Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán - Pdf 29


0
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Những đóng góp 5
NỘI DUNG
Chương1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Phùng Quán 6
1.1Phùng Quán “Một đời cay cực, một đời lao lực, một đời thơ” 6
1.2.Quá trình sáng tác của Phùng Quán 15
Chương 2. Quan niệm nghệ thuật về con người 23
2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người 23
2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán . 26
2.2.1. Con người yêu nước 26
2.2.2. Con người với lý tưởng sống cao đẹp 39
2.2.3. Con người ngay thẳng trung thực 42
2.2.4. Con người gắn bó tha thiết với cuộc đời 50
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện con người trong sáng tác của Phùng
Quán 62
3.1. Giọng điệu 62
3.2. Ngôn ngữ 75
KẾT LUẬN

1

đàn. Năm 1988, ông được phục hồi hội tịch Hội nhà văn Việt Nam. Từ đó
tới nay, tác phẩm của ông có một đới sống mới. Đã có nhiều bài báo, bài phê
bình văn học về sáng tác của Phùng Quán, nhưng nhìn chung chưa có công
trình nào nghiên cứu toàn vẹn và có hệ thống.Chúng tôi muốn đóng góp một
cái nhìn tương đối đầy đủ, hệ thống về sáng tác của Phùng Quán góp phần
đánh giá thỏa đáng hơn về hiện tượng văn học này. Đặc biệt vấn đề quan
niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán là đề tài còn
bỏ ngỏ.
2. Lịch sử vấn đề
Năm 1954, Vượt Côn Đảo được xuất bản đã gây tiếng vang lớn,
làm náo nức cả văn đàn, một năm được tái bản tới bốn lần. Tác phẩm làm
dấy lên nhiều khát vọng ở những nhà văn trẻ tuổi, Nguyễn Khải viết: “Đọc
rồi cứ bàng hoàng vì chưa thể tin văn chương Việt Nam có thể hay đến
thế…Không là người trong cuộc làm sao viết được những trang văn rạo rực
hơi thở của một thời…Với những cái gì đang có làm sao viết nổi một trang
sách như Vượt Côn Đảo”.[22.272] Văn Tâm nhận xét: “Xuyên suốt tập
truyện là cảm hứng tôn vinh cái cao cả và lòng yêu quê hương đất nước,
lòng vị tha, xả thân vì đại nghĩa của những chiến sĩ cộng sản bình dị”[22.8].
Năm 1988, Phùng Quán được phục hồi hội tịch, Tuổi thơ dữ dội
được xuất bản gây xúc động mạnh mẽ với độc giả. Nhà văn hóa Nguyễn
Khắc Viện nhận xét: “…Với một Gavroche, Victo Huygo đã viết nên những
trang bất hủ. Trẻ em của chúng ta đã anh dũng, hồn nhiên tham gia cuộc đấu
tranh gian khổ, trường kỳ với cha anh không kém gì nhưng Gavroche trên
chiến lũy Pháp. Thế mà sách vở viết về mặt này còn quá ít. Nhà văn Việt
Nam còn mắc nợ các em rất nhiều. Với quyển Tuổi thơ dữ dội, Phùng Quán

3
đã bắt đầu trả nợ một cách chính đáng…Tôi chỉ mong làm sao tất cả các
thiếu nhi Việt Nam đều được đọc sách này”. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc
Tường cho rằng: “Có một viên ngọc quý thời gian dành riêng ban tặng cho

chủ yếu để bày tỏ tình cảm với tác giả, tác phẩm mà người viết yêu thích.
Chưa có đề tài nào nói tới quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác
của Phùng Quán. Trên cơ sở đó chúng tôi đi tìm hiểu quan niệm nghệ thuật
về con người trong sáng tác của Phùng Quán vận dụng lý thuyết thi pháp
học.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Cho thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của
Phùng Quán.
Giúp người đọc hiểu đúng về con người, sự nghiệp văn học, giá trị
văn chương trong sáng tác của Phùng Quán.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
1. Thơ Phùng Quán (NXB Văn Học 2003)
2. Tuổi thơ dữ dội ( Tiểu thuyết- NXB Văn Học 2006)
3. Vượt Côn Đảo (NXB Lao Động 2007)
4. Ba phút sự thật (NXB Văn Nghệ 2010)
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này trong phạm vi sáng tác của
Phùng Quán và những nghiên cứu xung quanh các tác phẩm của ông.
5. Phương pháp nghiên cứu
:
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Phương pháp hệ thống
Phương pháp đồng đại, lịch đại

5

6. Những đóng góp của đề tài
Với đề tài “ Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của
Phùng Quán” luận văn khẳng định giá trị tư tưởng, nhận thức của nhà văn về

như mình không có tuổi thơ và không có tuổi thanh niên. Tôi đã già từ khi
mới sinh. Tuổi thơ tôi là một tuổi thơ nghiệt ngã và tuổi thanh niên càng
nghiệt ngã hơn. Bảy, tám tuổi đã phải chăn trâu cắt cỏ kiếm cơm, 13 tuổi đã
cầm súng ra trận. Ở cái tuổi ngây ngô hồn nhiên nhất, đáng lẽ chỉ biết chơi
bi, đánh đáo, hái trộm quả nhà chùa…thì tôi đã phải chứng kiến cảnh đầu rơi
máu chảy, phải cướp súng giặc, vượt ngục…”
Phùng Quán sinh tháng 1 năm 1932, tại làng Thanh Thủy Thượng,
Tổng Dạ Lê, nay là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-
Huế. Nhà nghèo, cha lại mất sớm khi ông mới biết bò.Là con một - “hũ
mắm treo đầu giàn” - nhưng từ khi rất nhỏ, ông đã phải lang thang ở với hết
chủ này đến chủ khác trong làng để kiếm miếng cơm manh áo. Suốt ngày
quần quật với việc nấu cơm, giữ em, chăn trâu cắt cỏ nên lúc nào người
cũng đen nhẻm, nồng mùi bùn đất.Và cũng chính vì quá nghèo nên Phùng
Quán phải bỏ học từ rất sớm.
Sinh thời, Phùng Quán là một cậu bé thông minh nhưng nghịch
ngợm nên thường xuyên bị đòn quắn đít. Mọi người trong làng gọi cậu là
thằng Bê. Có lần Bê nhảy vào vườn nhà ông thầy bói trong làng định ăn
trộm ổi tàu nhưng bị tóm. “ Ông thầy bói không đánh Bê, nhưng lại gieo
một quẻ bói…tiên tri: Khi lớn lên, thằng này không ăn mày cũng ăn cướp.
Đêm đó, nằm nghĩ đến việc ăn cướp thì bị bỏ tù, ăn mày thì bị chó đuổi, Bê
bật khóc và quyết tâm phải học lấy một nghề để vượt qua lời nguyền số
phận. Bê tìm gặp chú Coong, một người đàn ông lòng khòng, chuyên rao mõ

7
trong làng để xin học nghề. Bê tỏ ra là một học trò có năng khiếu bẩm sinh,
chỉ học vài buổi là hôm nào chú Coong mệt, cậu đã có thể đi rao mõ thay.
Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, rồi cuộc kháng chiến trường
kỳ lại tiếp tục khi Bê mới được mười ba tuổi. Hàng ngày theo các bạn ra bãi
cỏ ven làng chăn trâu, cậu hăm hở nhìn theo những đoàn tàu chở bộ đội lao
về phương Nam. Từ trong các cửa sổ toa tàu vọng ra tiếng hát hùng tráng:

ngục, chuyện về Võ Thị Sáu lúc bị dẫn ra pháp trường còn hát vang bài ca
cách mạng…, Phùng Quán rất xúc động. Ông viết trường ca Tiếng hát trên
địa ngục Côn Đảo gửi về Cục Tuyên huấn. Những chuyện khác, ông đem kể
lại cho bộ đội và dân trong vùng đóng quân nghe. Mỗi lần lại thêm thắt chút
ít. Nghe hấp dẫn, một người bạn đã động viên Phùng Quán nên viết ra.
Được bạn động viên nhiệt tình, ông tìm một tập giấy để lúc nào rảnh thì ngồi
cắm cúi ghi chép. Nhiều người thấy thế, hỏi Phùng Quán, ông trả lời: “Em
viết quyển tiểu thuyết về những người chiến sỹ cách mạng bị địch cầm tù”
trong khi Phùng Quán hầu như chưa hiểu biết gì về lí luận tiểu thuyết. Có
người bảo rằng Phùng Quán liều, ông cười: “Em là lính, thích thì cứ viết đại,
có mất gì đâu mà sợ”. Sách viết xong đưa cho nhà văn Vũ Tú Nam sửa, ông
kêu lên: “Thằng này viết hay lắm, nhưng nhiều lỗi chính tả quá”. Phùng
Quán lại cười: “Thì em nhảy thẳng từ trên lưng trâu về trung đoàn mà”. Tác
phẩm đầu tay có nhan đề Vượt Côn Đảo, ngay trong năm đầu xuất bản đã
được tái bản tới 4 lần, được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước say mê.
Vượt Côn Đảo đã cùng với những chuyến tàu bí mật chở vũ khí vượt biển
vào chiến trường trong những năm cách mạng miền Nam đen tối nhất.
Với bầu nhiệt huyết và với cả cái liều của một chú bé liên lạc
không đắn đo lao vào lửa đạn, Phùng Quán cầm súng chiến đấu và cầm bút
viết văn như thế.

9
Nhưng rồi, cuộc đời không suôn sẻ. Tuổi thơ dữ dội qua đi, Phùng
Quán lại bước vào một tuổi trưởng thành đầy gian nan, cực nhọc và đắng
cay mà ông tự trào là 30 năm “cá trộm, rượu chịu, văn chui” với một loạt
những tác phẩm ký bằng nhiều bút danh khác nhau nhưng tất cả đều xứng
đáng với tư cách nhà văn.
Quãng đời lận đận sóng gió mấy mươi năm của ông không chỉ luôn
túng bấn mà dường như bị gạt ra ngoài lề xã hội, luôn phải “đi bên cạnh
cuộc đời”, nhưng ngay cả trong hoàn cảnh như thế, Phùng Quán vẫn không

quy sáng tạo cho riêng mình.
Sinh ra trong cảnh ngộ cơ cực, giữa lúc đất nước bị đô hộ, Phùng
Quán đã lớn lên trong “ tuổi thơ dữ dội”, lớn lên trong kháng chiến và
trưởng thành trong quân đội. Ông là người lính kiên cường, dũng cảm trên
cả hai lĩnh vực quân sự và văn học. Phùng Quán là hình ảnh của lòng nhân
hậu và độ lượng. Suốt đời ông nguyện làm một người lính thường, không
lụy hư danh, đau cái đau của những người bất hạnh, vui cái vui của những
người chiến thắng. Vậy mà niềm vui chưa hưởng trọn, ông đã đi xa!
Một buổi chiều tháng Chạp, trời lạnh buốt, vào lúc 16h50 ngày 22
tháng 01 năm 1995 (tức ngày 22 tháng Chạp năm Giáp Tuất), căn bệnh hiểm
nghèo xơ gan cổ trướng đã đem ông đi khỏi căn gác lộng gió bên hồ Tây.
Thế là Tết không vào nhà tôi – Tết đi qua trước ngõ. Phùng Quán đã tự trào
về chuyến tàu cuối cùng đến cõi vĩnh hằng của mình:
Căn hộ mới đáy huyệt
Rượu đất tôi uống tràn
Cụng ly cùng giòi bọ
Mừng trắng nợ trần gian

11
Ông “trắng nợ trần” nhưng bỏ lại biết bao người thương kính ông.
Cuộc đời, thân thể mất đi nhưng ông vẫn còn tồn tại bằng sự nghiệp, bằng
tiếng thơm. Ấy là sự tồn tại xưa nay thiên hạ hằng mơ ước – sự tồn tại hoàn
mỹ và vĩnh cửu.
Trong điếu văn tiễn đưa Phùng Quán, Phùng Cung đã viết: “Ông ra
đi trong niềm tiếc thương vô hạn để “rồi đây bên Hồ Tây – một thắng cảnh
đẹp cổ thành - nơi anh chọn làm chỗ cư trú của tuổi xế chiều – Hồ Tây thấy
vắng anh, gia đình vắng anh, bạn hữu thấy vắng anh, đất nước vắng anh, họ
Phùng vắng một thi nhân ưu việt. Ôi! Những bữa cơm chiều đạm bạc, gia
đình hẫng hụt, ngác ngơ. Những lúc này bạn bè đến thăm nghẹn ngào thắp
nén nhang dâng lên bàn thờ, cầm sao được nước mắt. Chúng tôi đứt ruột

Phùng Quán mất đi nhưng ông đã để lại trong lòng bạn bè biết bao
kỷ niệm đẹp. Những người thân, bạn hữu của ông cả trong và ngoài nước,
trong hay ngoài giới văn nghệ, những người đã từng đọc và yêu quý ông
không khỏi tiếc thương một con người đã chịu nhiều gian khổ, chấp nhận hi
sinh để giữ gìn phẩm giá trong sạch của mình.
Sống với bạn bè, ông luôn mang lòng mình ra để cư xử. Vì thế, dù
đã lên đường đi vào cõi vĩnh hằng, ông vẫn luôn hiện hữu bên họ. Đó là
hình ảnh một nhà thơ Thanh Tịnh già và một Phùng Quán trẻ từng đi bộ suốt
dãy núi Trường Sơn đến chiến khu Việt Bắc đọc thơ và đọc tấu cho bộ đội
nghe. Đó là hình ảnh Phùng Quán đi đọc thơ khắp nơi để quyên tiền cho bạn
gặp khó khăn; hình ảnh Phùng Quán đạp xe hàng trăm cây số trong đêm tối
những ngày cuối năm giá rét để về thăm một người bạn nghèo với bữa cơm
đạm bạc là mấy viên chả nhái. Hình ảnh ông ngồi câu cá dưới chân thác
Đămbri, trong quầng bụi nước mờ mờ hư ảo với chiếc áo chàm xanh quen
thuộc, râu tóc bạc phơ bay trong gió chiều, tĩnh lặng như một triết nhân bên

13
dòng suối xưa, như thực như mơ, như không như có, như một ảo ảnh. Như
ảo ảnh của cả một đời đã từng hạnh phúc và đã từng nếm trải đến tận cùng
của cay đắng, khổ đau. Ấy là cảm nhận của Nguyễn Đặng: “ phải được
nghe Phùng Quán đọc thơ mới thấy thấm, cái giọng nửa Huế, nửa Hà Nội
rưng rưng bi hùng, bão táp ấy vẫn còn mê hoặc chúng tôi suốt bao nhiêu
ngày sau khi rời xa Hà Nội cho đến tận bây giờ”. Và “Hình ảnh Phùng Quán
lúc nào cũng đậm trong trí chúng tôi. Cái hình ảnh ngang tàng nhưng lại
hiền hòa trong chiếc áo chàm, chòm râu bạc bay phất phơ trong gió in hình
trên nền trời chiều, bên Hồ Tây mênh mông sóng nước”. Hoàng Ngọc Phủ
Tường - người bạn thân thiết của ông tâm sự: “Được sống gần Phùng
Quán, tôi nhận thấy rằng, Phùng Quán là một con người “nguyên tắc” ít thấy
về tinh thần, hình như từ “nhất ẩm, nhất tác” và tất cả đều làm nên một
phong thái ung dung, tự tại” và “Tôi kết bạn với Phùng Quán hơn 20 năm

Bạn hữu có ý định xin phép bà Bội Trâm đưa ông về Huế, xây cho
ông một ngôi mộ bằng đá trắng bên bờ sông, chỗ có ngọn đồi nhỏ um tùm
lau lách “để Quán đêm ngày nhìn ngắm dòng sông quê nhà, nơi một thời thơ
ấu chăn trâu cắt cỏ, bắt gặp cách mạng và đã hào hiệp dâng hiến tuổi thơ dữ
dội và cả một đời lao lực, một đời cay cực, một đời thơ”. Họ mong ông được
về Huế sau những tháng năm dài trầm luân, lưu lạc, ngủ giấc vĩnh hằng dưới
bóng thông xanh, với những đêm trăng thanh gió mát bên dòng Hương hiền
hòa. Tháng 1 năm 2011, di hài của Phùng Quán và vợ được đưa về quê
hương ông- Thanh Thủy Thượng theo đúng nguyện vọng lúc ông còn sống.
Bạn bè làng văn, đông đảo người hâm mộ ông ở trong và ngoài nướcđã góp
sức xây mộ cho vợ chồng Phùng Quán.

15
Phùng Quán quý chiếc áo có chữ ký của bạn bè (đặc biệt trong đó
có chữ ký của một cô bé 7 tuổi). Tấm áo đã đi với ông đến cuối cuộc đời, trở
thành áo liệm, thay bạn bè tiễn ông về thế giới bên kia. Kỷ niệm mang theo
về bên ấy, chút tình bằng hữu sẽ sưởi ấm lòng ông trong thế giới lạnh lẽo
của những nấm mồ. Bạn hữu, những người mến mộ kính phục ông, thấy
hiển hiện trược mắt “khí thiêng khi đã về thần” nhưng với Phùng Quán
“Thác là thể phách, còn là tinh anh”
1.2. Quá trình sáng tác của Phùng Quán
Phùng Quán là nhà văn đã để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch
sử văn học cách mạng Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Dù phải vượt qua vô
vàn tai ương đau khổ, ông vẫn viết, vẫn sống. Ông đã để lại trong lòng bạn
bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một tấm lòng tin yêu đồng đội sâu
sắc, một tấm gương lao động sáng tạo nghệ thuật hết mình.
Ở thời kỳ đầu, các sáng tác của Phùng Quán rất hồn nhiên, tự
nhiên với mục đích là muốn bày tỏ lòng mình, thể hiện sự nhiệt tình ca ngợi
cuộc sống, ngợi ca quê hương, đất nước.
Mười tám tuổi ông bắt đầu làm thơ – những câu thơi sôi sục tinh

Về Nam Định mà xem
Đài xem lễ họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa dãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Trong lúc dân nghèo đói lầm than, người ta đổ đi không tiếc mười
một triệu đồng mồ hôi nước mắt của nhân dân. Bài thơ đã cảnh báo một tai
họa của đất nước. Vậy mà chính bài thơ ấy lại mang họa cho ông với “hai

17
suất Kiều” để đến tận hôm nay đầu thế kỷ XXI, chúng ta lại ráo riết kêu gọi:
“Chống tham nhũng, lãng phí”.
Vẫn khẩu khí “yêu ghét ra mặt” ấy, năm 1957, bài thơ Lời mẹ dặn
được in. Cái lõi ý tưởng của bài thơ là:
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
Chân thật chọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Để dẫn đến diều ấy, Phùng Quán phải hư cấu ra việc một lần ông
nói dối mẹ suýt bị ăn đòn, mẹ khuyên ông làm người chân thật, ông chưa
hiểu được, mẹ giải thích:
Con ơi một người chân thật…
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…
Bài thơ được xếp lớp lang, là loại thơ “luận đề” với chất ồn ào
của Phùng Quán. Những lời mẹ dặn ông muôn thưở vẫn là bài học vỡ lòng

Phong… Một số truyện ngắn của ông, dù dưới nhiều bút danh khác nhau,
cũng được nhận nhiều giải thưởng trong và ngoài nước. Những tác phẩm
tiêu biểu như: Như con cò vàng trong cổ tích, Cuộc đời một đôi dép cao su,
Thạch Sanh cháu Bác Hồ, Dũng sỹ Chép Còm, Người du kích hói đầu, Tiếng
đàn trong rừng thẳm, Đôi bạn tật nguyền kỳ lạ…

19
Ròng rã suốt 30 năm sống trong khốn khó cả vật chất lẫn tinh thần,
Phùng Quán vẫn viết với niềm đam mê, nhưng còn mục đích “cao cả” hơn
cả kiếm cơm để nuôi bản thân và gia đình. Ông đã hoàn thành xuất sắc
“nhiệm vụ cao cả” đó mà vẫn giữ được tấm lòng trong sạch của một nhà văn
chân chính. Và ngay cả vì mục đích kiếm cơm thì sáng tác của ông vẫn đạt
được những giá trị đích thực vì đó là những sáng tác của một người nghệ sỹ
đích thực.
Sau khi được phục hồi Hội tịch, Phùng Quán viết để xả bớt nỗi
đau, viết để tuôn ra những điều bấy lâu bị kiềm chế, viết để “để lại bản di
chúc cuộc đời” mình.
Thơ Phùng Quán ở giai đoạn cuối này là chuỗi tình ca lớn về
cuộc đời. “Dù chỉ là hình bóng thoáng qua hoặc chỉ cho mà không nhận, tất
cả trong thơ Phùng Quán đều là hình ảnh của cuộc đời úp mặt và tất cả cũng
là trái tim tươi đỏ của ông trước một kiếp người bị đời phụ. Tình ca của
Phùng Quán là tiếng kêu đoạn trường của một con người tự cảm thấy bị xúc
phạm và kêu đòi quyền được sống có nhân phẩm của nó”( Hoàng Phủ Ngọc
Tường). Tiêu biểu cho loại tình ca này là tiểu thuyết tình 13 chương Trăng
Hoàng Cung – tập thơ van xuôi hay nhất và kỳ lạ nhất của Phùng Quán. Ông
thuật lại một bi kịch tình yêu và đinh ninh nhắc lại rằng, xưa ông là một
người lính xạ thủ của trung đoàn và lời tỏ tình của ông bây giờ cũng phải
thật giống cái ông đã bắn. Ở tập thơ này, ông kết hợp văn xuôi với thơ. Văn
xuôi vừa như lời dẫn dụ vào thơ, nhưng đồng thời lại cũng chính là thơ với
nhiều chi tiết, tâm trạng quan niệm được chắt lọc từ cuộc đời từng trải và

trong những tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài kháng chiến. Tác phẩm được
chắt ra từ mồ hôi, nước mắt, từ xương thịt, từ tâm hồn cao đẹp và từ tất cả
sự say mê, tâm huyết của nhà văn. Chính trong tác phẩm này, Phùng Quán

21
đã nói được điều mà suốt đời ông tâm niệm: “Tôi là Vệ quốc đoàn, tôi chưa
bao giờ là tên phản động”. Tác phẩm được viết bằng toàn bộ ký ức tuổi thơ
dữ dội của nhà văn với một văn phong độc đáo, tạo nên dấu ấn riêng cho tác
giả. Đây cũng là tác phẩm văn xuôi thành công nhất của Phùng Quán, thể
hiện rõ nhất con người và năng lực văn chương của ông. Tác phẩm là kết
quả của gần 20 năm lao đông miệt mài từ khi khởi thao bên bờ Hồ Tây năm
1968 đến lúc hoàn thành trong lều cỏ giữa hồ Tịnh Tâm năm 1986. Nhân vật
Mừng - nhân vật chính của tác phẩm – đã được Phùng Quán gửi gắm rất
nhiều tâm sự. Mừng một Vệ quốc đoàn 13 tuổi, bị tình nghi là gián điệp -
Việt gian. Chính mẹ em, khi trút hơi thở cuối cùng, cũng tưởng em là Việt
gian, Mừng muốn thanh minh với mẹ nhưng không kịp. Em vừa khóc vừa
kêu la tuyện vọng, lặp đi lặp lại một câu: “Con không phải là Việt gian! Con
là Vệ quốc đoàn!”.
Như vậy, Tuổi thơ dữ dội ra đời là một trong ba dự định lớn nhất
trong suốt cuộc đời vất vả, khó nhọc của Phùng Quán. Tác phẩm ra đờii là
một trong những thành công lớn nhất của ông và cũng là một trong những
tác phẩm văn học tiểu biểu viết cho thiếu nhi về đề tài kháng chiến trong
thời kỳ đổi mới. Tuổi thơ dữ dội là cuốn sách đầu tiên Phùng Quán in công
khai bằng tên của mình sau 30 năm viết chui. Đó là một phần máu thịt của
đời ông, ông gọi đó là “bản di chúc chiến sĩ của tôi”. Từ Vượt Côn Đảo khi
mới chập chững vào nghề đến Tuổi thơ dữ dội lúc gần cuối đời, Phùng Quán
viết như tâm nguyện: Một niềm yêu tôi không đổi thay - Một niềm tin tôi
không thay đổi để nghiến răng gìn giữ đến cùng Trái tim thơ trong sạch và
gương mặt thơ bi thiết của mình.
Phùng Quán đã để lại một tấm gương lao động sáng tạo nghệ thuật
23
Chương 2.
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

2.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
“Văn học là nhân học” ( M.Gorki). Quan niệm nghệ thuật về con
người được định nghĩa: “Là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã
được hóa thân thành những nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức
thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho
các hình tượng nghệ thuật trong đó”[28.43]
Quan niệm con người cung cấp mặt bằng để trên đó diễn ra sự lựa
chọn, khái quát, tạo ra hình tượng nghệ thuật. Hình tượng nghệ thuật về con
người trong tác phẩm là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, gắn với quan niệm
phong cách nghệ thuật nhưng cũng là con đẻ của thời đại. “ Mỗi thời đại văn
học, do yếu tố chính trị, xã hội do cả tầm vóc và nhận thức của chính nó
cũng đưa ra một quan niệm, một kiểu tư duy nghệ thuật về hiện thực và con
người nhằm chiếm lĩnh thực tại một cách hiệu quả”[1.17] Thời đại văn học
mới bao giờ cũng ra đời những con người mới và miêu tả những con người
ấy làm văn học đổi mới. Do đó, sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về
con người là cơ sở quan trọng của sự vận động văn học. Quan niệm nghệ
thuật về con người không chỉ cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu nội
dung của một tác phẩm văn học cụ thể mà còn là cơ sở để nghiên cứu sự
phát triển, tiến hóa của văn học.
Hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đã tập hợp, gắn kết mỗi cá
nhân trong cộng đồng hòa mình vào cuộc sống chung hào hùng của đất
nước, đồng thời thức tỉnh ý thức công dân, tinh thần dân tộc trong mỗi
người. Văn học 1945- 1975 được xây dựng, phát triển trên nền tảng tư tưởng
ấy. Nó thể hiện con người công dân, con người sử thi tập thể, con người

Trích đoạn Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Phùng Quán Con người ngay thẳng trung thực Con người gắn bó tha thiết với cuộc đời
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status