Vấn đề nhân sinh trong sáng tác của nguyễn khải từ sau năm 1975 - Pdf 37

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong số các cây bút văn xuôi Việt Nam hiện đại, Nguyễn Khải là nhà văn
có nhiều tài năng, thường có mặt ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn học của
dân tộc. Suốt hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật miệt mài, tận tụy, không
ngơi nghỉ, ông đã cho ra đời hơn 50 truyện ngắn, 8 cuốn tiểu thuyết, trên 60
tác phẩm ký, tạp văn, thể loại nào cũng được đông đảo bạn đọc hào hứng đón
nhận. Bằng năng lực quan sát tinh tế và trí thông minh sắc sảo, Nguyễn Khải
đã khám phá những vấn đề cơ bản của thời đại, những kiểu nhân vật phong
phú, đa dạng, hấp dẫn, những con người tiền tiến giàu tình cảm và trách
nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cái nhìn thấu suốt, thực
tại, sự khám phá sâu sắc quá trình vận động của cuộc sống, khuynh hướng
sáng tác luôn tìm tòi, phát hiện những vấn đề thuộc bình diện tư tưởng và vẻ
đẹp tinh thần cao quý, lối viết văn vừa truyền thống vừa hiện đại… tất cả đã
làm cho các tác phẩm của Nguyễn Khải ngày càng trở nên gần gũi với bạn
đọc. Nhìn một cách tổng quát, tác phẩm của Nguyễn Khải thường mang tính
vấn đề - những vấn đề của hôm nay và từ đó rút ra những ý nghĩa mang tính
triết lý nhân sinh sâu sắc về cuộc đời, cuộc sống, con người. Ông đã từng tâm
sự: "Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh
sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, đó mới
thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ" [16,77]. Có thể
nói, trong suốt chặng đường sáng tạo gắn liền với những bước đi của đất
nước, sáng tác của Nguyễn Khải bao giờ cũng nhằm thẳng vào đời sống hiện
tại. Ông luôn luôn muốn hướng vào những vấn đề của hiện tại để thức tỉnh
người đọc cùng với mình suy nghĩ. Dù ở mỗi chặng đường, trong phương
hướng bám sát những vấn đề thời sự hôm nay, đề tài có thay đổi, thế giới
nhân vật cũng có nhiều đổi khác nhưng bao giờ trái tim Nguyễn Khải cũng
thấm đẫm cảm hứng trước những vấn đề cơ bản của cuộc sống, của dân tộc,
của thời đại, những nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng. Do Nguyễn Khải có vị
trí, vai trò quan trọng như vậy, cho nên việc nghiên cứu, tìm hiểu những tác
phẩm của ông là cần thiết và chắc chắn sẽ rút ra được nhiều bài học bổ ích.

trong các tác phẩm của Nguyễn Khải nhưng trong phạm vi khảo sát của chúng
tôi, hầu như có rất ít đề tài đi sâu tìm hiểu “Vấn đề nhân sinh trong sáng tác
của Nguyễn Khải từ sau 1975”. Trên tinh thần tiếp thu, phát triển ý kiến của
người đi trước và một số ý kiến cá nhân, chúng tôi xin mạnh dạn góp phần
làm sáng tỏ “Vấn đề nhân sinh trong sáng tác của Nguyễn Khải từ sau 1975”.

3


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề nhân sinh trong sáng tác của
Nguyễn Khải sau năm 1975.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của tiểu luận, chúng tôi tập trung nghiên cứu những
"vấn đề nhân sinh" trong các sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Khải sau năm
1975.
Khảo sát những sáng tác trước 1975 để có cái nhìn đối sánh giữa hai thời
kì sáng tác và từ đó thấy được những nét phát triển trong sáng tác của nhà
văn Nguyễn Khải.
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến Nguyễn Khải để có cái nhìn toàn
diện về tác giả, từ đó đi tìm những đặc trưng nghệ thuật trong sáng tác của
Nguyễn Khải sau năm 1975.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NGUYỄN KHẢI VÀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI VĂN HỌC
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng
12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống
ở nhiều nơi. Lúc ông đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám.
Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị

các trang viết rất sâu sắc về Hà Nội như Một người Hà Nội, Người của ngày
xưa. Ngoài ra, có thể kể đến Tháng ba ở Tây Nguyên (ký sự, NXB Quân đội
nhân dân, 1976), Cha và Con và... (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1979),
Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), Thời gian của
người (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1982), Điều tra về một cái chết (tiểu
thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1986) hay tác phẩm Một cõi nhân gian bé tý (tiểu
thuyết, NXB Văn nghệ, 1989), Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức (truyện
ngắn, báo Văn nghệ, 1991), Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu (tập
truyện, NXB Hội nhà văn, 1993), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, NXB Hội nhà
văn, 2003… Cuối đời, ông dành thời gian đúc kết những nghĩ suy, đau đáu
trong tùy bút: Nghĩ muộn (Tùy bút, 2000), Đi tìm cái tôi đã mất (Tùy bút, 2006).
Với những đóng góp to lớn ấy, Nguyễn Khải đã nhận nhiều giải thưởng
văn học như: Giải thưởng Văn học Lê Thanh Nghị (Liên khu III, 1951), Giải
5


thưởng Văn nghệ Việt Nam (1951-1952), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
(1982), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt II - 2000) và Huy
hiệu 60 năm tuổi Đảng…
Vẫn là cây bút năng nổ, sung sức, Nguyễn Khải liên tục xuất hiện trên văn
đàn với nhiều thể loại: Kịch (Cách mạng, Khoảnh khắc đang sống, Hành trình
đến tự do), bút kí, tạp văn, tiểu luận (Chuyện nghề), truyện ngắn (các tập Một
người Hà Nội, Hà Nội trong mắt tôi, Sư già chùa Thắm và ông đại tá về
hưu…), tiểu thuyết (Cha và Con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người,
Điều tra về một cái chết, Vòng song đến vô cùng, Một cõi nhân gian bé tí,
Thượng đế thì cười…).
Nhìn chung, từ 1978 đến nay, qua bảy cuốn tiểu thuyết đã công bố của
Nguyễn Khải, người đọc nhận ra ở ông sức sáng tạo dồi dào và một phong
cách tiểu thuyết rõ nét. Cả bảy cuốn tiểu thuyết đều có dung lượng gọn gàng
(ngắn nhất là Một cõi nhân gian bé tí: 131 trang, dài nhất là Thượng đế thì

thất bại, “lạc thời”, đơn độc, lạc lõng: một người mẹ cả đời hy sinh vì con cái,
lúc tuổi già phải sống vạ vật vỉa hè để con không bị “mất thể diện” trước bạn
bè (Mẹ và các con); một người vợ sống như nô lệ bên ông chồng gia trưởng
ích kỷ và thực chất vô tích sự mà lúc nào cũng mang mặc cảm mình không
xứng đáng với chồng (Đời khổ); một trí thức vốn là giáo sư dạy văn chương
Pháp ở trường trung học, là cựu sinh viên trường đại học Sorbone danh tiếng
mà phải ăn nhờ ở đậu, bưng bát cơm ăn với vẻ mặt “nhẫn nhục, hãi sợ và
thèm thuồng” (Hai ông già ở Đồng Tháp Mười); một ông lão ăn mày mắc bệnh
lao phải trốn chạy khỏi đứa cháu nội duy nhất để cho cháu khỏi mất cơ hội có
công ăn việc làm (Ông và cháu); một nhà báo có công lớn với tỉnh nhà nhưng
bị những người lãnh đạo hắt hủi, lạnh nhạt chỉ vì ông dám phanh phui cái xấu
của địa phương họ (Lạc thời); một nhà văn có tài, ôm ấp dự định viết cuốn
sách lớn của đời mình nhưng đến ngoài tuổi 60 vẫn chưa thực hiện được vì
phải lo kiếm tiền mua sữa, mua bột cho cháu (Người kể chuyện thuê)… Một
nhà văn vừa thức tỉnh khỏi “cái thời lãng mạn” gặp lại nhân vật của mình năm
xưa là anh lính phục viên sáng ngời với bao hoài bão to lớn bất ngờ rơi vào
cảnh “gà trống nuôi con”, cuộc gặp gỡ của bao nhiêu ngậm ngùi thấm thía
“năm xưa chúng tôi nói chuyện đạo, bữa nay gặp lại nói toàn chuyện đời, một
người, đời người đến là luân khổ ải…” (Cái thời lãng mạn). Sau có những
người chọn lối sống ẩn dật, cố tách mình ra khỏi không khí ganh đua sôi sục
như Hồ Dzếnh, Kim Lân (Đất kinh kỳ), cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức
7


(truyện cùng tên)… Không phải Nguyễn Khải không còn quan tâm đến những
tính cách mạnh mẽ, lãng mạn, những người luôn chiến thắng hoàn cảnh,
nhưng cả ở trường hợp này, ông cũng chú ý nhiều đến “phía khuất mặt
người”, đến những gì thực sự làm nên bản lĩnh, giá trị cá nhân. Đó là sự
chuyển hướng quan trọng. Ông tự bạch: “Bằng sự từng trải của tuổi tác, hắn
đã nhận ra vẻ đẹp của đời thường và sự bất biến của những tính cách mới

giúp ông có sự nhạy cảm và hiểu biết cần thiết trước cuộc đời, tạo cho mình
một quan niệm nghệ thuật, một phong cách sáng tạo. Năm 1975 ông chuyển
vào Nam sinh sống và làm việc, chính môi trường mới đã cho ông cái nhìn
sâu sắc hơn với những quan niệm đầy đủ hơn về cuộc sống cũng như con
người. Như chính ông đã thừa nhận: "Từ 1955 đến 1977 tôi sáng tác một
cách. Từ 1978 đến nay tôi sáng tác một cách khác” [14]. Điều đó cũng đúng
như nhận xét của Nguyễn Đăng Mạnh: "Thực ra những biến đổi về tư tưởng
và nghệ thuật từ sau 1975 là hiện tượng chung của mọi cây bút chứ đâu chỉ
có riêng Nguyễn Khải(...), phải đợi đến Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1986 thì
sự chuyển biến của giới cầm bút mới thật sự rõ rệt và có chiều sâu(..). Đại hội
IV của Đảng với tinh thần dân chủ và nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật
dường như đã đáp ứng nhu cầu tự thân của Nguyễn Khải”. Về sau nhà văn
Nguyễn Khải giải thích rõ hơn về các giai đoạn sáng tác của mình: "Trong 53
năm làm nghề, do sự phát triển tự thân, tôi đã thay đổi ba lần những quan
niệm về tiểu thuyết những đề tài và nhân vật cần phải quan tâm, nghệ thuật
kết cấu và ngôn từ. Lần thứ nhất vào năm 1957 để có được cuốn tiểu thuyết
Xung đột, lần thứ hai vào năm 1987 thì viết được tác phẩm Gặp gỡ cuối năm
mở đầu cho năm cuốn tiểu thuyết tiếp theo, có thể còn đọc được trong khoảng
mười năm nữa. Và lần cuối là năm 1990 với một chuỗi truyện ngắn, khoảng
sáu, bảy chục truyện, viết trong mười năm và tuổi thọ của nó xem chừng cũng
còn dài" [15].
Trước 1975, mối quan tâm của ông lúc này là các vấn đề thời sự - chính
trị. Ông đã hăm hở nhập cuộc với tư cách nhà văn - nhà hoạt động xã hội,
dùng sáng tác để tham dự các cuộc đấu tranh xã hội. Tác giả có cái nhìn tỉnh
táo, sắc lạnh, nghiêm ngặt, luôn khai thác hiện thực trong xu thế xung đột, đối
lập cũ - mới, ta - địch, tốt - xấu nhằm khẳng định xu thế vận động (từ bóng tối
ra ánh sáng) của cuộc sống, con người mới. Các trang viết của ông tập trung
hai mảng đề tài: đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề
tài chiến tranh cách mạng. Trên cơ sở nhận thức về bản chất và chiều hướng
9

1975, ông lại vào Sài Gòn. Ở đây, ông phát hiện được những khía cạnh sâu
của hiện thực cách mạng trong những năm đầu hòa bình. Đặc biệt là từ
những năm sau 1978, ông đã nắm bắt kịp thời những vấn đề nhân sinh sâu
10


sắc hơn. Ông viết về "văn hóa sống" khi đất nước tiến hành đổi mới với
những xáo trộn trong nếp nghĩ của người Việt Nam, rồi viết về "Thời gian của
người" khi "những người mặc cái áo quá ngắn khiến mảnh đất họ sinh ra trở
nên chật chội". Hay tác phẩm "Một người Hà Nội" nhằm lưu giữ những giá trị
tốt đẹp về đạo đức và nhân cách cho mỗi người.
Như vậy, với ý thức đi thẳng vào thực tại, tác phẩm của ông thường gắn
với những chuyến đi, những gì tai nghe mắt thấy... Thế nên ông luôn trăn trở
và băn khoăn trước những vấn đề đặt ra của cuộc sống. Có lẽ vì thế mà ở ông
đã hình thành được những cảm hứng về con người đương thời một cách nhất
quán và rõ nét; giống như lời tâm sự của ông: "Tôi thích cái hôm nay ngổn
ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến
động bất ngờ..." [1,77].
CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ NHÂN SINH TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƯỜI
2.1 Cuộc sống của những phồn tạp
2.1.1 Sự phồn tạp trong mối quan hệ với xã hội
Ở giai đoạn sáng tác này, truyện ngắn của Nguyễn Khải có nhiều khởi
sắc. Với ngòi bút sắc sảo của mình, nhà văn Nguyễn Khải đã để cho con
người trong những tác phẩm của ông hiện lên một cách tự nhiên và gần gũi
nhất. Đó là những con người bất hạnh, đáng thương nhưng cũng rất đáng
kính thông qua những nghịch cảnh éo le của xã hội. Đó là những nghịch cảnh
bởi cơn sóng kinh tế thị trường, là những nghịch cảnh bởi không tìm thấy chỗ
đứng của mình trong thời hiện tại.
Có thể nói, cuộc sống trong sáng tác của Nguyễn Khải quả là xô bồ. Vật

một bộ phận không thích ứng được với thực tại. Họ không a dua theo mốt
sống hiện hành mà vẫn giữ được bản ngã riêng của mình, mặc dầu đôi khi
cũng bị dập dìu theo cơn sống gió kinh tế thị trường. Thái (Làm trai) anh sống
tự do với những gì mình lựa chọn, một cuộc sống tự do, lãng tử như những
nhánh lan rừng.
Anh (Người gặp hằng ngày) là người suốt đời cống hiến cho công việc
không lấy một ngày thảnh thơi. Anh lấy công việc làm niềm đam mê chứ chưa
bao giờ nghĩ công việc sẽ mang lại nhiều tiền cho anh và gia đình. “Là người
giỏi, tổ chức sản xuất kinh doanh đều giỏi, có người còn nói là rất giỏi mà
“buôn” có chuyến hành vặt cũng không xong” [12,176]. Một người giỏi giang
như vậy, đáng lẽ trong thời buổi này, phải sống thật sung túc lắm. Nhưng đây
12


lại trái ngược hoàn toàn, mọi chi tiêu trong gia đình đều phải nhờ vào bàn tay
của vợ. Căn hộ của nhà anh thì “dở quá, khác đời quá” bởi cả dãy phố nhà ai
cũng có truyền hình, tủ lạnh, máy khâu… mà nhà anh thì trống trơn…
Nhân vật của Nguyễn Khải giai đoạn này đang “bơi ngược” thời thế để
buồn cho thân phận mình đang thất thế, đang lâm vào vận bĩ. Họ là những
con người cô đơn, chịu nhiều éo le của phận số trước thời cuộc. Mặc dù vậy
họ vẫn có niềm tin vào cuộc đời, vẫn nhìn thẳng vào sự thật để trở thành
người chiến thắng – thắng chính bản thân mình và thắng trước cuộc đời.
Hoàn cảnh như một cơn gió lạ đã làm lung lay tới tận gốc rễ cái “gia đình
nhỏ bé và vững chắc” của Tần (Đổi đời). Gia đình vốn yên ấm của Tần nay bị
chao đảo, có nguy cơ tan vỡ trước những đợt sóng ngầm. Thủ phạm chính là
đồng tiền thời kinh tế mở cửa. Vợ con anh lao vào vòng cám dỗ của đồng tiền.
Tuyệt vọng, bất lực, anh đã tính đến chuyện giết người. Giết chàng rể tương
lai vì đó là kẻ đi lừa tình, giết bà vợ mà theo tần là “thủ phạm của chính bao
nhiêu chyện bê bối trong mấy năm qua” và cuối cùng giết mình để kết thúc
câu chuyện. Bi kịch của Tần kéo theo nỗi đau nhức nhối khôn tả: để tồn tại,

Nhưng nếu qua hồi tưởng của nhân vật, Nam Cao chủ yếu nhằm “tô đậm cái
thảm thương” cay cực của những kiếp “sống mòn”, thì Nguyễn Khải lại nhấn
mạnh niềm ham sống cả những số phận bất hạnh trong cuộc đời.
Một trong những cuộc đời bất hạnh ấy là hai ông cháu (Ông cháu). Cuộc
đời của người ông trong truyện dằng dặc những nỗi đau và mất mát ngay từ
thuở thiếu thời cho đến lúc cuối đời. Thời trai trẻ ông cũng là một giáo viên
Tiểu học ở Hà Nội. Đến lúc già yếu lại thành ông lão ăn xin, sống không được
mà chết cũng không xong. Vì căn bệnh nan y cuả vợ, ông bỏ việc về quê, bán
dần tài sản của cải mà vẫn không cứu được vợ. Vợ mất, đứa con trai vừa lấy
vợ chưa đầy nửa năm thì đi bộ đội. Ông lại âm thầm nuôi đứa cháu và chờ
đợi đứa con bặt tin suốt mấy năm trời. Ngày con ông trở về, ông chưa kịp
mừng trọn nỗi vui thì con trai ông ngã bệnh triền miên. Một năm trời ông luôn
túc trực, chăm sóc con nhưng cũng không giữ được nó, ông đã mất gần hết
những thứ ít ỏi và khó khăn lắm mới có trong đời. Bảy năm sống trong sự lạnh
nhạt của con dâu, cuối cùng ông dắt đứa cháu duy nhất của mình lên thành
phố tìm người quen. Nhưng may mắn lại không mỉm cười với ông. Chẳng tìm
được ai bấu víu, hai ông cháu đành đi ăn xin. Trong suốt kiếp người “quá dài”,
ông lão cứ trơ trọi và dẻo dai sống mà chứng kiến từng phần máu thịt của

14


mình bị rơi rụng dần. Có lẽ, chỉ một thứ mà ông giữ gìn trọn vẹn được là sự
yêu thương và sự tha thứ của mình.
Đồng tiền thời buổi kinh tế thị trường cũng len lõi làm xáo trộn cuộc sống
khiến cho bao gia đình tan nát. Lưu (Đàn bà) là một cảnh sát hình sự, khỏe
mạnh, đẹp trai, duy chỉ thiếu tiền. 22 tuổi, anh lấy vợ, hai vợ chồng như một
cặp trời sinh, là niềm ghen tị của bao bè bạn vậy mà chỉ vì thiếu tiền, cuộc
sống của họ trở nên tẻ nhạt, lạc lõng, buồn thảm. Vì không có tiền nên đối với
vợ, anh chỉ là người thừa, thậm chí là người “ăn cắp” bởi lấy tiền mà không

lưu trong đời sống mới bắt đầu. Mà những thử thách của cuộc sống mỗi ngày
thì chả có gì tả nổi” [12,195]. Chính cuộc đời đầy gian truân với hành trình
sống đầy nhọc nhằn của mình khiến cho anh mất đi niềm tin ở cuộc đời. Vợ
mất, nhìn lên bàn thờ, đặt cơm cúng vợ, thắp mấy nén nhang chẳng kịp khấn
khứa gì cứ đứng xuôi tay mà khóc, khóc cho vợ và khóc cho chính phận mình
nữa. Đã đến lúc, cái thời sống cho mình, cho xã hội đã qua. Giờ đây, anh chỉ
biết sống cho con cái, ngoài ra, không còn hi vọng, niềm vui nào khác.
Hay anh Nghinh, chị Kiếm (Một bàn tay và chín bàn tay) cũng là những
người khốn khổ chịu nhiều bất hạnh, chịu nhiều vết thương và sự tàn phá của
chiến tranh trên cơ thể. "Anh bị bại liệt cả người nhưng vẫn nhìn được, một
mắt rõ, một mắt mờ…” [12,386]. Thế nhưng với anh “không được bằng anh
em nhưng vẫn may mắn hơn rất nhiều” [12,386]. Còn chị cũng là một cô gái
thương binh sống rất chân thành. Điều đó đã biến nỗi bất hạnh của hai mảnh
đời này thành niềm hạnh phúc. Hạnh phúc vì có tình yêu thương, vì họ đã có
những đứa con ngoan, một cơ ngơi khang trang. Tất cả như được hồi sinh
ngay cả trong những nghịch cảnh trớ trêu, tệ hại nhất.
Có thể nói, Nguyễn Khải thường quan tâm và thương cảm tới thân phận bé
nhỏ, những cuộc vật lộn thầm lặng trong đau đớn và cô đơn ở các mối quan
hệ đời thường, để thấy nơi họ một thứ ánh sáng làm dịu tâm hồn. Thay vào
những trang viết khuôn sáo màu mè là hình ảnh hiện thực với những con
người biết suy nghĩ, những con người luôn đi tìm ý nghĩa cuộc sống trên con
đường chông gai.
Không riêng gì Nguyễn Khải quan tâm đến con người trong mối quan hệ
gia đình những năm 80, 90 mà còn rất nhiều cây bút cùng thời với ông như:
Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Tiệp. Họ đều đặt con người
trong mối tương quan với gia đình để nhận thấy nhu cầu giải phóng cá nhân
có ảnh hưởng đến nền móng gia đình. Còn Nguyễn Khải quan niệm gia đình
16




17


chịu thua những đứa con. Giải phóng cả nước nhưng về già không còn nơi để
ở. Buồn cười thay và cũng đau đớn thay” [11,44].
Tú - nhân vật trung tâm cho thân phận “lạc thời” (Một thời gió bụi) cũng là
một người lạc lõng bơ vơ không chỉ trong cơ quan mà còn trong chính gia
đình của mình. Khi mà mọi thành viên trong gia đình luôn sống trong sự tính
toán thiệt hơn của xã hội thì anh lại sống theo tiêu chuẩn đạo đức mà anh tin
phải có. Trong gia đình luôn có hai mạch suy nghĩ và hành động khác nhau.
Anh không tìm thấy niềm tin nơi bạn bè, cơ quan, đặc biệt là nơi những người
thân yêu nhất trong gia đình anh. Trong mắt vợ anh, con anh, anh là kẻ thừa.
Mọi sự chi tiêu đều nhờ vào tài tính toán của bà vợ, không còn ai buồn quan
tâm tới anh. Anh trở thành kẻ đơn độc, bơ vơ ngay trong gia đình mình. Mang
nặng tâm sự, anh trở về quê để mong tìm lại các giá trị “đức tính cố hữu của
dân tộc, trong tính nhân nghĩa, sự bao bọc của họ hàng…” nào ngờ anh đã
nhầm. Quê hương anh cũng đang dần thay đổi, thậm chí còn mạnh mẽ hơn ở
thị thành, một làng quê quay quắt với đồng tiền của một “thời gió bụi”.
Chính khi nếm mùi cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình thì họ mới
biết mình lạc lõng đến nhường nào, bởi gia đình là nơi không chỉ để con
người cư trú mà còn là nơi mỗi con người hiện hữu và tồn tại, là nơi đâm chồi,
ươm mầm hạnh phúc, của đau khổ và cả kỉ niệm. Nhưng các nhân vật của
Nguyễn khải lại bị “lạc” trong chính nhà mình, một phần vì thời thế, một phần
vì họ không giữ được sợi dây liên kết với người thân và phần vì không dàn
hòa được mâu thuẫn sống.
Soi chiếu con người trong các mối quan hệ, Nguyễn Khải đặc biệt quan
tâm đến vấn đề mâu thuẫn và tiếp nối giữa các thế hệ, cặp nhân vật già trẻ
thực sự là người của hai thời, của “cái hôm qua rất giản dị” và “cái hôm nay
rất ngổn ngang, phức tạp”.

Cái thử thách gay gắt, quyết liệt mang tính lựa chọn trong Gặp gỡ cuối năm
diễn ra trong không gian chật hẹp, thời gian ngắn. Điều ấy làm cho tiểu thuyết
có tính dồn nén cao. Sự từ bỏ một lối sống cũ, lựa chọn lối sống mới không
đơn giản với một bộ phận mà quyền lợi của họ gắn chặt với chế độ cũ. Nhưng
cuối cùng sự lựa chọn thích ứng với thời cuộc đã đưa nhân vật Nguyễn Khải
hòa nhập với cuộc sống mới.
Chúng ta cũng sẽ bắt gặp mối quan hệ giữa tôi và chúng ta trong Điều tra
về một cái chết với cha già quản hạt, những kẻ hành đạo như Hai Gáo, Sáu
Lưu, Năm Sạng. Những nhân vật này là đệ tử đầu tiên của đạo Cao đài, thủ
túc tin cậy của những chức sắc cao nhất đầu tiên của Đạo, nhưng khi hiểu ra
sự thật về đạo, hiểu rõ tâm địa của những người đứng đầu tổ chức thì họ đã
chọn lối sống lui về ở ẩn. Khôn ngoan ở cái mức giữ được thân thời loạn,
không làm hại ai cũng không để ai làm hại mình. Họ sống hồn nhiên như chưa
từng được một đạo giáo nào khai hóa. Và điều lạ lùng nhất, một người tu đại
20


đạo mà không ăn chay, lại còn làm nghề đánh cá, giết cá mập hàng ngày,
phạm luật sát hại sinh vật, điều cấm đầu tiên trong ngũ giới cấm. Bên cạnh
Hai Gáo, Sáu Lưu cũng là người tự chủ trong lối sống. Anh ta theo đạo rồi bỏ
đạo một cách chủ động. Sáu Lưu quan niệm theo đạo để có công ăn việc làm,
để không phải đi lính cho chính quyền ngụy, không phải chết cho một lí tưởng
mà Sáu Lưu không theo đuổi. Một con người từng giữ những trọng trách lớn
trong tổ chức nhưng anh ta đã bỏ nó để đi theo cách mạng. Đó là sự lựa chọn
vì bản thân và gia đình mình. Sáu Lưu đến với cách mạng tự nguyện không
phải qua những dằn vặt trăn trở. Năm Sạng cũng gửi mình cho đạo, nhưng
sau khi nhận ra được tính chất nước đôi, xa rời thực tế, phản động của một
số tôn giáo đã có sự lựa chọn sáng suốt cho cuộc đời của mình.
Tương tự như vậy, con đường hướng về cách mạng, hòa hợp với dân tộc
của cha Thư cũng là tự nhiên khi thời cuộc đã thay đổi. Cha Thư nhận thấy

sau 1975. Tiêu biểu có thể kể đến Ông Trắc (Lạc thời) dù luôn bị giày vò trong
nỗi đau tinh thần của một kẻ thấy mình “thất sủng”, bị bạc đãi nhưng ông vẫn
tỉnh táo nhận rõ những cái hay cái dở trong hành động của mình. Chính niềm
tin của một con người từng lăn lộn trong cuộc đời “làm tất cả cho quê hương
thay đổi” đã tiếp thêm sức mạnh, giúp ông vượt qua những khó khăn thử
thách với một niềm tin ở phía trước mình.
Hay nhắc đến Ba Huệ - một nữ chiến sĩ biệt động một chỉ huy quân sự địa
phương vùng giáp ranh, nổi tiếng gan dạ. Thời chiến đứng giữa sự sống và
cái chết chị đã chiến thắng. Thời bình lựa chọn con đường làm lãnh đạo cho
một huyện lo chuyện cơm áo cho dân và chăm sóc đời sống tinh thần cho họ
buộc nữ bí thư phải trăn trở nhiều và tìm kiếm để dần thích ứng. Điều đó cũng
là nhờ Ba Huệ đã lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, một niềm tin ở
phía trước.
Nhân vật Quân trong Thời gian của người cũng vậy - một chiến sĩ tình
báo của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ đã luôn tạo cho mình một
niềm tin vào cuộc sống, vào tương lai tất thắng của cách mạng. Sự thích ứng
với môi trường, hoàn cảnh sống của một điệp viên được tạo dựng bởi sự lựa
chọn lí tưởng sống của một chiến sĩ trẻ mang trong mình những phẩm chất
cao đẹp, một sự đơn độc và hy sinh thầm lặng vì lòng yêu nước mà mình đã
chọn. Trong một lần hoạt động âm thầm, người lãnh đạo duy nhất từng thay
mặt tổ chức giao nhiệm vụ cho anh bị bắt, vậy là mối liên lạc bị mất. Con
người này nếu vì sống cho mình anh có thể ở lại nước Mĩ. Nhưng vì sự lựa
22


chọn, Quân đã ngay lập tức về nước, tự bản thân tìm lại tổ chức, không ngại
những hiểm nguy đang rình rập. Con người từng vào sinh ra tử ấy có thể nghỉ
ngơi sau trận đánh dài nhưng không, anh lại chọn lối sống vì nhân dân, vì
cách mạng cùng đồng đội bước vào cuộc chiến đấu mới. Điều đó cũng chứng
tỏ ở anh luôn thường trực một niềm tin sắt đá vào cuộc sống, vào tương lai

đói nghèo, kề cận với cái chết hạnh phúc vẫn hiện hình và trở thành nguồn
động viên với họ. Không trải qua hy sinh, gian khổ làm sao đòi hỏi được có
hạnh phúc. Hạnh phúc – sự sống cứ như được gieo mầm từ trong cái chết trong gian khổ hy sinh. Đó chính là lí do để thôi thúc họ không nguôi hy vọng,
không thôi chiến đấu vì niềm tin đó. Đó là bởi “Ở đời này không có con đường
cùng chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua
những ranh giới ấy”…
Có thể nói những nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải sau 1975 có
những lựa chọn riêng của họ và đó cũng là con đường chung của thời đại. Họ
biết sống vì đất nước, vì dân tộc. Những con người này mang trong mình lí
tưởng cao đẹp. Xung quanh chúng ta cũng có biết bao tấm gương như vậy.
Những học sinh hoàn cảnh khó khăn, mất bố mẹ, gia đình nghèo khó mà vẫn
vươn lên học tốt không phải là những tấm gương cho ta học tập sao?... Cuộc
sống dường như đã đẩy họ đến bước đường cùng, nhưng họ đã chứng minh
cho ta thấy, đó chỉ là những ranh giới và thực tế bằng ý chí, quyết tâm, sức
mạnh niềm tin, họ đã vượt qua cái ranh giới khó khăn ấy!
Từ trong cái chết sự sống vẫn hiện hình. Nó thôi thúc ta hy vọng, chiến
đấu để vượt qua tất cả. Hạnh phúc, sự sống nảy sinh từ trong gian khổ trong
những số phận éo le, trớ trêu mới khiến ta trân trọng biết bao! Những vấn đề
nhân sinh mà Nguyễn Khải đặt ra trong các tác phẩm từ sau 1975 rất đáng để
chúng ta suy ngẫm.
Sự chiêm nghiệm thể hiện rõ nét qua những sáng tác của Nguyễn Khải, nhất là
giai đoạn từ sau 1975. Ông đã có những tìm tòi và đổi mới sâu sắc trong quan niệm
nghệ thuật về con người. Cũng từ đây, sự chiêm nghiệm về con người càng sâu sắc
hơn. Vì thế, ông chú trọng khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong tính lưỡng diện,
đa diện và luôn biến đổi của con người. Sáng tác của ông thể hiện sự chiêm nghiệm về
sức mạnh ẩn sâu trong mỗi con người để mỗi khi có thử thách nó lại trỗi dậy.
Xuất hiện trên những trang viết của Nguyễn Khải không chỉ có những con
người với những số phận éo le, những ngổn ngang bề bộn, những con người
sống cho niềm tin bị biến suy theo những đổi thay của thời cuộc, lại tỉnh táo
24

chồng bị mù cả hai mắt, vợ là y tá buộc phải nghỉ hưu. Họ có ba đứa con thơ.
Ấy vậy mà nụ cười vẫn thấp thoáng trên môi họ, cái không khí vui vẻ, đầm ấm
vẫn diễn ra hằng ngày. Hạnh phúc là một cách sống, một quan niệm sống, là
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status