Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hơn một thập kỉ qua, trong đời sống văn chương nước ta, Nguyễn
Ngọc Tư thuộc số những cây bút nhận được nhiều nhất cảm mến của độc giả.
Chị nổi lên như một “hiện tượng” văn học với nhiều giải thưởng uy tín trong
nước. Khởi đầu là giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học cho tuổi 20 lần II
- tác phẩm Ngọn đèn không tắt, năm 2000. Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ
của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Tiếp đó
là giải B của Hội nhà văn Việt Nam năm 2001. Một trong “Mười gương mặt
trẻ tiêu biểu năm 2003" do Trung ương đoàn trao tặng. Năm 2006, Hội nhà
văn Việt Nam đã trao giải “Hiện tượng văn học trong năm” cho truyện Cánh
đồng bất tận. Nhiều cây bút có uy tín đã đánh giá cao năng lực văn chương
của Nguyễn Ngọc Tư: “Một tài năng văn học hiếm có hiện nay của Việt
Nam”. Nguyễn Ngọc Tư không chỉ thành công rực rỡ với thể loại truyện ngắn
mà còn khẳng định cái duyên mặn mà ở tản văn và cũng đầy hứa hẹn khi
bước chân sang tiểu thuyết. Với hàng chục cuốn sách đã công bố, chị được dư
luận xa gần coi như nhà văn của sông nước, miệt vườn Nam Bộ, của những
phận người bé mọn nhưng mang chứa biết bao vẻ đẹp vừa thuần hậu, vừa
lãng mạn, phóng túng khiến nó không hiếm khi trở nên bí ẩn lạ lùng.
1.2. Văn học là ngành nghệ thuật nhân văn hướng tới đối tượng chính là
con người.Trẻ em là đối tượng được quan tâm đặc biệt của nhiều nhà văn Việt
Nam từ đầu thế kỉ 20 đến nay. Trẻ em như một thước đo trình độ nhân văn
đầy mẫn cảm, lại cũng là chỗ khẳng định quan niệm nghệ thuật độc đáo của
một nhà văn. Mỗi nhà văn có một cách nhìn nhận riêng về trẻ em do đó có sự
chọn lựa lối viết riêng. Không có tấm lòng thiết tha với trẻ, không nghiêm túc
với ngòi bút, tác phẩm sẽ không thể chinh phục được các em. Nguyễn Ngọc
Tư nằm trong số những người viết thành công, không chỉ được người lớn mà
1
tác phẩm đã dành được cảm tình của nhiều bạn đọc và các nhà nghiên cứu.
“Nhiều tiếng khen, nhiều bài báo trong Nam ngoài Bắc phát hiện về Nguyễn
2
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
Ngọc Tư, một hiệu ứng đọc ít thấy từ lâu" (58). Nhà văn Dạ Ngân trong bài
viết của mình từng có sự liên tưởng đến lời khen dành cho Solokhov "Một con
đại bàng non vừa cất lên đôi cánh” (28) khi Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện trên
văn đàn.
Tiếp sau đó Nguyễn Ngọc Tư cho ra đời 6 tập truyện ngắn: Ông ngoại
(2001), Biển người mênh mông (2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây
trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận
(2005). Ngoài ra chị còn sáng tác cả tạp văn, ký và bắt đầu thử nghiệm với
tiểu thuyết Sông. Chị trở thành một “hiện tượng” thu hút sự chú ý của đông
đảo công chúng. Xuất hiện rất nhiều bài viết về chị. Đa số khẳng định tài năng
dồi dào đầy sinh lực của một cây bút trẻ: “Cô ấy như một cái cây mọc lên
giữa những rừng tràm hay rừng nước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem
đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà
tinh tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào
cả như các tác giả Nam Bộ đi trước (59); “Nguyễn Ngọc Tư là cây bút đặc
biệt của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của Việt
Nam” (14); “Nếu được chọn người có tác phẩm văn học xuất sắc nhất Việt
Nam 2005, tôi sẽ chọn nữ nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư với “Cánh đồng bất
tận” (28). Bước chân sang lĩnh vực tiểu thuyết, tiểu thuyết sông của Nguyễn
Ngọc Tư được đánh giá là độc đáo, đầy tính thời sự mà cũng giàu chất thơ.
Tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận thường được xem là trội nhất của
Nguyễn Ngọc Tư lại đón nhận nhiều ý kiến trái chiều. Có những bài viết phê
- Gió lẻ và chín câu chuyện khác ( Tập truyện NXB Trẻ - 2008)
- Yêu người ngóng núi (Tản văn - NXB Trẻ - 2009)
- Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn - NXB Thời Đại - 2010)
- Sông (Tiểu thuyết - NXB Trẻ - 2012)
- Gáy người thì lạnh (Tản văn - NXB Trẻ - 2012)
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Nhân vật trẻ em và những vấn đề nhân văn thẩm mỹ kết tụ xung quanh
nhân vật này trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn phối hợp những phương pháp sau đây để giải quyết đề tài:
4.1. Phương pháp phân tích tác phẩm: Luận văn sử dụng phương pháp
phân tích nhân vật để tìm ra những đặc điểm riêng về đời sống, tâm tư, tình
cảm, khát vọng, tính cách, chiều sâu tâm lí nhân vật và nghệ thuật xây dựng
nhân vật trẻ em của nhà văn, từ đó làm sáng tỏ các luận điểm nghiên cứu.
4.2. Phương pháp so sánh: là một thao tác cần thiết, giúp nhận diện được
vai trò, vị trí của nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trong
tương quan với nhân vật khác và với các tác phẩm của các tác giả khác cùng
viết về nhân vật trẻ em, thấy được những kế thừa và những độc đáo, riêng biệt
của nhà văn.
4.3. Phương pháp phân loại, thống kê: Luận văn thực hiện việc khảo sát,
phân loại, thống kê với những con số cụ thể nhằm gia tăng sự chính xác, cụ
thể, thuyết phục cho những vấn đề lí luận mà chúng tôi đưa ra.
Phương pháp phân loại được sử dụng trong việc phân chia các chủ đề về
7
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, từ đó giúp người đọc
“Trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Ở Việt Nam, pháp luật chưa có các quy
định thống nhất về khái niệm trẻ em trong từng ngành luật cụ thể. Theo luật
bảo vệ, chăm sóc và giaó dục trẻ em năm 2005 thì: “Trẻ em là công dân
Việt Nam dưới 16 tuổi” còn Bộ luật dân sự (2005) lại ghi: “Trẻ em là
những người dưới 15 tuổi”.
Ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào sự phát triển thể chất, tâm sinh lý của trẻ
mà có quy định riêng độ tuổi được gọi là "trẻ em".
Trong các quy phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm “vị
thành niên”; “người chưa thành niên”. Người thành niên là người trên mười
tám tuổi, người chưa thành niên là người dưới mười tám tuổi. Trẻ "vị thành
niên" thường được dùng chỉ những người tuổi khoảng mười lăm đến dưới
mười tám. Trong thực tiễn sử dụng, khái niệm "người chưa thành niên" có khi
bao gồm cả "trẻ em". Cũng có khi khái niệm "trẻ em" lại bao gồm cả trẻ "vị
thành niên" (tức cả người từ mười sáu tuổi đến mười tám tuổi).
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tạm quy ước đối tượng nghiên
cứu là những nhân vật dưới mười tám tuổi. Gọi là "tạm quy ước" vì thế giới
nghệ thuật không phải lúc nào mọi ranh giới, kể cả ranh giới về tuổi tác, cũng
rành mạch. Hơn nữa, không phải lúc nào tác giả cũng nói rõ tuổi tác của nhân
vật mình đang mô tả. Ở khu vực truyện thơ Nôm, có những nhân vật mười ba,
mười bốn tuổi cả tác giả lẫn độc giả nhưng không coi là trẻ em như (Thạch
Sanh, Tống Trân, Cúc Hoa ...chẳng hạn).
1.2. Nhân vật trẻ em trong văn học trƣớc cách mạng tháng Tám.
Trẻ em là tương lai của nhân loại, hiện thân của sự sống trong trẻo, cái
đẹp thuần khiết, nguyên sơ, của sự yếu ớt mong manh cần được che chở.
Trong văn học, trẻ em là nhân vật dễ gây chú ý vì chúng cho thấy rõ nhất
hoàn cảnh văn hóa - xã hội, trình độ văn minh của một cộng đồng. Mỗi nhà văn
hình như đều có một cách nhìn nhận riêng về trẻ em. Xem việc viết về trẻ em
như để gặp lại quá khứ của chính mình, Lâm Thị Mỹ Dạ từng nói: “Với tôi,
9
truyện này là những đứa trẻ nghèo khổ, bị vứt ra lề đường, sống đói rét, cơ
10
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
cực, phải đi ăn xin, đi làm thuê làm mướn mà vẫn không đủ sống, hoặc vẫn
sống với mẹ cha nhưng bị hắt hủi, hờ hững.
Ngô Tất Tố đã phản ánh chân thực, xúc động cảnh sống nheo nhóc, đói
khát nhưng ngoan ngoãn, hiếu thảo của những đứa con chị Dậu, đặc biệt là cái
Tí (Tắt đèn). Những nhân vật nhỏ dại này đã khiến nhiều người phải rơi lệ
thương xót.
Nguyên Hồng được mệnh danh là “Nhà văn của phụ nữ và trẻ em”. Trẻ
thơ trở thành mối quân tâm sâu sắc của ông. Có thể kể tới các tác phẩm:
Những ngày thơ ấu, Mợ Du, Những mầm non... Mỗi trang viết của ông đều
như tiếng thở dài đầy trăn trở, xót xa trước những thân phận bé bỏng, thơ dại,
khốn khổ. Những đứa bé chẳng được học hành gì, đứa thì lê la đất bẩn, đứa
lang thang trên phố, đứa làm những việc khó nhọc, quá sức không kém người
lớn. Bao nhiêu nguy cơ, cạm bẫy đang rình rập chúng. Nguyên Hồng viết về
trẻ thơ không chỉ bằng sự quan sát mà trước hết bằng sự trải nghiệm. Từ
chính cuộc đời cui cút, bất hạnh, thiếu tình yêu thương, thiếu thốn về vật chất
của mình, ông đã dồn cả tâm huyết, khát vọng vào nhân vật trẻ em bất hạnh,
sớm phải lang thang kiếm sống ở thành phố, phải lăn lộn giành giật miếng
cơm manh áo (bé Hồng trong Những ngày thơ ấu, thằng Minh trong Bỉ vỏ,
cái Túc trong Những mầm non). Mỗi đứa trẻ là một số phận, một mảnh đời đau đớn, côi cút. Chúng cất lên tiếng nói tố cáo thống thiết xã hội Việt Nam
trước Cách mạng.
Về cơ bản, nhân vật trẻ em trong văn học thời kì này xuất hiện như nạn
nhân của hoàn cảnh bất công, phi lí. Chúng được các nhà văn ý thức như
những thân phận đáng thương, những cá nhân cần được bảo vệ, những bằng
của Xuân Sách, Đội tình báo thiếu niên Bát sắt của Phạm Thắng..., ấn tượng
nổi bật mà các tác giả dụng công tạo dựng vẫn là chân dung các anh hùng nhỏ
tuổi. Các em đều có hoàn cảnh gia đình bất hạnh, hoặc bị chiến tranh làm li
tán, được Cách mạng dang rộng vòng tay đón nhận, cưu mang. Quá trình
trưởng thành của các em là quá trình phấn đấu trở thành những tấm gương
"thiếu niên anh hùng", "tuổi nhỏ chí cao", khiến bạn đọc xa gần truyền tụng.
Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xuất hiện khá nhiều chuyện
về sinh hoạt của trẻ em ở các đội Măng non, liên đội Thiếu niên tiền phong...
12
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
nhưng để lại dấu ấn đậm nét nhất vẫn là hình tượng những cô bé, cậu bé mang
nặng thù nhà nợ nước, sớm nối chí cha anh dẫn bước vào cuộc kháng chiến để
khẳng định hùng hồn chân lí "tre già măng mọc" như: Những đứa con trong
gia đình, Mẹ vắng nhà của Nguyễn Thi; Chú bé Cả Xên của Minh Khoa; Út
Tám của Ngô Thông; Em bé sông Yên của Vũ Cận, Đất rừng Phương Nam
của Đoàn Giỏi, Thằng Mỹ của Anh Đức, Đất Quảng của Nguyễn Trung
Thành, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng...Trẻ em vừa đi học vừa đào
hầm, đắp lũy, vừa đi sơ tán, vừa tải đạn cứu thương... Đó là hình ảnh đầy kiêu
hãnh của một dân tộc ở thời đại "ra ngõ gặp anh hùng". Cái gian khổ ác liệt
không phủ bóng đen u ám lên gương mặt trẻ thơ, trái lại, làm chúng bừng
sáng một ngọn lửa sống mãnh liệt bất khuất.
Tuy nhiên, do thiên về mục đích tuyên truyền cổ vũ, văn học Việt Nam
thời kì này bị chi phối mạnh mẽ bởi khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng
mạn, nên khi viết về nhân vật trẻ em, hầu hết các tác phẩm đặt đối tượng dưới
nhãn quan đạo đức Cách mạng, nhân vật luôn được lí tưởng theo khuôn mẫu
người công dân xã hội chủ nghĩa. Tính chất hồn nhiên, ngây thơ, giảm thiểu
hùng) thì nay trẻ em sẽ được nhìn nhận như những tính cách đa diện, tốt có,
xấu có, vừa soi chiếu thế giới người lớn vừa giữ tính độc lập riêng với đặc
điểm tâm sinh lí lứa tuổi. Những tác phẩm viết về kí ức tuổi thơ nở rộ: Miền
thơ ấu - Vũ Thư Hiên, Hành trình ngày thơ ấu - Dương Thu Hương, Cô bé
nhìn mưa - Đặng Thị Hạnh, Tuổi thơ im lặng - Duy Khán, Dòng sông thơ
ấu - Nguyễn Quang Sáng, Tuổi thơ dữ dội - Phùng Quán ...Dường như tuổi
thơ không chỉ là chất liệu hiện thực độc đáo mà còn là một cách nhìn, một
tiêu điểm để đánh giá lại nhiều vấn đề trong quá khứ và hiện tại. Dù viết về
chuyện của quá khứ song ý nghĩa thời sự vẫn dồi dào, thu hút sự quan tâm của
đông đảo độc giả. Nhiều người đã nói đến mầu sắc tự truyện của các tác phẩm
này, chúng khiến cho ngay cả một số cuốn được in ở nhà xuất bản Kim Đồng
nhưng lại thực sự chuyển tải thông điệp về xã hội người lớn ( thí dụ: Chó Bi,
đời lưu lạc, Côi cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng ).
Cùng với sự chuyển dịch về tư tưởng là sự đổi mới trong nghệ thuật. Dư
luận dành nhiều quan tâm cho một số trường hợp khá mới mẻ về lối viết như
Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần, Phan Thị Vàng Anh...
Nếu như viết về tuổi mới lớn Nguyễn Nhật Ánh tập trung vào những
14
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
rung động đầu đời của các em thì khi viết cho tuổi học sinh cấp một, cấp hai,
ông lại đi vào chủ đề chính là chuyện trường lớp ( Bài vở và các mối quan hệ
với thầy cô, bạn bè, mọi người xung quanh). Đặc biệt ông nói nhiều hơn đến
tình bạn. 45 tập Kính vạn hoa xoay quanh tình bạn của bộ ba Quý Ròm - Tiểu
Long - nhỏ Hạnh ở tập thể lớp 8A4 trường Tự Do nhưng không hề nhàm
chán, trái lại luôn hấp dẫn bạn đọc, lôi kéo họ qua từng trang truyện. Với cảm
hứng thế sự dồi dào, bộ truyện được hoàn thành trong bẩy năm đã chinh phục
thía nỗi đau khổ của cô giáo khi đánh mất bé Thương. Vẻ đẹp tâm hồn và
những hành động đầy tình yêu thương, vị tha của Dũng như là những câu
chuyện cổ tích giữa đời thường.
Trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, nhân vật bé Hon là một cô bé đặc
biệt "một thiên sứ pha lê" lạc bước xuống "cõi trần gian u xám lạnh lùng",
thừa toan tính vụ lợi mà thiếu thốn cảm thông, thương xót. Cô khao khát yêu
thương và chỉ chăm chăm đi ban phát yêu thương, đi đâu, gặp ai bé cũng tặng
nụ cười trẻ thơ và lời mời chào thơm ngậy mùi sữa: "thơm nào". Thế nhưng
thiên sứ đã bị chối từ ngay trong gia đình của mình. Ban đầu họ còn hào
hứng, dần dần cảm thấy khó chịu, cau có, bực dọc, không ai đón nhận nụ cười
và môi hôn bất tận của bé, cô đành chia sẻ cho chú mèo. Rồi cô vĩnh viễn từ
giã cuộc đời với đôi môi đỏ cháy vẫn "đòi vô tận những nụ hôn". Nhân vật bé
Hon - thiên sứ pha lê trong cuốn tiểu thuyết rất ngắn này hoàn toàn khác các
nhân vật trẻ em trong văn chương truyền thống. Đây là huyền thoại tự giải
thiêng, là lời cảnh tỉnh xót xa mà nghiêm khắc trước tình trạng con người
ngày càng cạn kiệt nhân tính, ngày càng để cho thói vụ lợi thống trị.
Các nhân vật trẻ em xưng "tôi" trong Miền thơ ấu của Vũ Thư Hiên,
Hành trình ngày thơ ấu của Dương Thu Hương, Côi cút giữa cảnh đời của
Ma Văn Kháng, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Mảnh đất tình yêu,
Hương và Phai của Nguyễn Minh Châu cũng như trong hầu hết tác phẩm của
Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc Thuần, Phạm Thị Hoài... đều có điểm
chung: chúng không phải những nhân cách hoàn hảo, không già dặn như
những "người lớn thu nhỏ" thường thấy ở văn học giai đoạn trước. Chúng
sống với thế giới đời thường, tham gia vào những sinh hoạt đời thường.
Chúng có thể khôn ngoan hay khờ dại, hiền lành hay hiếu động...nhưng chúng
16
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ, "một hiện tượng văn học" trong
khoảng một thập niên trở lại đây. Văn chương của chị đậm chất Nam Bộ, giản
dị, không hoa hòe, hoa sói, không chạy theo thời thượng, tân kì mà vẫn thu
hút biết bao sự quan tâm của độc giả. Dù chị chưa được gọi là "nhà văn của
trẻ em", song đọc các sáng tác của chị ta thấy hình ảnh trẻ em và vấn đề trẻ
em trở đi trở lại qua nhiều cảnh ngộ, số phận khác nhau, đặc biệt ám ảnh là
những đứa trẻ nơi làng xã.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở Cà Mau - vùng
đất cực Nam của tổ quốc, một trong những tiền đề quan trọng góp phần hình
thành nên quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư là những yếu tố văn
hóa mang đặc trưng riêng của vùng đất và con người nơi đây. Bao trùm các
sáng tác của chị là hiện thực cuộc sống con người trên mảnh đất Nam Bộ với
đồng ruộng mênh mông, những con sông, con kinh, con rạch chằng chịt và vô
số những đầm, đìa, rạch, xẻo, những chợ nổi ghe xuồng tấp nập, những câu
hò, điệu hát lên xuống theo từng con nước. Các câu chuyện chị kể thường
được triển khai trên nền bức tranh văn hóa làng quê Nam Bộ độc đáo ấy. Nói
như nhà văn Nguyên Ngọc đó chính là “không gian của Nguyễn Ngọc Tư”.
Tác giả Huỳnh Công Tín nhận xét “Người đọc sẽ được cảm nhận chất Nam
Bộ thể hiện khái quát ở nhiều phương diện của tác phẩm” (63). Tác phẩm của
chị có một không gian Nam Bộ với những loại cây thật điển hình mắm, đước,
sú, vẹt, bần, tra, trầm, choại, quao, ô rô, dừa nước...mọc trên những vàm
kinh, rạch, xẻo, chằng chịt, mà mỗi tên gọi đều đậm đặc tính địa phương: vàm
Cỏ Xước, vàm Mắm, kinh Cỏ Chác, kinh Mười Hai, kinh Thợ Rèn, Rạch Mũi,
Rạch Rãng, Xẻo Mê, Xẻo Rô, gò Cây Quao... Những tên ấp, tên làng, tên chợ
Nam Bộ thật khó lẫn Xóm Xẻo, xóm Rạch, xóm Kinh Cụt, xóm Miễu, chợ Ba
Bảy Chín, đất Cháy, Mút Cà Tha....
mẹ)... vì đam mê ca hát, đam mê tình ái, mà thành bất hạnh, phải sống nghèo
khổ, trong sự giày vò, dằn vặt lương tâm, trong mặc cảm có lỗi với con cái.
Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư mang nặng cảm thức cô đơn, cảm thức lưu
lạc, sống giữa đồng loại đông đúc ồn ào mà như lạc lõng bơ vơ. Cuộc sống
nay đây, mai đó lênh đênh trên sông nước của ông già Chín cùng hai cô con
gái (Nhớ sông) khiến họ đau đáu khao khát, thèm muốn được gắn bó với một
19
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
mảnh đất thân thuộc. Ba cha con Nương, Điền trong Cánh đồng bất tận phiêu
bạt hết nơi này đến nơi khác, chẳng nơi nào dung thân được đôi ba tháng.
Từ truyện ngắn đến tạp văn, thế giới hiện thực của Nguyễn Ngọc Tư chủ
yếu là một thế giới đang tàn héo phôi pha. Những dòng sông đang mỗi ngày
một đục bẩn (Tắm sông), những bờ sông lở mãi do tàu ghe cao tốc chạy
nhiều, những đầm tôm, bè cá chết bệnh khiến chủ nhân méo mặt (Ngậm ngùi
Hưng Mỹ, Chờ đợi những mùa tôm, Đi qua những cơn bão khô), những
đồng ruộng nhiễm phèn nhiễm mặn (Cánh đồng bất tận, Thư từ quê), những
ngôi nhà cổ hư nát không giữ được con người thủy chung (Nhà cổ, Thổ Sầu),
những tình yêu trái ngang, phụ bạc vì nghèo thiếu, vì lầm lẫn (Duyên phận so
le, Một trái tim khô, Nửa mùa)...Nhưng đấy cũng là thế giới của tình sâu
nghĩa nặng giữa con người với con người, giữa người với nghề (Cuối mùa
nhan sắc, Dòng nhớ, Đau gì như thể...), Giữa người với đất đai, cây trái
(Nhớ đất, Quán nhớ, Một mái nhà, Ngủ ở Mũi)...Thế giới ấy thật mộc mạc,
thân quen với những bà má bỏm bẻm nhai trầu, tài kho cá, làm mắm (Lời cho
má, Chợ của má, Thuộc về má); với những người đàn ông áo cánh khăn rằn,
rề rà cuộn thuốc hút và nhâm nhi nước để hóng gió chướng lồng lộng
thổi...Trong thế giới ấy, trẻ em là một "tụ điểm". Chúng là phần trong trẻo
Tư, Tiểu thuyết Sông..., nhân vật trẻ em luôn hiện diện trong mọi vấn đề của
người lớn, của xã hội: trong mối lo cơm áo, trong những cuộc truy tìm hạnh
phúc, trong nhu cầu tự hoàn thiện nhân cách và môi trường văn hóa (cộng đồng
xã hội): trách nhiệm các cơ quan đoàn thể, chính sách, tập quán văn hóa...
Lớn lên cùng với những người nông dân chân lấm tay bùn, Nguyễn Ngọc
Tư không khỏi xót xa khi chứng kiến cảnh tôm chết trắng đồng, những đàn vịt
bị chôn sống vì bệnh dịch kéo theo những món nợ chồng chất. Cuộc sống của
họ trở nên bấp bênh, bất trắc và cái nhìn lo âu của họ rốt cùng dừng lại nơi
con trẻ. Trong Ngậm ngùi Hưng Mỹ, Đã qua những cơn bão khô, Chờ đợi
những mùa tôm, Cánh đồng bất tận..., cái nghèo thành nỗi ám ảnh thường
trực đối với người dân vùng sông nước Nam Bộ: "Tôi có cảm giác cái nghèo
đã giăng ra sẵn những cái bẫy mà bà con nông dân mình đi luẩn quẩn thế
nào vẫn quay về ngay trân chỗ ấy" (50-48).
21
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
Mảnh đất Hưng Mỹ (Ngậm ngùi Hưng Mỹ) một địa danh nổi tiếng - căn
cứ địa thời kì chống Pháp, chống Mĩ, người dân nổi tiếng về sự trung kiên,
các em nhỏ cũng là "con nít giết giặc", vậy mà giờ đây "ba mươi tháng tư này
nữa là tròn hai chín năm hòa bình" rồi, con đường quốc lộ về ngang qua xã
vẫn ca hoài bài "đường chỉ đẹp khi còn dang dở. Xã có 3.911 hộ ngót 251 hộ
nghèo, 13 ấp thì một ấp rưỡi chưa có lưới điện" (48-43). Bây giờ đất này còn
nghèo hơn trước, "cái nghèo lừa mị người xứ xa, lừa mị những ông quan kinh lí
ưa kiểm tra lớt lớt" (48-44). Cái nghèo cứ bầy ra trước mắt: nhà chị Nga, ba
năm chuyển dịch, tôm chết triền miên, nợ hơn mười triệu ngân hàng. Anh chị
có bốn đứa con nhưng "ba đứa đã thôi học" (48-44); Nhà Chú Bảy Chà nghèo
nhất ấp - một căn nhà nhỏ rách đến tả tơi, mấy đứa nhỏ, con chú "không ai biết
người vợ nửa tỉnh nửa điên và hai đứa con gái nhỏ xinh xắn. Chú mơ ước đời
như ý nên chú đặt tên hai đứa con là Như và Ý. Nhưng rồi đến một ngày
không còn khả năng bảo bọc cho người phụ nữ mà mình yêu thương, chú Đời
đành phải bán cả đứa con gái nhỏ ngoan ngoãn. Hoàn cảnh nghiệt ngã đã
khiến gia đình chú phải xẻ nghé tan đàn, chia cắt tình thương. Liệu rồi những
đứa trẻ có hiểu lòng chú mà tha thứ? Liệu số phận chúng sẽ ra sao?
Lại còn một tai họa nữa rình rập con trẻ ở ngay mái ấm gia đình chúng.
Đó là thói nông nổi, ích kỉ, những đam mê lầm lạc của các bậc làm cha làm
mẹ lắm khi đã đẩy trực tiếp đẩy con mình vào cuộc sống khổ đau.
Đào Hồng (Cuối mùa nhan sắc), chị Diệu (Làm má đâu có dễ) là những
người nhẹ dạ, lụy tình rồi đều bị bỏ rơi. Họ sinh ra những đứa trẻ không cha.
Chị Diệu vì muốn nổi tiếng, được giao đóng những vai chính nên bỏ con cho
má. Đào Hồng bận đi lưu diễn nay đây mai đó, cũng cho đứa con của mình đi.
Khi nghiệp cầm ca tàn, thời xuân sắc qua đi, họ thấy cô đơn, họ cần đứa con
như cần một chỗ dựa, một niềm an ủi thì những đứa con quay lưng từ chối họ,
bởi chúng đã quen sống thiếu họ. Chúng lớn lên trong mặc cảm côi cút âm
thầm, hờn giận âm thầm mà mẹ chúng không bao giờ bận tâm đến. Ai có thể
đo được những tổn thương sâu xa trong tâm hồn những đứa trẻ này!
Trong Ấu thơ tươi đẹp, có những ông bố bà mẹ rất vô trách nhiệm. Họ vì
thói ích kỉ mà phá tan cái gia đình hạnh phúc - tổ ấm yêu thương của những
đứa trẻ. Họ sống buông thả, mỗi người chạy theo một đam mê để mặc gia
23
Đề tài : Nhân vật trẻ em trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
đình tan vỡ, những đứa con của họ phải sống khổ sở, thiếu thốn hơi ấm tình
thương cha mẹ. Chúng sớm mang những vết thương sâu hoắm trong tâm hồn,
nguy cơ lớn lên thành những nhân cách khuyết tật.
trong nhà, làm trái lời ông nội. Khi mưa bão làm sạt lở quả núi cạnh nhà họ, họ
cứu cô gái điếm để khỏi bị đi tù, mang theo con nhồng vì nó giúp họ sinh ra
tiền. Còn người cha, họ sẵn sàng bỏ mặc: "Ba già rồi còn để con nhỏ đó chết ở
đây anh sẽ ngồi tù" (39-80). Chứng kiến cha mẹ "đang rú lên mừng thoát nạn
mà đã - chết - rồi" cậu bé thấy trái tim tan vỡ. Cậu kêu gào thảm thiết vì
thương ông nội mà cũng là vì khủng khiếp trước cái chết của nhân tính.
Ở Cánh đồng bất tận vì ham tấm lụa đẹp, người mẹ đã ngã vào vòng tay
gã lái buôn. Út Vũ quá hận vợ trở nên tàn nhẫn, lầm lì, lạnh lùng với các con.
Anh đày đọa chúng, đốt bỏ căn nhà trú ngụ của chúng, bắt chúng phiêu bạt,
đánh đập chúng vì chúng có nét mặt giống mẹ. Út Vũ trả thù đời bằng những
cuộc tình chóng vánh, vô cảm mà anh "tính toán rất vừa vặn, sao cho vừa đủ
yêu, vừa đủ đau, vưa đủ bẽ bàng, và bỏ rơi họ đúng lúc" (37-176). Anh không
bao giờ để tâm đến nỗi bất hạnh của con cái anh. Anh tước đoạt cái quyền
được nhớ, được yêu thương của chúng. Không bạn bè, không người thân
thích, chúng trở nên lạc loài xa lạ giữa thế giới con người. Cuộc sống với
Nương, Điền là một chuỗi ngày lênh đênh bất định. Họ không có nhà cửa,
không ai chờ đợi, thế giới riêng tư khép kín, không gian tù túng một con
thuyền nhỏ, không bạn bè, lối xóm. Họ kiếm tìm đồng cảm ở bày vịt chạy
đồng. Chơi với người quá hiểm nguy nên chuyển qua chơi với vịt, học cách
yêu thương đàn vịt, chuyện với người thấy buồn nên chuyển qua trò chuyện
với vịt.
Nhân vật Di trong Khói trời lộng lẫy, để trả thù cha - người đã bỏ rơi chị
em cô đi với người đàn bà khác - Di đã cướp mất đứa con riêng của cha để
chạy trốn. Cô đã đóng vai mẹ nó trong suốt mười bốn năm, và cách li nó khỏi
thế giới đông vui nhộn nhịp đến Xóm Cồn hoang vu, một nơi không trường
học, không bạn bè. Đến khi sự thật vỡ lở, Di phải thú nhận với em một sự thật
phũ phàng: người trong ảnh là "cha tụi mình". Thằng Phiên khi ấy quá shock,
25