quan niêm nghệ thuật về con người trong thơ nôm tú xương - Pdf 10

Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
MỤC LỤC
Trang
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 1 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tú Xương là một tác giả lớn có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc.
Trong suốt cuộc đời ngắn ngủi của mình Tú Xương đã để lại cho đời chưa đầy 150
bài thơ chủ yếu là thơ chữ Nôm nhưng nhà thơ của dòng sông Vị ấy vẫn được xếp
vào hàng ngũ những tác giả tầm cỡ của nền văn học Việt Nam.
Chính bởi vậy, nghiên cứu thơ Tú Xương vẫn là một niềm “trăn trở” của bao
nhà nghiên cứu phê bình yêu và say thơ ông. Họ đã chọn nhiều những góc nhìn để
đánh giá, khám phá vẻ đẹp của thơ Tú Xương: ngôn ngữ, giọng điệu, chất trào
phúng, chất trữ tình, kết cấu…Ở bài tiểu luận này, chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu
quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ ông.
Tú Xương sinh ra trong một xã hội hỗn độn, ở xã hội đó tất cả mọi quy tắc, lề
lối đều bị phá vỡ. Kéo theo đó là sự thay đổi đáng kinh ngạc của con người. Cách
nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải của một nhà thơ đi bằng hai chân trào phúng
và trữ tình như Tú Xương có những điểm đặc biệt. Đây được xem là một chiếc chìa
khóa vàng góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ
thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời đại nói riêng.
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 2 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
Quan niệm nghệ thuật về con người là sản phẩm của văn hóa đồng thời mang
dấu ấn của từng thời đại. Trước bối cảnh lịch sử xã hội mới, bằng thơ Nôm, Tú
Xương đã phản ánh trong tác phẩm của mình những quan niệm nghệ thuật mới về
con người.
Đó là những lý do để chúng tôi đến với đề tài này.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tú Xương là một trong những tác giả lớn của văn học giai đoạn nửa cuối thế

mình, tự khẳng định nhân cách mình.
Hà Ngọc Hòa cho rằng có con người ưu tư, u hoài về đất nước trong thơ Tú
Xương (trong bài viết Con người ưu tư trong thơ Nôm Đường luật).
Hồ Giang Long trong Thi pháp thơ Tú Xương đã gọi tên các kiểu con người
trong thơ Tú Xương như: con người hữu danh vô tài, con người làm trò, con người
thị tài, con người trượt chuẩn…
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Bài “Quan niệm nghệ thuật về con
người trong thơ Nguyễn Khuyến và Tú Xương” nghiên cứu quan niệm nghệ thuật
về con người trong thơ Tú Xương trên cơ sở đối chiếu với Nguyễn Khuyến.
Những ý kiến trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề tài.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà tiểu luận đề cập tới là: Các kiểu quan niệm nghệ thuật về con
người của Tú Xương.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các bài thơ Nôm của Tú Xương trong cuốn
sách Tú Xương toàn tập của Đoàn Hồng Nguyên, do Trung tâm Nghiên cứu Quốc
học và Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2010.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong công trình này chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích tác phẩm
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 4 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp lịch sử
Phương pháp so sánh, đối chiếu
5. CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận có ba chương:
Chương 1. Trần Tế Xương trong bối cảnh văn học trung đại
Chương 2. Các kiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm của Tú

Hương. Kế thừa thành tựu người đi trước nhà thơ của dòng sông Vị cũng đã có
những cách tân rõ nét trong sáng tác của mình. Ông nối liền nghệ thuật với cuộc
sống trần trụi mà không cần đến những điển cố, từ chương, điển tích. Đề tài trong
thơ ông là hiện thực cuộc sống, những gì mắt đang chứng kiến, tai đang nghe, tim
đau thắt và cất lên tiếng thơ: chế độ thi cử, tôn ti trật tự, mua quan bán tước…Nhân
vật trong thơ ông bước ra từ hiện thực đời sống là vợ ông – bà Tú tần tảo “Nuôi đủ
năm con với một một chồng”, là ông Cử, Huấn Mỹ, Tú Tây Hồ, đốc học Nam Hà,
chú Mán…vì vậy nó mang tính chất cụ thể và cá thể hóa.
1.2. Tú Xương – đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam
Nhắc đến văn học trào phúng Việt Nam, Tú Xương là một cái tên không thể
bỏ qua. Nếu trào phúng của Nguyễn Khuyến - người cùng thời với ông có phần
thâm trầm kín đáo thì Tú Xương có phần bộc trực, gay gắt hơn. Trào phúng của Tú
Xương là bức tranh muôn màu muôn vẻ. Xã hội nhố nhăng, Tây Tàu lẫn lộn, những
nhân vật khả ố, những con người nhơ nhuốc, những sự việc dở khóc dở cười,
những đồi bại phong tục… cứ ngồn ngộn hiện lên trong thơ trào phúng của ông.
Tiếng cười mà Tú Xương mang đến là một sự phản ứng xã hội. Cái cười mang tính
xã hội sâu sắc và nhạy bén, cái cười thấm sâu vào mọi đối tượng, mọi ngõ ngách
của đời sống.
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 6 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
Trước hết, thơ ông là tiếng còi tập hợp mọi đối tượng của xã hội. Đám quan
lại bản xứ, bọn quan chức thực dân :
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
1.3. Tú Xương – một hồn thơ trữ tình đặc sắc
Tú Xương là một con người phân thân một Tú Xương trào phúng và một Tú
Xương trữ tình. Một Tú Xương ban ngày cười cợt cuộc đời và một Tú Xương ban
đêm trăn trở với đời.
Nỗi thất vọng sau mỗi lần “lều chõng đi thi”. Ban đầu hỏng thi, ông còn cười
cợt, còn tự nghĩ cách để an ủi mình. Nhưng các khoa thi sau ( 1903, 1906) ông càng

Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
của con người. Đồng tiền có thể giúp một ông “bợm già” trong chớp mắt biến
thành “ông hoàng”, nó cũng có thể hô biến để biến một người đi làm thuê bước lên
vị trí ông chủ: “Xu hào rủng rỉnh Mán ngồi xe”. Danh phận, địa vị trở thành một
món hàng có mức độ tiêu thụ rất lớn dẫu giá cả cắt cổ:
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
Đứa thời mua tước đứa mua quan
(Năm mới chúc nhau)
Văn hóa ứng xử của con người trượt chuẩn một cách rất bất ngờ, đâu còn là
những con người Việt Nam hồn hậu, thủy chung, trọng tình trọng nghĩa:
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
(Đất Vị Hoàng)
Và một hiện tượng khá đặc biệt là ông không ngần ngại tự bôi đen mình.
Ông phơi bày tất cả mọi thói hư tật xấu của mình lên trên trang thơ, tự “vạch áo cho
người xem lưng”. Tú Xương lấy chính bản thân mình làm đối tượng trào phúng.
Ông bóc trần cả “con người tinh thần hư hỏng của mình”. Ông châm biếm bản thân
ông một cách quyết liệt và không bỏ sót một khía cạnh xấu nào.
Đó là một Tú Xương sành ăn chơi, rượu chè, bài bạc:
Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành
Mắt thời thao láo, mặt thời xanh
Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó
Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh
(Tự cười mình)
Một Tú Xương dơ dáng, dại hình trong cảnh vô nghề nghiệp, phải “ăn lương
hàm chính thất”. Ông tự nhận mình là một kẻ học trò dốt nát:
Sáng vở mập mờ;
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 9 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa

Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
Mặc dù thất bại rất nhiều lần trong đường thi cử, dù có lúc ông đay nghiến:
“Thi không ăn ớt thế mà cay” nhưng Tú Xương vẫn khát khao một ngày tài năng
của mình được vua trọng dụng:
Mở mặt quyết cho vua chúa biết
Ðua danh kẻo nữa, mẹ cha già
Năm nay ta học, năm sau đỗ
Chẳng những Lương Ðường cũng thủ khoa .
(Than thân chưa đạt)
Thơ Nôm của Tú Xương tuy nhạt màu “ngôn chí”, nhưng là những nhà Nho
được đào tạo trong môi trường phong kiến, họ không tránh khỏi “lý tưởng công
danh” với mong mỏi cống hiến. Ở đây có tiếng cười tự tin về tài năng, có niềm hăm
hở, niềm yêu sống và một phiên bản chân dung hoàn toàn khác so với con người tự
trào với ý thức phủ định.
Chính hình thức con người tự trào với ý thức thị tài là một minh chứng cho sự
xuất hiện của con người cá nhân trong thơ văn Trung đại. Nếu như xã hội phong
kiến thủ tiêu cá tính tài năng con người trong sự gò bó phép tắc khuôn khổ xã hội
thì chính thực tế sáng tác của Tú Xương đã đi ngược lại những chuẩn mực đó. Hơn
nữa, Tú Xương đã thoát khỏi vòng kiềm tỏa của xã hội bằng cách vươn tới nhu cầu
thế tụ, đến gần với cuộc sống đời thường của con người. Ông thể hiện mình là
người biết ăn ngon mặc đẹp, biết hưởng thụ. Điều này gần giống với Nguyễn Công
Trứ ở tư tưởng hưởng lạc, cũng cao lâu, thuốc lá…
2.2. Con người ưu tư, hoài niệm
Là một kẻ sĩ tài năng luôn luôn muốn đấng minh quân thừa nhận tài năng của
mình nhưng thực tế phũ phàng, đi thi tám lần mà mãi “thi không ăn ớt thế mà cay”.
Cuộc đời của bản thân quá nhiều đau khổ, đắng cay lại phải chứng kiến sự suy
thoái của xã hội cho nên ngoài một Tú Xương tự trào ta còn nhận thấy một Tú
Xương ưu tư hoài niệm, Tú Xương của tâm trạng. Thơ Tú Xương ngòng nghênh,
kiêu bạc - thơ của một con người có tiếng cười vỏ mặt sâu cay. Và thơ Tú Xương
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 11 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa

Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
Nghe nói miền Nam trời đã hạn
Ðối với người phụ nữ, hình ảnh họ hiện lên thật đáng thương, họ không những
khổ sở về vật chất mà còn bị đau đớn về mặt tinh thần Thương vợ là một bài thơ
tiêu biểu của Tú Xương viết về vợ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không.
Nỗi u hoài kín đáo của Tú Xương trước thời cuộc và vận mệnh đất nước
thường triền miên, day dứt:
Nhân tài đất Bắc nào ai đó?
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà
( Vịnh khoa thi Hương năm Ðinh dậu)
Nhà thơ thường thao thức suốt đêm dài để lặng lẽ suy tư và thấy được cái heo
hút Vắng lặng của đêm trường:
Ðêm sao đêm mãi tối mò mò,
Ðêm đến bao giờ mới sáng cho.
Ðàn trẻ u ơ chừng muốn dậy,
Ông già thúng thắng vẫn đang ho.
Ngọn đèn rình trộm khêu còn bé,
Tiếng chó kinh người cắn vẫn to.
Hàng xóm bốn bề ai dậy chửa,
Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho.
( Ðêm dài)
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 13 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa

Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
tạo dưới học thuyết Khổng Mạnh, vai trò, bổn phận của Nho sĩ trước sự hưng vong
của quốc gia, dân tộc lại càng là trọng trách.
Tú Xương không có những bước đi vượt quá thời đại “tư tưởng nho giáo
không trang bị kiến thức cho nhà thơ đi vào cái mới, nhưng lại thừa đạo lý để tâm
trạng nhà thơ thao thức suốt cuộc đời” (Hà Ngọc Hòa). Bởi lẽ ấy mà đằng sau
những vần thơ lên án đạo học thời nay, những vần thơ ưu hoạn về đất nước là cả
một khối dày vò về sự bất lực của vai trò, bổn phận nhà nho Tú Xương.
2.3. Con người mặc cảm
Con người buồn, chán nãn, tuyệt vọng và cay cú:
Học đã sôi cơm nhưng chữa chín.
Thi không ăn ớt thế mà cay
Ðến khoa thi cuối ( 1906) tiếng thở dài của Tú Xuơng càng áo não và bi thiết
hơn nhiều:
Bụng buồn còn biết nói năng chi
Ðệ nhất buồn là cái hỏng thi
Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế chẳng ra gì
(Buồn thi hỏng)
Qua thơ ông, gia cảnh nhà ông hiện lên rất áo não và bi thiết (Mùa nực mặc
áo bông) Nhà thơ từng thấm thía cảnh chạy ăn, vay nợ, nhiều lúc ông phải gào lên:
Van nợ lắm khi trào nước mắt
Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi
(Than nghèo)
Trong hoàn cảnh nào, Tú Xương vẫn cười cợt, châm biếm, nói ngông. Vì
nghèo quá, ông đã tính đến chuyện đi tu nhưng không phải tu vì đạo lý mà tu vì
tấm áo (Nghèo), rồi nghĩ đến chuyện làm mứt rận đãi gai đình trong ngày tết, có
những ý nghĩ ngông nghênh, hợm hĩnh ( Mứt rận), hoặc nhiều lúc ông đâm ra chán
chường tuyệt vọng:
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 15 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa

trong thơ ông, xuất hiện với tần số cao: ta, anh, ông, tôi, tớ, mình, khách bên trời,
em. Những đại từ nhân xưng ngôi 1 thường thể hiện kiểu con người tự trào hay nói
cách khác là thái độ và cá tính của người tự xưng:
Ông trông lên bảng thấy tên ông
Ông tớp rượu vào ông nói ngông
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 17 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
Đại từ ông cho thấy Tú Xương đã đặt mình cao hơn thiên hạ, thể hiện thái độ
ngông nghênh, ngạo mạn.
Khi lại sử dụng đại từ nhân xưng “tớ” để giãi bày tâm sự:
Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Các đại từ nhân xưng này tương ứng với từng biểu hiện trong quan niệm nghệ
thuật về con người.
3.1.2. Nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang phong cách ngôn ngữ văn học dân gian
Tú Xương đưa vào trong thơ Nôm một số lượng thành ngữ, tục ngữ, ca dao
tương đối lớn.
Dưới bàn tay của nhà nghệ sĩ Tú Xương, tiếng Việt trở thành một đạo quân
đắc lực, hễ đặt chúng vào đâu là chúng có ngay một khả năng thích ứng diệu kì.
Khi thể hiện con người tự trào ông đã sáng tạo nên những câu thơ giống thành ngữ,
tục ngữ:
Học đã toi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
(Hỏng thi)
Đau quá đòn hằn
Rát hơn lửa bỏng
(Hỏng khoa thi Canh Tý)
Nỗi niềm hỏng thi như thấm thía hơn, chua xót hơn. Hay khi diễn tả tài ăn
chơi của mình:
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ

Xương.
Ông còn đối trời với chó, đây là cách ông thể hiện cái ngông, cái phẫn chí
khi hỏng thi:
Tế đổi thành Cao mà chó thế
Kiện trông ra Tiệp hỡi trời ơi
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 19 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
(Hỏng thi)
3.3. Giọng điệu
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, giọng điệu là “thái độ, tình cảm, lập trường
tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời
văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc diệu tình cảm, cách cảm thụ xa,
gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…”
3.2.1. Giọng điệu trữ tình
Giọng trữ tình nảy sinh khi nhà thơ có sự bộc lộ cái tôi trong lòng, thể hiện
trong những bài thơ Tú Xương bộc lộ tâm sự gắn với thời thế, với vận mệnh dân
tộc, với cảnh ngộ và số phận riêng. Nói cách khác, quá trình nghiên cứu, chúng tôi
nhận thấy giọng điệu trữ tình xuất hiện trong những bài thơ thể hiện con người ưu
tư và con người mặc cảm. Tú Xương đã dùng thơ để “phơi bày” tâm trạng của
mình, biết bao chất chứa, biết bao nỗi niềm không thể nói cùng ai.
Một tuồng rách rưới con như bố
Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng
(Mùa nực mặc áo bông)
Cao Bá Quát có bài “Hàn nho phong vị phú” cũng viết về cái nghèo nhưng
nếu Cao Bá Quát viết về cái nghèo với giọng điệu trào lộng thì ở đây Tú Xương đã
chẳng hề giấu giếm hoàn cảnh đáng thương của mình. Cái nghèo đã đẩy gia đình
ông đến thảm cảnh.
Và ông tự trách mình:
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng như không

xa với người. Đêm tối một mình ông với ngọn đèn dầu, một mình ông đối diện với
sự tĩnh lặng vô bờ. Và giữa đêm tối ấy ông lắng nghe:
Xao xác năm canh một tiếng gà
(Đêm dài)
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 21 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
“Xao xác”, âm thanh của tiếng gà gáy không quá xa lạ với người Việt Nam
nhưng ở đây nó lại “xao xác” bởi âm thanh đó phát ra giữa đêm tối quạnh vắng.
Không gian tâm trạng đã góp phần khắc họa được con người ưu tư với những trăn
trở về vai trò bổn phận, về cuộc đời trong thơ Tú Xương.
Cùng với không gian tâm trạng không gian sinh hoạt đánh dấu sự cách tân về
không gian nghệ thuật trên con đường chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống của Tú
Xương. Không gian sinh hoạt trong thơ Nguyễn Khuyến là không gian nông thôn
thì không gian sinh hoạt trong thơ Tú Xương chủ yếu là không gian thành thị:
Có đất nào như đất ấy không
Phố phường tiếp giáp với bờ sông
(Đất Vị Hoàng)
Trời kia xui khiến sông nên bãi
Ai khéo xoay ra phố nửa làng
(Vị Hoàng hoài cổ)
3.3.2.Thời gian nghệ thuật
Trong văn học nghệ thuật, thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều kích thước
khác nhau và xuất hiện dưới những dạng khác nhau tạo nên nhịp điệu trong tác
phẩm. Trong quá trình tìm hiểu thời gian trong thơ Tú Xương chúng tôi khám phá
hai kiểu thời gian: thời gian tâm trạng và thời gian sự kiện.
Thời gian tâm trạng là thời gian có thể của đời sống thực hoặc không, nhưng
ở thời gian đó, thi nhân có thể bộc lộ tâm trạng của mình. Đó là những khắc khoải,
ưu tư và theo từng bước đi của thời gian là tâm trạng ngày một buồn chán, cô độc
và chất chứa lo lắng với cuộc đời.
Cùng với thời gian tâm trạng, trong thơ Tú Xương còn có mảng thời gian sự

7. Trần Đình Sử, (1993), Giáo trình Thi pháp học, Nxb ĐH sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh.
8. Trần Đình Sử, (1993), Dẫn luận Giáo trình Thi pháp học, Nxb ĐH sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh
9. Trần Ngọc Vương (1995), Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB Giáo
dục, H.
10. Hồ Giang Long (2006), Thi pháp thơ Tú Xương, Nxb Văn học.
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 24 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa
Tiểu luận: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nôm Tú Xương
11. Phan Công Khanh (2001), Lịch sử tiếp nhận truyện Kiều - Tóm tắt luận án
tiến sĩ ngữ văn, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.
12. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb ĐHQG Hà
Nội.
13. Trần Đình Sử (2005), Giáo trình dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục.
14. Trần Đăng Suyền (2006), Nhà văn – hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo,
Nxb Văn học.
Tuấn Thành – Anh Vũ (tuyển chọn) (2005), Thơ Tú Xương và lời bình, Nxb Văn
học.
HVTH: Ngô Minh Nhàn - 25 - GVHD: TS Hà Ngọc Hòa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status