văn hoá. Do vậy việc tìm hiểu văn học dưới
góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng. Cùng với những
cách tiếp cận văn học bằng xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cận
văn học bằng văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ
thuật với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó. Những yếu tố văn
hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn
ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và
hình thức của tác phẩm. Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị
hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học.
1.3. Sơ lƣợc về nghiên cứu văn học dƣới góc nhìn văn hoá

Hà Nội
Nói như tác giả Trần Nho Thìn, trong cuốn Văn học trung đại Việt
Nam dƣới góc nhìn văn hoá: “Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học dưới
góc nhìn văn hoá ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hoá trong đó
tác phẩm văn học ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn
giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mĩ, quan niệm về con người, cũng
như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt xã
hội sống động, hiện thực.. . từng tồn tại trong một không gian văn hoá xác
định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình
tượng xúc cảm, ngôn ngữ”. [Trần Nho Thìn, VHTĐVN dưới góc nhìn văn
hoá, NXB GD 2007, tr 9,10]
Mặt khác, với phương pháp này, chúng ta có thể “giải mã các hình
tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn hoá lịch sử của chúng, đồng thời cũng
nhấn mạnh đến sự liên tục, tính chất mở của chúng trong không gian và thời
gian”. (Trần Nho Thìn, VHTĐVN dưới góc nhìn VH, tr10).
Như vậy, có thể tóm lược nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là
đặt tác phẩm văn học đó gắn với thời đại văn hoá mà nó ra đời, để từ đó giải
mã những chi phối của văn hóa thời đại đến việc xây dựng tác phẩm văn học.
2. Những yếu tố hình thành văn hoá Nam Bộ trong sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tƣ
2.1. Điều kiện tự nhiên và môi trƣờng sống
15


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên vùng đất Nam Bộ
Nam Bộ là vùng địa lí có nhiều nét riêng biệt. Đây là vùng đất nằm ở
cuối cùng của Tổ quốc về phía Nam, nằm trọn trong lưu vực hai dòng sông
lớn Đồng Nai và Cửu Long (thuộc hạ lưu sông Mê Kông). Nam Bộ được chia

(Dẫn theo Cơ sở văn hoá Việt Nam, Trần Quốc Vượng (chủ biên),
NXB Giáo dục Việt Nam, 2012, trang 284)
Với những đặc điểm tự nhiên trên, Nam Bộ trở thành miền đất hứa của
nhiều người đi mở đất, mở nước. Nhưng vốn là vùng đất mới khai phá còn
mênh mông và hoang sơ, bí hiểm nên bên cạnh những thuận lợi kể trên, thiên
nhiên Nam Bộ cũng có những khắc nghiệt, dữ dội, nhất là với người đi “mở
đất”. Họ đã phải vật lộn vất vả chống chọi với thiên nhiên để tìm kế mưu sinh.
Những thuận lợi và khó khăn của tự nhiên Nam Bộ không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp đến quá trình lao động mà còn ảnh hưởng đến đời sống văn
hoá, tinh thần của người dân, hình thành nên tính cách con người và in dấu
sâu đậm trong nhiều tác phẩm văn học viết về vùng đất này, trong đó có sáng
tác của Nguyễn Ngọc Tư.
2.1.2. Đặc điểm cư dân Nam Bộ
Như trên đã nói, Nam Bộ là vùng đất được khai phá muộn nên phần lớn
dân cư ở đây là những lưu dân. Họ đến từ nhiều vùng miền trong cả nước.
Một bộ phận đến từ miền Trung. Một bộ phận khác đến từ miền Bắc (nhất là
ở đồng bằng châu thổ sông Hồng). Một bộ phận là bà con dân tộc Khơmer có
nguồn gốc từ Cămpuchia. Một bộ phận là những người thuộc dân tộc Hoa
(nguồn gốc Hoa) và một số dân tộc thiểu số khác. Mỗi bộ phận lưu dân khi di
cư đến vùng đất mới, bên cạnh những dụng cụ sản xuất, kinh nghiệm sản
xuất, họ đều mang theo những nét văn hoá riêng của dân tộc mình. Trong quá
trình sinh sống, giữa các dân tộc không hề bài trừ nhau mà ngược lại luôn có
sự tiếp biến về văn hoá lẫn nhau. Điều đó đã tạo cho vùng Nam Bộ có sự đa
dạng và độc đáo về văn hoá.
Do đặc điểm tự nhiên của vùng Nam Bộ có rất nhiều sông ngòi, kênh
rạch chằng chịt nên ở đây “làng mạc được phân bố theo dạng kéo dài, lấy “kinh
mương” hay “lộ” giao thông làm trục. Dân cư ở hai bên kinh rạch hay con lộ,
mặt nhà đều quay ra lộ hay kinh mương”. (Nguyễn Phương Thảo, Văn hoá dân
gian Nam Bộ những phác thảo, NXB Văn hoá thông tin, trang 12). Cũng do
17

với từng con rạch, con kênh, dòng sông uốn khúc, với những cánh đồng mênh
mông chạy tít tắp phía chân trời. Có thể nói, đây là mảnh đất ươm mầm, bồi
dưỡng; cũng là nguồn cứ liệu quí giá, rất hữu ích cho con đường sáng tác văn
18


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

chương của chị.
Nguyễn Ngọc Tư xuất thân trong một gia đình lao động, có truyền
thống cách mạng, từ thế hệ nội, ngoại, ba mẹ Nguyễn Ngọc Tư đều là bộ đội
trong kháng chiến chống Mỹ. Ông Nguyễn Thái Thuận, cha đẻ của Nguyễn
Ngọc Tư là người hay làm thơ, viết báo. Có lẽ vì thế, chất văn chương, nghiệp
báo chí đã ngấm sâu vào máu thịt của chị. Hơn nữa, quê hương Cà Mau nhiều
sông, lắm rạch, phong cảnh hữu tình với những cánh đồng thẳng cánh cò bay,
với những rừng tràm ngào ngạt, rừng đước xanh bạt ngàn... đã góp phần quan
trọng trong sự hình thành văn phong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Không
chỉ vậy, Cà Mau còn là vùng đất mang đậm bản sắc văn hóa Nam Bộ, miền
Tây sông nước. Ở đây, những câu hò, câu vọng cổ, cải lương... khoan thai
theo nhịp mái chèo cũng đã thổi hồn vào trong văn chương chị đầy lãng mạn,
trữ tình, độc đáo.
Tuổi thơ của Nguyễn Ngọc Tư không được may mắn như các bạn cùng
trang lứa. Vì hoàn cảnh gia đình: ông ngoại bệnh nặng, kinh tế gia đình khó
khăn, neo người; khi học xong lớp 9 chị phải nghỉ học giữa chừng. Ở nhà
chăm sóc ông ngoại và phụ bố mẹ làm việc nhà, tuy vất vả nhưng bù lại cho
chị có cái nhìn đằm sâu hơn với con người, với cuộc đời. Có lẽ, đó cũng là
một phần lý do khiến sau này chị viết nhiều, viết hay về số phận của những
con người chân chất, tình nghĩa mà nghèo khổ?
Ở một mặt khác, với tài năng thiên bẩm và năng khiếu văn chương
(Nguyễn Ngọc Tư đã từng đạt giải nhì cuộc thi học sinh giỏi môn văn cấp tỉnh

7. Tạp văn Nguyễn Ngọc Tƣ (NXB Trẻ, 2005)
8. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện ngắn, NXB Trẻ, 2008)
9. Yêu ngƣời ngóng núi (Tản văn, NXB Trẻ, 2009)
10. Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn, NXB Thời đại, 2010)
11. Sông (Tiểu thuyết, NXB Trẻ, 2012)
12. Bánh trái mùa xƣa ( 2012)
13. Gáy ngƣời thì lạnh (Tản văn, 2012)
Là một nhà văn trẻ nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã gặt hái được khá nhiều
thành công, với nhiều giải thưởng lớn. Cụ thể như:
- Giải nhất Cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần thứ II, với tác
phẩm Ngọn đèn không tắt, năm 2000
20


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

- Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các
Hội VHNT Việt Nam với Tập truyện Ngọn đèn không tắt – năm 2000
- Giải B Hội Nhà văn Việt Nam với tập truyện Ngọn đèn không tắt –
năm 2001
- Một trong “Mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003” do Trung ương
Đoàn trao tặng.
- Giải thưởng văn học ASEAN 2008.
Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư ngay từ khi ra đời cho đến nay vẫn luôn
nhận được sự yêu mến, quan tâm đặc biệt trong lòng độc giả. Điều này không
chỉ thể hiện ở số lượng các tác phẩm được tái bản nhiều lần với số lượng lớn
mà còn thể hiện ở số lượng các bài viết trao đổi, phê bình về tác phẩm của chị
trên các trang báo, trên mạng Internet. Tác phẩm của chị được nhiều người
chọn làm đối tượng nghiên cứu khoa học trong các khoá luận tốt nghiệp đại
học, các luận văn thạc sĩ. Đặc biệt chị đã được Trần Hữu Dũng – một giáo sư

đô thị để sống cùng với những con người chân chất, tình nghĩa, với mảnh đất
nghèo khó Nam Bộ. Mảnh đất ấy có vệt phù sa châu thổ, những sông ngòi
chằng chịt, cánh đồng bất tận mênh mông và biết bao con người đang vật lộn
với từng thước đất để mưu sinh. Sống và lớn lên với mảnh đất quê hương,
Nguyễn Ngọc Tư đã quen với mùi hăng hăng của cỏ khi sa mưa, mùi nồng
nồng oi oi của đất, mùi thơm dậy của mắm chấm rau đồng... Quê hương thực
sự đã ăn vào máu thịt, thấm vào từng hơi thở của chị, hiện lên phảng phất,
dung dị trong sáng tác của chị.
Về mặt tự nhiên, Nam Bộ là vùng đất có những sông ngòi chằng chịt,
những ao hồ và ruộng đồng mênh mông… Do cấu tạo tự nhiên có tính đặc thù
như thế nên đã hình thành nên đặc trưng văn hóa: cư trú, giao thông, âm nhạc,
ẩm thực... của vùng miền Nam Bộ cũng như tính cách, lối sống, quan niệm,
tập quán... của con người nơi đây. Những yếu tố này cũng đã tác động trực
tiếp đến cách xây dựng, miêu tả hiện thực và con người trong sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư. Vì vậy, người đọc dễ dàng bắt gặp trong cách thể hiện của
chị mọi sinh hoạt và đời sống của con người đều mang dấu ấn của không gian
văn hóa vùng đất phù sa sông nước như: ruộng đồng, kinh rạch, dòng sông,
con đò, ghe xuồng, chợ nổi…
Cư trú ven sông là mô hình phổ biến nhất của cư dân Nam Bộ với ba
22


Đề tài: SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

hình thức cơ bản: nhà ở trước sông sau ruộng, cư trú ở vùng giáp nước, nhà ở
trước đường sau sông. Các loại hình cư trú này xuất phát từ địa hình tự nhiên
Nam Bộ nhiều sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, tạo điều kiện cho việc di
chuyển bằng đường thủy. Nơi ở gần sông như thế khá thoáng mát, phục vụ
tiện ích cho cuộc sống sinh hoạt đời thường: tắm giặt, đánh bắt thủy hải sản,
buôn bán, trao đổi hàng hóa...

canh chua cá rô đồng bông so đũa, cháo le le... Với tất cả những giá trị văn
hóa này, đọc sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc như có cảm giác được
đứng trên chính mảnh đất Nam Bộ vậy.

CHƢƠNG II: NHỮNG YẾU TỐ CỦA VĂN HÓA NAM BỘ TRONG
SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất hội nhập của nhiều luồng văn
hoá Đông -Tây khác nhau. Đọc sáng tác về đồng bằng sông Cửu Long, người
ta dễ dàng nhận ra những nét độc đáo của tính cách con người và bản sắc văn
hóa đa dạng của một vùng đất. Nguyễn Ngọc Tư cũng không là ngoại lệ. Sáng
tác của chị chính là bức tranh đời sống và tâm hồn của con người Nam Bộ, là
địa hạt mà chị chứng tỏ được khả năng bao quát và phát hiện những góc
khuất, những điều tưởng chừng như đơn giản nhưng hệ trọng đối với đời sống
con người.
Bao trùm các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hiện thực cuộc sống con
người trên mảnh đất Nam bộ với cánh đồng lúa mênh mông, những con sông
uốn lượn hay những bờ kinh, con mương và vô số những đầm, đìa, rạch,
xẻo...; những chợ nổi với ghe xuồng, sóng nước tấp nập…; những câu hò,
điệu hát lên xuống theo từng con nước lớn, ròng; hay những bài vọng cổ buồn
được cất lên từ những đoàn ca múa cải lương đang len lỏi mưu sinh tận trong

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status