Sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của nguyễn khải trước và sau 1945 - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ HẠT
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
VỀ CON NGƢỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHẢI
TRƢỚC VÀ SAU 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2014


Với tình cảm chân thành, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới TS. Nguyễn Văn Nam, thầy giáo trực tiếp hướng dẫn khoa học, chỉ bảo tận
tình và giúp đỡ người viết hoàn thành luận văn này.
Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn trân thành tới trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo phòng Sau Đại học, các
thầy cô trong khoa Văn học đã giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Và xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn khích lệ,
động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi học tập và nghiên cứu.
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, luận văn của chúng tôi không
thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý.
Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Học viên

Nguyễn Thị Hạt

LỜI CAM ĐOAN


2
3. Mục đích nghiên cứu 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6. Phương pháp nghiên cứu. 7
7. Đóng góp của khóa luận 8
8. Kết cấu của luận văn 8
NỘI DUNG 10
Chƣơ i”
10
i 10
i 10
1.1.2 Vai trò của khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong việc
tìm hiểu tác giả và tác phẩm văn học 12
1.2 Hành trình sáng tạo của Nguyễn Khải 15
1.2.1 Quá trình sáng tác văn chương của nhà văn Nguyễn khải 15
1.2.2 Đặc sắc trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải 25
1.2.3 Cơ s biến đổi quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng . 28
tác của Nguyễn Khải 28
Chƣơng 2: Quá trình biến đổi quan niệm nghệ thuật về con ng
1975 qua những hình tƣợng điển
hình 38
2.1 Con ng c 1975 38
2.1.1 Con người tích cực 39 2.1.2 Con người tiêu cực 48
2.1.3 Đặc điểm của quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của
Nguyễn Khải trong giai đoạn sáng tác trước 1975 53
2.2 Con ng 1975 55

chiều
văn. Đúng như quan niệm rất súc tích và xác đáng của M. Gorki: “văn học là
nhân học”. Tất cả những gì thuộc về con người, làm nên ý nghĩa cuộc sống
của con người điều là đối tượng nghiên cứu và khám phá của những nhà văn
chân chính. Bởi vậy khi nghiên cứu thành tựu của một nền văn học hay một
xu hướng, một tác giả, một giai đoạn văn học chúng ta không thể không quan
tâm đến quan niệm nghệ thuật về con người. Nó được coi là một tiêu chí đánh
giá giá trị của tác phẩm cũng như “tài” và “tâm” của người cầm bút. Song
cũng phải thừa nhận rằng ở mỗi thời đại có một quan niệm nghệ thuật khác
nhau và ở mỗi nhà văn lại có cách khai thác, thể hiện khác nhau về con người.
Lịch sử văn học nhân loại luôn luôn thay đổi quan niệm nghệ thuật về
con người và văn học Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Năm
1975 được coi là một dấu mốc quan trọng của lịch sử dân tộc nói chung và
lịch sử văn học nói riêng. Cùng với sự chuyển mình của đất nước, văn học
cũng có sự vận động, mà trước hết là sự vận động trong quan niệm nghệ thuật
về con người. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Sự vận động của quan niệm nghệ
thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Khải trước và sau 1975” không
chỉ cung cấp cho chúng ta một điểm tựa vững chắc để hiểu được nội dung tác
phẩm mà còn mang lại những hình dung về tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn
Khải trong từng thời kì và trong cả sự nghiệp sáng tác.
trưởng thành sau cách mạng tháng Tám
. Những sáng tác của ông luôn bám sát vào
từng bước đi của cuộc sống để phản ánh những vấn đề vừa mang tính thời sự

2

nóng hổi vừa có tầm khái quát rộng lớn. Ông đi sâu vào tìm hiểu, phân tích để
khám phá chiều sâu tư tưởng tinh thần của con người - cái đích hướng tới
cuối cùng của văn học. Có thể nói, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khải là
hành trình khám phá những vấn đề của cuộc sống và con người Việt Nam gắn

cách nhà văn đã được thể hiện một cách sáng rõ hơn bao giờ hết… và chính
những nguyên tắc miêu tả con người ấy là chìa khóa để giúp ta hiểu được
phương pháp sáng tạo của người nghệ sĩ.
Vào những năm 90 của thế kỷ XX các công trình nghiên cứu của
M.Bakhtin như Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Những vấn đề thi pháp
Đôxtoiepxki ( 1993) đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam. Theo Bakhtin:
“Mỗi một thể loại nhất là thể loại lớn, thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với
hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận lý giải về đời sống con người” [5,
tr.7].
Ở Việt Nam, vấn đề “Quan niệm nghệ thuật về con người” nói riêng và
thi pháp học nói chung được đề cập đến muộn hơn so với thế giới. Đáng chú ý
là các công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà… trong đó khái
quát hơn cả là cuốn giáo trình Dẫn luận thi pháp học, Một số vấn đề thi pháp
học hiện đại, Thi pháp thơ Tố Hữu…. đều ít nhiều đề cập đến vấn đề quan
niệm nghệ thuật về con người. Ngoài ra phải kể tới hai bài viết: Quan niệm
nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau cách mạng tháng Tám
của đồng tác giả Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình, Mấy vấn đề trong quan
niệm con người của văn học Việt Nam thế kỷ XX của Trần Đình Sử. Tất cả các
công trình ít nhiều đều khẳng định con người là trung tâm của văn học, đồng

4

thời nó luôn có sự vận động qua từng thời kì và góp phần quan trọng trong sự
vận động không ngừng của nền văn học dân tộc.
Nguyễn Khải là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học hiện
đại Việt Nam. Cùng với việc ra đời của hàng loạt các tác phẩm chứng tỏ tài
năng nghệ thuật của Nguyễn Khải, thì người đọc cũng thấy hàng loạt các bài
nghiên cứu, phê bình, nhận xét về ông. Qua khảo sát người nghiên cứu nhận
thấy tác phẩm của Nguyễn Khải là đề tài tranh luận của rất nhiều nhà văn, nhà
nghiên cứu phê bình văn học có uy tín như Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vũ Tú

vận động của văn học cách mạng từ sau 1945, Vương Trí Nhàn có viết: “Sự
gắn bó sâu sắc về đời sống chính trị của đất nước, niềm ao ước vô tận muốn
nắm bắt cho được bao thay đổi trong cuộc sống cách mạng, cùng với đó là
khả năng dựng lên một loại nhân vật mới đầy ý chí và khao khát cải biến xã
hội một thời gian dài, đấy là những đặc điểm chủ yếu trong ngòi bút của
Nguyễn Khải” [18, tr.12]. Còn trong công trình Phong cách văn xuôi Nguyễn
Khải nhà nghiên cứu Tuyết Nga đã giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện
và sâu sắc về phong cách cũng như các đóng góp của Nguyễn Khải trong văn
học Việt Nam. Tác giả tập trung tìm hiểu về ba phương diện chính trong các
sáng tác của nhà văn là: quan điểm nghệ thuật, quan niệm về hiện thực và con
người; nội dung hiện thực; hình thức biểu hiện. Đặc biệt, tác giả công trình
nghiên cứu đã chỉ ra quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người của
Nguyễn Khải, đồng thời khẳng định đó là một “quan niệm nghệ thuật vận
động và phát triển”. Tuy nhiên trong bài viết người nghiên cứu chưa làm rõ sự
vận động, phát triển đó như thế nào, biểu hiện cụ thể ra sao. Mặc dù vậy
nhưng nó vẫn là những gợi ý rất quan trọng cho chúng tôi triển khai đề tài của
mình.
Trong cuốn Văn học hậu hiện đại, lý thuyết và tiếp nhận, Lê Huy Bắc có
viết: “Tôi thấy Nguyễn Khải là người tiên phong trong việc đổi mới văn xuôi
từ hiện đại sang hậu hiện đại. Dễ thấy điều này trong việc chuyển từ cảm
hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời thường” [3, tr.134]. Cũng trong bài viết
này ông viết: “Với Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Thanh Thảo… cũng
như các bàn phím văn chương khác, sẽ không có cái tôi trường cửu bất biến

6

mà chỉ là sự phân mảnh của cái tôi đó trong từng giai đoạn, từng khoảnh
khắc” [3, tr.315]. Nói như vậy cũng đã ít thay đổi trong
ngòi bút của Nguyễn Khải trong đó phần nào cũng đã đả động đến sự vận
động của quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Khải

của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói riêng và trong tiến trình vận
động của văn học dân tộc nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung tìm hiểu sự vận động
trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Khải
trước và sau 1975.
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu khảo sát những sáng tác của
Nguyễn Khải trước và sau 1975.
Trước 1975: Xung đột, Tầm nhìn xa, Đường trong mây, Chủ tịch huyện,
Hãy đi xa hơn nữa, Nguồn vui, Mùa lạc, Nằm vạ, Chiến sĩ, ….
Sau 1975: Điều tra về một cái chết, Thời gian của người, Gặp gỡ cuối
năm, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười, Hai ông già ở Đồng Tháp
Mười, Anh hùng bĩ vận, Lạc thời, Đổi đời, Nơi về, Nếp nhà, Tiền, Đời khổ,
Chúng tôi và bọn hắn, Một người Hà Nội, Cái thời lãng mạn, …
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa l nhân vật, ngôn ngữ,
giọng điệu để thấy được sự vận động trong quan niệm
nghệ thuật về con người trước và sau 1975 của Nguyễn Khải.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.
6.1 Phương pháp lịch sử - xã hội
Sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội sẽ giúp cho việc lý giải những cơ
sở thực tiễn của lịch sử - xã hội có ảnh hưởng tới văn học nói chung và các
sáng tác của Nguyễn Khải nói riêng. Từ đó giúp người nghiên cứu thấy được
sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của
Nguyễn Khải trước và sau năm 1975.
6.2 Phương pháp loại hình

8

Sử dụng phương pháp này giúp người nghiên cứu phân biệt các tác phẩm


Chương 1:

1975 qua những hình tượng điển hình
1975 10

NỘI DUNG



một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời
sống của nó” [9, tr.273]. Như vậy khái niệm này được xem như một phạm trù
nghệ thuật học, khám phá ngày càng sâu sắc con người trong tự nhiên xã và
lịch sử với tất cả sự phong phú và tinh tế.
Trong chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu, tác giả Trần Đình Sử đề cập
đến quan niệm nghệ thuật về con người với tư cách là khái niệm trung tâm
của thi pháp học. Ông cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người thực
chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực lý
giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của
nó vào các miền khác nhau của đời sống” [25, tr.90].
Song có lẽ khái quát và đầy đủ nhất là ý kiến của nhà nghiên cứu Trần
Đình Sử trong cuốn giáo trình Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục 1981.
Tác giả đã cho rằng “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự tổng hợp các
nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên
giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó”[24, tr.7].
Nói khác đi, quan niệm nghệ thuật về con người là sự tổng hợp những
phát hiện triết lý, tư tưởng riêng của nhà văn về cuộc sống và con người với
khả năng và trình độ nắm bắt, sáng tạo, sử dụng các phương thức phương tiện
chất liệu nghệ thuật của người nghệ sỹ, đảm bảo cho nó có khả năng hiện đời
sống ở một chiều sâu nào đó.
Như vậy từ những khái niệm về quan niệm nghệ thuật về con người trên
đây vừa tìm hiểu sẽ tạo cơ sở lí luận khoa học cần thiết cho khóa luận đi sâu
tìm hiểu khảo sát, nghiên cứu sự vận động của quan niệm nghệ thuật về con
người trong sáng tác của Nguyễn Khải trước và sau 1975.

12

1.1.2 Vai trò của khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong
việc tìm hiểu tác giả và tác phẩm văn học
Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành cơ sở, nhân tố vận động

cụ thể cá biệt của quan niệm nghệ thuật về con người. Tuy vậy, muốn tìm
hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thì phải xuất phát từ các biểu hiện lặp
lại nhiều lần của nhân vật thông qua các yếu tố bền vững dùng để tạo nên
chúng.
Có thể khẳng định rằng quan niệm nghệ thuật về con người chính là
chiều sâu nhân bản của một tác phẩm nghệ thuật, trong khi đó những cách tân
nghệ thuật, những chất liệu nghệ thuật mới không phải là hệ quy chiếu quan
trọng nhất để từ đó xác định sự vận động, đổi mới của nền văn học. Bởi bên
cạnh những dấu ấn sáng tạo của cá nhân người nghệ sĩ, thì quan niệm nghệ
thuật về con người - xét về quy luật xã hội - là sản phẩm của lịch sử mang đặc
trưng của văn hóa, tư tưởng của thời đại mà nó chịu sự quy định. G.Fridlender
khẳng định: Quan niệm con người là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh
nghệ thuật, trong đó phản ánh sự tác động qua lại của nghệ thuật với các hình
thái ý thức xã hội. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn
hướng con người vào mọi chiều sâu có thể, nó được coi là tiêu chuẩn quan
trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của một tác phẩm văn học. Nguyễn
Văn Siêu từ thế kỉ XX đã có nhận xét: Văn chương có hai loại đáng thờ và
không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú vào văn chương.
Loại đáng thờ luôn chuyên chú vào con người.
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự sáng tạo về chất trong cách
cảm thụ và miêu tả đời sống của người nghệ sĩ. Nếu như tư tưởng của tác
phẩm chỉ tập trung thể hiện thái độ đối với cuộc sống thì quan niệm nghệ
thuật cung cấp một mô hình nghệ thuật về thế giới có tính chất công cụ để thể
hiện đời sống mang tính khuynh hướng khác nhau. Quan niệm nghệ thuật về

14

con người không chỉ mang tính chất cung cấp điểm xuất phát để tìm hiểu nội
dung của tác phẩm văn học cụ thể, mà còn cung cấp cơ sở cho việc nghiên
cứu sự phát triển của văn học.

Hà Nội, mất ngày 15/01/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc đời Nguyễn
Khải có nhiều thăng trầm với những éo le tủi nhục mà ông phải trải qua trong
thời niên thiếu nó đã gieo mầm cho một nhà văn Nguyễn Khải - nhà văn với
những nét độc đáo riêng không lẫn với bất cứ ai.
Trước khi trở thành nhà văn, Nguyễn Khải đã từng cầm bút với tư cách là
cán bộ tuyên huấn của tờ Dân quân Hưng Yên. Cách mạng tháng Tám bùng nổ
đem lại cho đất nước sự lột xác. Với nhiều người, nói rằng cuộc cách mạng này
đã đem đến sự đổi đời có lẽ là hơi thái quá nhưng với Nguyễn Khải thì đó là sự
thật không thể phủ nhận. Tự bản thân nhà văn khi nhớ lại chặng đường đã qua,
không ít lần ông tự hỏi mình - nếu không có cuộc cách mạng tháng Tám thì
cuộc đời mình sẽ sao nhỉ? Với một người tự nhận mình là “kém tài” lại thêm
chỗ đứng ban đầu thua kém thì khó có thể tự mình đẩy lên cao, vượt lên khỏi
cái biển người thờ ơ, bất động kia. Khi cậu thiếu niên Nguyễn Khải còn hoang
mang chán nản đến cực độ thì cuộc cách mạng tháng Tám thành công và kháng
chiến chống Pháp bùng nổ thì đối với Nguyễn Khải đó là một ân huệ. Bởi trước
đó cậu bé Nguyễn Khải không có bất cứ quyền gì kể cả một chỗ đứng trong gia
đình cũng không có, thậm chí còn là người mà ai cũng có thể làm nhục, thì
cuộc kháng chiến đã mang lại cho Nguyễn Khải cái quyền - quyền tham gia
kháng chiến mà không bị phân biệt bởi tuổi tác, sang hèn, học vấn hay nghề
nghiệp. Bản thân nhà văn cũng đã từng chiêm nghiệm - nếu không viết văn thì
không biết bản thân mình có thể làm được gì. Thế nên, nói văn là sự lựa chọn
của Nguyễn Khải cũng đúng, mà hơn hết trên hết nó là cái “nghiệp” của một
con người ấy. Hầu hết những nhà văn lớn, những nhân cách lớn đều phải trải
qua quãng đời tuổi trẻ đầy biến động. Với Nguyễn Khải cũng vậy, một “tuổi

16

thơ dữ dội” ít nhiều cũng tạo nên trong Nguyễn Khải - con người nhút nhát an
phận, một trái tim dễ xúc động. Chính cái mềm yếu dễ xúc động ấy đã khiến
Nguyễn Khải có sự cảm thông chân thành, đồng cảm với đời, với người. Ngòi

mình, trong buổi phỏng vấn trên báo Văn nghệ số ra ngày 16/02/1991 ông tự
phân chia quá trình sáng tác của mình thành hai thời kì: “Từ 1955 - 1977, tôi
sáng tác một cách. Từ 1978 đến nay tôi sáng tác theo một cách khác”, hai thời
kì sáng tác trong suốt cả cả một đời văn, từ tiểu thuyết, kí sự, truyện ngắn đến
tạp văn. Giữa hai thời kì sáng tác người đọc vẫn thấy một sự thống nhất liên
tục không hề bị ngắt quãng. Trong Nguyễn Khải của ngày hôm nay ta vẫn bắt
gặp Nguyễn Khải của ngày hôm qua với tất cả những nét duyên ngầm vốn có.
Mặc dù sự phân chia hành trình sáng tác của Nguyễn Khải được chính tác giả
nêu lên như vậy, song khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người
trong sáng tác của Nguyễn Khải, người nghiên cứu vẫn lấy mốc thời gian
phản ánh lớn nhất sự vận động của nền văn học dân tộc đó là mốc thời gian
trước và sau 1975.

Ở giai đoạn trước năm 1975, Nguyễn Khải sáng tác nhiều thể loại truyện
ngắn, tiểu thuyết, bút kí, tạp văn, truyện vừa, …. Bạn đọc biết đến ông với các
tác phẩm như Ra ngoài, Xung đột, Họ đã sống và chiến đấu, Hà Nội trong
mắt tôi … Với sự xuất hiện của Xung đột, Nguyễn Khải chính thức đánh dấu
sự có mặt của mình trong làng văn Việt Nam. Lấy bối cảnh vào cuối năm
1956 tại một thôn công giáo, tác phẩm là những “ghi chép” của tác giả về
cuộc đấu tranh quyết liệt giữa bộ đội ta và đội ngũ phản động đội lốt tôn giáo
nổi lên tìm cách chống phá cách mạng ở một xóm đạo. Ở đây, Nguyễn Khải
đã đi vào một mảng hiện thực rộng lớn, có sức khái quát cao - đó là nông thôn
trên con đường cải tạo và xây dựng cuộc sống mới. Vì thế, tác phẩm đã đặt ra
một nhiệm vụ khám phá hiện thực vốn có đầy căng thẳng và mâu thuẫn và
cũng có phần tương đối nhạy cảm ở một số vùng nông thôn lúc bấy giờ.

18

Không chỉ dừng lại ở những mâu thuẫn bề nổi, tác phẩm còn phản ánh cuộc
sống tinh thần ở nông thôn - nơi con người bị những kẻ lợi dụng tôn giáo làm

họ. Với những chuyến đi thực tế tại những vùng đất mới, Nguyễn Khải liên
tiếp cho ra đời những tác phẩm phản ánh kịp thời những diễn biến mới nhất
của tình hình cách mạng. Tập truyện ngắn Mùa lạc, các tác phẩm Tầm nhìn
xa, Người trở về, Hãy đi xa hơn nữa, Gia đình lớn, Chủ tịch huyện…. đã bước
đầu xác lập cho Nguyễn Khải một chỗ đứng trên văn đàn.
Bắt đầu từ sau 1965, Nguyễn Khải tập trung viết về cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, vấn đề nổi bật lên trong tác phẩm của Nguyễn Khải thời
kì này là mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, là khả năng con người
có thể vượt ngoại cảnh để vươn lên theo xu hướng tiến bộ cách mạng. Khi
cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt mọi giá trị được xác định ở mức độ
chân thật nhất của nó. Mỗi con người đều phải đấu tranh với bản thân một
cách nghiêm khắc để vững lòng tin và thêm nghị lực chiến đấu.
Với tư cách là một người chiến sĩ, Nguyễn Khải đã xông xáo đến những
nơi chiến sự đang diễn ra ác liệt nhất như ra Cồn Cỏ - nơi đầu sóng ngọn gió để
cho ra đời Họ đã sống và chiến đấu; đến với người chiến sĩ công binh trên huyết
mạch Trường Sơn ông viết Đường trong mây; vào tuyến lửa Vĩnh Linh - nơi có
những con người ngày đêm xông pha vượt mọi nguy hiểm để đưa hàng tiếp tế ra
Cồn Cỏ, ông có Ra đảo; tham gia chiến dịch đường 9 Nam Lào ông có Chiến Sĩ
và Tháng Ba ở Tây Nguyên được viết khi Nguyễn Khải tham gia chiến dịch giải
phóng miền Nam… Ở những tác phẩm này, Nguyễn Khải tập trung “lý giải
những mâu thuẫn, từ những vấn đề tình cảm, tình yêu, tình đồng chí đến những
vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể, dân chủ tập trung, bảo thủ và tiên
tiến, sống và chết, sản xuất và chiến đấu, tiền tuyến và hậu phương, tinh thần và
vũ khí, chống mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội” [20, tr.72].
Chiến sĩ lấy câu chuyện về một anh lính đi lạc đơn vị, lạc mất đồng đội.
Mọi truyền thống, kỉ cương trước kia đều không còn nữa, người lính được

Trích đoạn Phác họa ngoại hình Phân tích tâm lý và xây dựng tính cách Tính điển hình của hình tượng nhân vật Nhân vật người kể chuyện là “Tôi” ngôi một Nhân vật người kể chuyện là “Hắn” ngôi ba
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status