quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Kín của Nguyễn Đình Tú - Pdf 31

1

Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

A. MỞ ĐẦU
1. Mục đích và ý nghĩa đề tài
So với các cây bút thuộc thế hệ 7X, Nguyễn Đình Tú là nhà văn có ý thức đi theo
con đường chuyên nghiệp từ rất sớm. Trong khi Đặng Thiều Quang, cây bút nổi đình
nổi đám cùng thời đã nửa đường đứt gánh tương tư… rẽ ngang tạm biệt văn đàn chinh
phục lĩnh vực khác rồi trở lại ồn ào thì Nguyễn Đình Tú vẫn lặng lẽ kiên trì với con
đường mình đã chọn.
Năm 26 tuổi anh trình làng cuốn tiểu thuyết đầu tay Hồ sơ một tử tù, từ đó cho
đến nay với tài năng văn chương và sự am tường về cuộc sống, về những gì mắt thấy
tai nghe hay về những vấn đề nhức nhối của xã hội, Nguyễn Đình Tú đã kịp thời cho
ra đời 4 cuốn tiểu thuyết tiếp theo: Bên dòng Sầu Diện, Nháp, Phiên bản và gần đây
nhất là Kín. Trừ cuốn tiểu thuyết Bên dòng Sầu Diện viết về chiến tranh, thì các cuốn
tiểu thuyết còn lại chính là những góc nhìn riêng của anh về cuộc đời.
Ortega Ygasset nhà tiểu thuyết Tây Ban Nha đã nói : “Chiếc rìu của một tiểu phu
giỏi chẳng có nghĩa lý gì trên một sa mạc không cây cối.” Quả thật muốn viết được
một cái gì đó có ý nghĩa thì nhà văn phải có chất liệu và đừng tưởng chất liệu là cái
vốn tự có, là nước ở các giếng sâu không đáy, là vỉa quặng vô tận thả sức đào bới. Kín
ra đời từ cái giếng cuộc sống, đã thể hiện một tài năng đang độ chín muồi. Con người
là đối tượng của cuộc sống và là đối tượng nhận thức, phản ánh của văn học. Sáng tạo
văn học nghệ thuật dù dưới hình thức hoặc hình thái ý thức nào đều không thể không
có bóng dáng con người. Với văn học, con người thật sự được thể hiện đầy đủ và
phong phú.
Một nền văn học mới bao giờ cũng bắt đầu bằng việc đổi mới quan niệm nghệ
thuật về con người. Vì vậy, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ là một trong những
vấn đề cơ bản của văn học. Con người trong văn học dù là sản phẩm sáng tạo của nhà
văn, bao giờ cũng là con đẻ của thời đại. Đặc điểm chung của thời đại có vai trò chi
phối đến diện mạo văn học một thời.

kiến thức về văn học nói chung, về những vẫn đề nhức nhối của xã hội mà qua trang
văn của Nguyễn Đình Tú ta được biết ít nhiều và đặc biệt hơn nữa là về phong cách
của anh.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kín là cuốn tiểu thuyết mới xuất bản tháng 9/ 2010, có thể thấy đây là một tác
phẩm mới nên việc đi sâu nghiên cứu như chúng tôi được biết là chưa có nhiều, mà có
lẽ nhiều nhất là các bài nhận xét của những người quan tâm đến nó.
Nguyễn Đình Tú đã chia sẻ về cuốn sách Kín: “Một lớp trẻ kế thừa những giá trị
văn hóa lịch sử cả ngàn năm của ông cha ta đang loay hoay với hiện tại ra sao? Đó là
câu hỏi đầu tiên thôi thúc tôi cầm bút lên viết Kín. Kín phải được viết như thế nào để
không giống ai và không giống tôi trước đó? Câu hỏi này khiến tôi phải lập cho Kín
một cách triển khai ba tuyến truyện song song với điệp trùng khít với những chi tiết
độc đáo. Đã từng có một lượng bạn đọc bỏ tiền ra mua sách của mình, bây giờ đáp lại
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

3

tấm lòng đó như thế nào? Điều này kiến tôi phải viết Kín sao cho hấp dẫn và chạm vào
cái mà bạn đọc đương đại quan tâm. Tất cả những điều trên, thiết nghĩ đã hé lộ phần
nào câu chuyện về sự chuẩn bị và kiến tạo nên Kín”
Các bài nhận xét về cuốn tiểu thuyết này hầu hết là của các tác giả trang mạng,
chúng tôi chưa tìm thấy các bài nghiên cứu về tác phẩm được viết thành sách vì như đã
nói đây là một tác phẩm mới, chúng tôi xin trích dẫn vài nhận xét tiêu biểu có từ các
trang mạng nói về cuốn tiểu thuyết này:
Trước hết là nhận xét của nhà văn Nguyễn Bình Phương (in trên bìa 4 của Kín) :
“ Một câu chuyện được kể lại theo nhiều góc và mỗi góc khai thác đến tối đa cá
tính của mình. Điều ấy khiến cho câu chuyên được kể trở nên hấp dẫn bởi sự đa dạng

đạo Mẫu.
Nhưng không dừng lại ở phản ánh, tác giả đi vào lí giải những hiện tượng đời
sống đương đại đặt bên cạnh chiều sâu văn hóa truyền thống để thấy rõ hơn sự khủng
hoảng lạc hướng trong tâm thế và hành động của một bộ phận giới trẻ, cũng là một
phần xã hội. Những đứt gãy văn hóa cũng được tác giả ngầm thể hiện như một tồn tại
trái khoáy của thời cuộc” (Quang Hưng- www.danviet.vn)
Nhà văn Thủy Anna đã có bài đăng trên trang Pháp luật xã hội về cuốn tiểu
thuyết Kín:“ Kín hấp dẫn nhưng không phải là cuốn sách dễ đọc, lại càng không phải
là câu chuyện đọc xong sẽ có một cảm giác nhẹ nhõm thơ thới. Lần đầu tiên một cây
bút 7x đã đề cập đạo Mẫu như một đại diện kết tinh của văn hóa dân gian trong tác
phẩm nhưng lại là một đạo Mẫu mang tính phản biện cho văn hóa sống của lớp trẻ
hôm nay. Tính phiêu lưu kinh dị cũng được dụng công để người đọc dễ dàng thoát ra
khỏi những ám ảnh rợn ngợp của chi tiết, những trang nhật kí như một ám hiện của
nam phóng viên chết trẻ là những cảm xúc tinh khôi, thuần khiết, nhân văn nhưng
thấm đẫm, xa xót và phản tỉnh” ( Thủy Anna- www.phapluatxahoi.vn)
Nguyễn Hữu Quý là người theo dõi sát sao các cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Đình
Tú từ Phiên bản cho tới Kín với những nhận xét: “Nguyễn Đình Tú bám vào cuộc
sống của lớp trẻ hiện nay qua những hờ hững , hoài nghi, chán nản của họ trong một
xã hội đang bị báo động về sự xuống cấp đạo đức, nhân cách với không ít tội phạm,
dối lừa, tráo trở đang có mặt mọi nơi mọi lúc… với những nhân vật như Quỳnh, Kiên,
Bình cáy, Hoàn, Phương để nói lên một điều gì đó lớn hơn về con người như là tổng
hòa các mối quan hệ xã hội, kể từ tác động của lịch sử, tín ngưỡng dân gian, tâm
linh… đến nhận thức, hành vi cụ thể của cuộc sống quanh ta hôm nay” (Nguyễn Hữu
Quý- www.vnweblogs.com)
Những bài phê bình, nhận xét này đã giúp chúng tôi phần nào hình dung được nội
dung và những đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm. Đó cũng là những gợi mở ban đầu
nhưng rất cần thiết để chúng tôi đi sâu tìm tòi, nghiên cứu tác phẩm để tìm ra giá trị tác
phẩm dưới góc độ thi pháp. Tuy nhiên, việc chưa có tiền lệ nghiên cứu về tác phẩm sẽ
là khó khăn cho việc tìm tư liệu để nghiên cứu, tham khảo, kế thừa để tiếp xúc sâu
rộng hơn về tác phẩm. Bởi lẽ, những nhận xét trên chỉ mang tính nhỏ lẻ, quảng bá tác

- Phương pháp đối chiếu – so sánh
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có 3 chương:
Chương 1: Ý thức đổi mới Văn học Việt Nam đương đại nhìn từ quan niệm nghệ
thuật về con người
Chương 2: Những kiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Kín
của Nguyễn Đình Tú
Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người
trong tiểu thuyết Kín của Nguyễn Đình Tú

SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

6

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Ý THỨC ĐỔI MỚI VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
NHÌN TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
1.1. Một vài nét về quan niệm nghệ thuật về con người
Con người là trung tâm điểm của xã hội, bởi vì con người có vai trò to lớn trong
xã hội. Trên tất cả các lĩnh vực: Văn học, xã hội học, mĩ học… đều lấy con người làm
mục đích để hướng đến. Nhắc đến việc phản ánh con người, chắc hẳn chúng ta không
quên nhà thơ, nhà văn Gorky đã từng nói: Con người không phải nhỏ nhen xã hội như
một kẻ nhỏ nhen. Con người là sự kì diệu duy nhất trên trái đất, là kẻ sáng tạo của ý
chí, trí tuệ và tưởng tượng của con người. Như vậy, con người là kết tinh tinh túy của
vũ trụ.
Quan niệm nghệ thuật là một khái niệm rộng, với nhiều nội dung như: Quan niệm
về mục đích nghệ thuật, quan niệm về tác phẩm, về tác giả và hư cấu, quan niệm nghệ

người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức biểu
hiện con người trong văn học tạo nên giá trị thẩm mĩ cho các hình tượng nghệ thuật
trong đó” [35;41]
Sự ra đời của khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người” đã giúp việc
nghiên cứu văn học thoát ra khỏi xu hướng chỉ chú ý đến phương diện khách thể của
nhân vật được miêu tả bao gồm ngoại hình, tính cách, phẩm chất, tâm lí, ngôn ngữ…
Quan niệm nghệ thuật về con người hướng ta khám phá cách cảm thụ và biểu hiện chủ
quan sáng tạo của nhà văn, của chủ thể.
Quan niệm nghệ thuật về con người giúp chúng ta hình dung đầy đủ về tư tưởng
nghệ thuật của nhà văn trong một giai đoạn, một thời kì nhất định. Quan niệm nghệ
thuật về con người một điểm xuất phát để tìm hiểu một nội dung của tác phẩm văn học
cụ thể, đồng thời cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triển, tiến bộ của văn học.
Bởi lẽ, điều chủ yếu trong sự tiến hóa của nghệ thuật và của xã hội nói chung là đổi
mới cách tiếp cận và chiếm lĩnh thế giới và con người. Chính Đôxtôiepxki nhà nghệ sĩ
thiên tài, nhà tư tưởng vĩ đại từng nói: “con người là một điều bí ẩn cần phải khám phá
con người. Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy vì tôi muốn trở thành con người”.
Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng nhận thức phản ánh văn học
nghệ thuật. Khi Macxim Gorky nói rằng “Văn học là khoa học về con người” . Tức
ông quan niệm văn học không là gì khác hơn ngoài phản ánh, thể hiện con người và vì
con người. Bởi vậy không một trường phái văn học nào lại không có bóng dáng con
người. Với tư cách là chủ thể sáng tạo nếu không phản ánh những vấn đề của chính
mình, thì con người vẫn để lại dấu ấn của bàn tay chủ thể. Có thể nói rằng vấn đề con
người trong văn học là một vấn đề vĩnh cữu là mảnh đất mà dấu chân con người đi qua
vẫn không một lần lặp lại. Đi tìm con người trong văn học cũng là một cách đi ngược
lại chính mình, hiểu tâm hồn mình để hiểu tâm hồn người, để người gần người hơn

SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

đa trị với những mấp mé bên làn ranh thiện ác. Trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh
(Bảo Ninh) con người hiện lên ở sự chiến đấu trả lời cho đồng đội “đánh trận trả thù”
và có lúc quá say mê với khói lửa chiến trận đến nỗi trở thành công cụ của chiến tranh,
bị cuốn vào vòng quay vô hình của chiến tranh và tất nhiên không còn khả năng tự chủ
với mình nữa, chỉ còn bạo lực tàn khốc, với chết chóc đau thương.
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

9

Đó là những con người tâm linh, khám phá con người không chỉ là tính cách mà
còn quan tâm đến con người ở cõi tâm linh vi diệu biến ảo. Khám phá những dòng ý
thức và những mạch tiềm thức đan vào nhau như một ma trận cục kì phức tạp trong thế
giới bên trong con người.
Quan niệm nghệ thuật về con người, một phương diện quan trọng của thi pháp
học. Nó là sản phẩm của văn hóa tư tưởng. Quan niệm con người là hình thức đặc thù
nhất cho sự phản ánh nghệ thuật với các hình thái xã hội khác. Cho nên dù quan niệm
con người trong mỗi thời đại có thể khác nhau nhưng vẫn mang dấu ấn thống trị.
Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người tức là tìm hiểu cách nhìn, sự khám phá
lí giải, trình độ chiếm lĩnh con người của nhà văn. Điều này thể hiện trình độ tư duy
nghệ thuật của nhà văn, trong đó ý thức nhân đạo, nhân văn là linh hồn cốt lõi. Tìm
hiểu, nghiên cứu sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Việt
Nam sau 75 để thấy được sự tiếp nối của truyền thống tư duy văn học dân tộc trong
thời kì mới. Đồng thời, góp phần lí giải về con người của nhà văn trong thời kì sau 75.
Tất nhiên, quan niệm về con người không phải là toàn bộ sự sáng tạo của nhà
văn, cũng không xác định toàn bộ giá trị và ý nghĩa của tác phẩm, nhưng vì con người
là đối tượng trung tâm của văn học, M.Gorki đã nói “ văn học là nhân học” văn học
phải hướng đến con người và vì con người, cho nên quan niệm về con người chi phối

niệm nghệ thuật về con người cá nhân trở lại trong văn học nhưng phát triển ở một tầm
cao mới so với văn học giai đoạn 30-45.
Có thể nói, văn học thời kì này đã đưa con người về đúng vị trí và bản chất vốn
có của nó. Bởi con người là tổng hòa các mối quan hệ, con người vừa là điểm xuất
phát, vừa là đối tượng khám phá, vừa là cái mốc cuối cùng của văn học. Nếu trước đây
với cảm hứng sử thi, văn học chủ yếu quan tâm đến con người trong vai trò xã hội thì
cảm hứng chủ đạo của các tác giả trong thời kì này là cảm hứng nhân bản. Văn học
hôm nay lấy con người làm trung tâm, làm chất liệu, làm tiêu chuẩn để soi ngắm mọi
giá trị đời sống “ văn học và đời sống là hai vòng đồng tâm và tâm điểm của nó là con
người” (Nguyễn Minh Châu)
Con người mới được phát hiện ra như một tiểu vũ trụ với những bí ẩn phức tạp,
đòi hỏi những người cầm bút phải có khả năng tìm tòi, phân tích, nhận định. Chính vì
lẽ đó con người được đưa vào văn học để khám phá soi chiếu ở nhiều tầng bậc, nhiều
bình diện, ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng tình cảm và đời sống tự nhiên, bản
năng, khát vọng cao cả và cả những dục vọng tầm thường, con người cụ thể cá biệt và
con người trong tính nhân loại phổ quát. Với cái nhìn mới của nhà văn, con người hiện
ra không còn thuần nhất mà hiện ra trong tính lưỡng diện, đa diện và biến động không
ngừng. Dù vậy, nhà văn vẫn đặt niềm tin vào con người, muốn dùng ngòi bút tham gia
trợ lực cho con người trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, thức tỉnh con
người ý thức, tự vấn để hướng tới hoàn thiện. “Các nhà văn khao khát kiếm tìm câu trả
lời về sự tồn tại của con người không phải như một nhà đạo đức hay một cán bộ tuyên
huấn mà như một nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà văn hóa mong muốn nắm bắt lấy
những chân lí phổ quát về con người. Trên hướng này, văn xuôi sau 1975 đã thật sự có
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

11


linh, vô thức của con người, khai thác “con người bên trong con người”( Ăn mày dĩ

SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

12

vãng của Chu Lai, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Cõi người rung chuông
tận thế của Hồ Anh Thái…)” [30;231].
Văn học nghệ thuật chính là nơi phơi bày cái nhìn về con người. Nhà văn có thể
viết một tác phẩm không có hình bóng của con người nhưng thực ra đằng sau ấy lại
phản ánh con người. Mỗi nhà văn có một cách cắt nghĩa về con người khác nhau. Thế
nhưng tựu trung tất cả các nhà văn đều muốn đi tìm bản chất của con người và đặt ra
những câu hỏi: Con người là gì? Con người đến từ đâu? Con người sống như thế nào?
Con người chết về đâu?...Cho nên khi nghiên cứu tác giả, tác phẩm, nhân vật… cần
bắt đầu quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn đó. Qua quá trình phát triển
của văn học Việt Nam chúng ta có thể nhận thấy rằng: văn học trung đại xoay quanh
con người vô ngã, văn học 1930-1945 có con người bản ngã, văn học 1945- 1975 do
tình hình đặc biệt nên trong văn học nổi bật con người quần chúng. Văn học đương đại
lại bước tiếp văn học 1930-1945 khai thác con người bản ngã, con người đời tư thế sự
với vô số bi kịch.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nói: “cuộc đời vốn đa sự mà con người thì đa
đoan”, mỗi một tác phẩm là sự khám phá quy luật của đời sống, với nhận thức ấy
nhiều tác phẩm của nhiều nhà văn sau 1975 là những cuộc đối chứng với những quan
niệm, nhận thức hạn hẹp chủ quan của một thời trong cách nhìn cuộc đời và con
người. Như đã nói, con người trong thời kì này không đơn chiều mà đa chiều, nhà văn
không ngại khi khai thác những yếu tố nhạy cảm nhất của con người. Cho nên con
người hôm nay được soi chiếu khám phá ở nhiều khía cạnh, mục đích khác nhau, thể

không ít giấy mực viết về một nhà văn trẻ vốn xuất thân từ trường luật. Cùng với
những truyện ngắn hay là kết quả của những giải thưởng văn học liên tục đến với anh.
Sau 10 năm làm việc tại Tạp chí Văn nghệ quân đội, hiện anh là trưởng ban văn
xuôi, một trong những hội viên trẻ tuổi nhất của Hội Nhà văn Việt Nam, là tác giả của gần
chục tập truyện ngắn: Bờ những dòng chảy, Bến không thể nào khác được, Nỗi ám ảnh
khôn nguôi, Những bước nhảy trong đêm, Điệu mambo hư ảo, Đoản khúc mùa thu,
Chuyện lính… anh cũng là tác giả của 5 tiểu thuyết đình đám suốt mấy năm qua, từ tiểu
thuyết Hồ sơ của mộ tử tù, Bên dòng Sầu Diện, Nháp, Phiên bản và gần đây nhất là Kín,
kèm theo đó không chỉ những giải thưởng mà còn đạt kỉ lục về số lần tái bản lại đủ để
khẳng định ngôi vị quán quân số lượng sách trong số các nhà văn 7X hiện nay.
Năn 2002, khi tiểu thuyết Hồ sơ của một tử tù ra đời trở thành tâm điểm văn
chương của năm, sách được xuất bản tới ba lần và sau đó được chuyển thành 11 tập
phim Lời sám hối muộn màng phát sóng trên đài truyền hình Việt Nam.
Năm 2006, anh cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Bên dòng Sầu Diện, in tại Nhà xuất
bản Quân đội, được vào chung khảo giải thưởng Bộ Quốc phòng (2004- 2009).
Năm 2008, Nguyễn Đình Tú cho ra mắt cuốn tiểu thuyết Nháp và lập tức tạo
được một luồng dư luận sôi nổi xoay quanh nội dung của cuốn sách. Sách được in một
tháng đã bán hết, nhà xuất bản lại tiếp tục xuất bản lại lần hai, lần ba, lần bốn trước sự
ngỡ ngàng của chính tác giả. Và mới đây, tháng 10 năm 2009 Nguyễn Đình Tú lại cho
ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ ba với tên gọi Phiên bản. Cuốn sách có 31 khúc được sử
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

14

dụng với ba ngôi kể khác nhau về cuộc sống của cô nữ sinh ngây thơ trong sáng bị
môi trường và hoàn cảnh đưa đẩy nên rơi vào cuộc đời gió bụi giang hồ. Tác giả đã
xây dựng những mâu thuẫn đầy kịch tính với tình yêu và thù hận, thiện và ác, chất



Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

15

hỏi: những ai, cái gì, hoàn cảnh nào đã xô đẩy một con người vốn có “tính bản thiện”
trở thành một kẻ giết người?
Đến tiểu thuyết Nháp, bạn đọc cứ ngỡ như đây là một cuốn tiểu thuyết viết thuần
nhất về sex, bởi lẽ trong hơn 300 trang sách thì có đến gần một phần ba là trường đoạn
nóng bỏng và phập phồng những cảnh huống ái ân. Ngay cả đén những chi tiết tưởng
chừng như đến nôn ọe trong sự lạc thú đồng tính thì ngọn bút của tác giả cũng vẽ rất
khéo, tưởng như dữ dội mà chừng mực, tưởng như sa đà mà biết dừng lại đúng lúc.
Tác giả dẫn người đọc đến những cung bậc sex thật tự nhiên, không nhàm chán nên
thấy dễ chịu và đồng cảm theo diễn biến tâm lí của nhân vật khi vào “cuộc mây mưa”
đầy tâm trạng chứ không bị các hành vi tình dục dẫn dắt một cách thiếu kiểm soát. Với
Nháp, Nguyễn Đình Tú đã chọn cho mình một lối viết xuôi nhưng lại để tạo ra những
nhân vật ngược, ngược ở cách xây dựng nhân vật, ngược ở cách thể hiện tính cách và
ngược cả với việc chuyển tải những thông điệp bằng lối phản biện tâm lí ám ảnh lạc
loài đầy bi kịch. Nguyễn Đình Tú giỏi khắc họa hình ảnh mỗi nhân vật để ta không bị
lẫn lộn giữa nhân vật này với nhận vật kia. Chùm bộ ba nhân vật tên Thảo mà Đại tìm
kiếm có ba nét tính cách khác nhau. Cả ba cô đều có cái tên là Thảo nhưng Nguyễn
Đình Tú đã chọn cho họ những hướng đi riêng nên các nhân vật có sự phát triển tâm lí
đặc thù. Với Phiên bản thì đó là câu chuyện về cuộc sống của những người vượt biển tha
hương cầu thực và những khốn cùng mà họ phải chịu đựng. Nhân vật chính là Diệu và
câu chuyện về quá trình tha hóa trở thành một nữ tặc của chị được kể bằng nhiều góc nhìn
qua các đại từ nhân xưng: thị, ta, em. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng ánh trăng như một
nhân vật đặc biệt để soi chiếu, góp phần làm rõ chủ đề tác phẩm. Nguyễn Đình Tú đã sử
dụng một số kĩ thuật viết của văn học hậu hiện đại để khám phá về một tiểu tự sự độc đáo:
thân phận người phụ nữ trong hành trình sống đã mất đi tính nữ, anh đã xây dựng được

người vượt thời đại.
Nhìn chung, Nguyễn Đình Tú đã nhập cuộc được với con đường mà hiện nay các
nhà văn đang đi theo về sự đổi mới đề tài, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu,
không gian, thời gian… Về phương diện đề tài, tiểu thuyết đã tiếp cận và khai thác sâu
hơn vào các hiện thực hằng ngày, cái đời thường của cuộc sống cá nhân. Nguyễn Đình
Tú đã nhìn thẳng vào những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ phơi bày nó
bàng cái nhìn trung thực táo bạo. Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa
vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân phận. Bước
sang thời kì đổi mới, văn học nghiêng về thể tài thế sự đời tư bởi vậy tiểu thuyết lúc
này đa dạng hơn về nội dung phản ánh, phong phú hơn trong hình thức diễn đạt, tự do
hơn trong cách thức dựng truyện.
Bên cạnh những tiểu thuyết tuân thủ cốt truyện truyền thống là những cốt truyện
dựa trên thi pháp hiện đại. Cốt truyện đã vận động thay đổi trong sự phát triển của thể
loại. Về đọan kết của tiểu thuyết có cả mô hình kết thúc có hậu, kết thúc bỏ ngỏ,
không hoàn kết. Song đều nhằm phân tích lí giải những vấn đề phức tạp và bí ẩn của
con người, cuộc sống đương đại . Cốt truyện từ những năm đổi mới đến nay một mặt
vẫn kế thừa và phát triển đặc trưng của cốt truyện truyền thống, mặt khác tiếp cận với
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

17

tiểu thuyết hiện đại ở những nét tinh tế. Trên nền cốt truyện không có sự tổ chức sắp
xếp theo một trình tự nhất định nên có phần lỏng lẻo thậm chí có khi không thành cốt
truyện, không cần cốt truyện, đời sống nội tâm nhân vật được tập trung khai thác với
nhiều biến thái, suy nghĩ, cảm xúc, tiềm thức, vô thức, mộng mị, hồi ức… đặc biệt là
những đoạn nhân vật độc thoại.
Cấu trúc không gian vì thế cũng có sự đảo lộn, hiện tại xen kẽ vào quá khứ, thủ pháp

Chương 2. NHỮNG KIỂU QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON
NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT “KÍN” CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ
2.1. Kiểu con người lạc loài thân phận
Trong thời đại hiện nay có một quan niệm nghệ thuật nói về con người. Mỗi nhà
văn lại có mỗi quan niệm riêng. Trong tiểu thuyết Việt nam sau 1975, chúng ta đã bắt
gặp nhiều quan niệm về con người khác nhau. Không chỉ thể hiện con người đời
thường, con người tha hóa, con người tự nhiên mà đi vào thế giới tâm linh của con
người thì các nhà văn còn khắc họa con người lạc loài thân phận, kiểu con người lạc
loài thân phận nó như là một dạng thức của kiểu con người cô đơn. Trong mối quan hệ
giữa cá nhân và cộng đồng thì vấn đề con người lạc loài đã trở thành nổi trội. hơn lúc
nào hết, tiểu thuyết là thể loại tập trung và bộc lộ rõ nhất, có hệ thống về các kiểu nhân
vật lạc loài thân phận. Bằng nhiều cách, các nhà văn đã đi vào khám phá những
phương diện khác nhau của sự cô đơn nơi con người.
Nếu như con người trong văn chương giai đoạn 1945 – 1975 là con người tập thể,
xung quanh họ là bạn bè, đồng đội, dân tộc, cộng đồng, nhân loại. Cá nhân con người
nhỏ bé không đáng kể. Con người không có điều kiện để ngắm nhìn tâm hồn mình. Thì
đến giai đoạn văn học sau 1975 đặc biệt là văn học trong thời hiện đại này với quan
niệm con người cá thể, với sự thức tỉnh cá nhân, với nhu cầu tự ý thức, con người có
lúc cảm thấy cô đơn lạc loài và có nhu cầu nói lên trạng thái tâm lý này. Cô đơn lạc
loài vì thế trở thành điểm xoáy thu hút sự chú ý của đại đa số các nhà văn hôm nay. Và
để khắc họa con người cô đơn dẫu có khác nhau đến bao nhiêu nhưng các nhà văn
thường gặp nhau ở một số thi pháp chung. Dĩ nhiên các thi pháp này được đổi mới ở
từng tác giả và bổ sung nhau tạo nên sự phong phú của thể loại. Trong đó độc thoại nội
tâm là biện pháp hữu hiệu nhất để thể hiện con người lạc loài cô đơn. Độc thoại nội
tâm với nhiều dạng (tự bộc bạch, đối thoại với người vắng mặt, độc thoại, dạng nhật
kí, dòng ý thức… ) có khả năng khơi sâu vào nỗi đau câm lặng của con người. Trong
Kín Nguyễn Đình Tú đã xây dựng thành công kiểu con người cô đơn lạc loài với sự
đối thoại với người vắng mặt của nhân vật. Với kiểu con người cô đơn lạc loài chúng
tôi đi vào tìm hiểu các khía cạnh cô đơn lạc loài của nhân vật: lạc loài trong gia đình,
lạc loài cô đơn trong tình yêu tình dục, lạc loài kí ức.

người. Hà Thành không bù đắp thêm phù sa cho tâm hồn Quỳnh mà ngược lại, sa mạc
hóa truy sát bức tử nó. Hải Thành có thể là nơi cứu rỗi tâm hồn Quỳnh chăng? Điều đó
đang nằm ở phía trước trong sự kiếm tìm đầy ẩn ức của Quỳnh.” [43;11]
Chính cuộc sống của mấy năm bụi đời đã để lại những ám ảnh khủng khiếp trong
cô. Có lẽ, chính trạng thái của Quỳnh lúc này đưa Quỳnh đến những ý nghĩ khác nhau
về những người bạn của mình và về chính Quỳnh: “Họ đều đang chết chìm trong cái
hố lầy đen tối và hoang rợ ấy, họ thèm khác có được một đôi cánh tiên để bay lên
không trung và sa xuống một ngôi biệt thự nào đó có những bụi hoa Lam tường để

SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

20

khoát lốt khác. Quỳnh đã hóa lốt khác rồi, nhưng bây giờ lại bay về bên miệng hố và
đang muốn tháo bỏ đôi cánh tiên ra”. [43;337]
Nhưng, hình như bước chân đưa Quỳnh quay về nơi cũ với cảm giác bơ vơ, lạc
lõng. Quỳnh quay lại: “nhưng chốn cũ có vẻ không chữa lành được con tim đang trúng
thương và mỗi lúc trở nên tàn tệ trong Quỳnh. Cánh tiên xếp lại rồi, bây giờ Quỳnh
biết bay đi đâu, về đâu? Liệu còn lốt khác nào nữa không, hay để những mạch máu kia
đứt tung ra và con tim sẽ xám đen lại rồi ngừng đập?” [43;337]
Không chỉ đối với Quỳnh là sự cô đơn lạc loài trong một xã hội ô trọc với phần
khuất tối của nó. Mà đó là cả với bọn trẻ toa tàu năm xưa, là Kiên, Hoàn, Phương…,
những kí ức của quá khứ kéo dần cuộc đời của mỗi nhân vật đến với hiện tại để rồi
mỗi đứa trẻ sống trong nhà ga Hải Thành năm xưa có những ngã rẽ cuộc đời khác
nhau. Đối với Kiên thì cuộc đời đã không ban phát cho Kiên những người cha người
mẹ đúng nghĩa. Kiên là một đứa trẻ mồ côi được người ta vứt trên ghế đá tại ga Hải
Thành, Cô Lan nhặt Kiên về nuôi để rồi cô cũng ra đi để lại Kiên bơ vơ trơ trọi, cuộc

phận chẳng ra gì ấy. Ví như nhóm của thằng Lộc mũ bông chẳng hạn. Chúng là những
đứa trẻ đến từ đâu? Cũng lại từ những vùng quê nào đó, có thể là một vùng biển như
Hoàn, nhưng cũng có thể là vùng chiêm khê mùa thối hay bến tàu, bến xe, bất cứ đâu
cũng có thể có một sinh linh ra đời và bị bỏ quên bên góc đời này” [43;149].
Có lẽ trong những đứa trẻ bụi đời ở ga Hải Thành thì Phương là đứa con gái
phổng phao nhất, nhưng chính cái sự phổng phao ấy làm cho ông bố dượng của
Phương mất hết nhân tính đã hiếp Phương, “lão bố dượng liên tục phải đẩy Phương
vào thế phải sinh hoạt với lão, Phương đã trở nên trầm uất và chỉ có một người bạn
duy nhất để than thở là cậu bé đánh giày nằm ngay trước cửa nhà”. [43;118], trong
Phương hình ảnh gia đình êm ấm đã không còn chỗ nữa rồi thay vào đó là sự cô đơn,
Phương cô đơn trong chính gia đình của mình khi người mẹ cứ theo công việc phải đi
làm xa, để cô gái bé bỏng của mình ở trong ngôi nhà ba tầng cùng với người bố
dượng. Phương bị thiếu thốn tình cảm từ lúc còn bé, bị bố dượng cưỡng hiếp nên dẫn
tới hoàn cảnh hiện nay, cô không còn tin vào tình yêu thương từ phía gia đình nữa mà
thay vào đó là một tâm hồn tổn thương với những khúc gãy trong cuộc đời, cô bé
Phương năm nào phải tự mình bươn chải trước cuộc sống để rồi dấn thân vào con
đường làm phò.
2.1.2. Lạc loài cô đơn trong tình yêu, tình dục
Con người sống trong xã hội nhiều lúc cảm thấy bị lạc loài với mọi thứ xung
quanh mình. Sự cô đơn ấy xảy ra bởi: hoặc là cuộc sống đào thải, chối từ con người
hoặc vì con người không đủ khả năng đáp ứng kịp thời với yêu cầu của cuộc sống,
hoặc chính con người nhận ra được rằng có nhiều điều trong cuộc sống con người
không thể nhập cuộc với nó, không thể chấp nhận để rồi trở nên đối trọng. Chính sự
lạc loài làm cho con người trở nên cô đơn.
Nguyễn Đình Tú đã xây dựng một thế hệ trẻ hiện đại khắc khoải lạc loài trong vô
vọng, để rồi từ đó, từ những vết thương của cuộc đời đứng lên bước tới phía trước dù
không biết ở phía trước là ánh sáng hay bóng tối. Đối với Quỳnh thì cuộc sống mấy
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5



rồi lần lược thất vọng. Quỳnh tìm kiếm đến hoang hoải, mùi mẫm cái mùi của kí ức
nhưng thứ cô nhận được chỉ là sự rỗng rễnh về tinh thần và phờ phạc về thể xác.
2.1.3. Lạc loài kí ức
Sử dụng thời gian, không gian một cách nghệ thuật để khắc sâu trạng thái cô đơn
của nhân vật là thủ pháp quen thuộc của các nhà văn đương đại vẫn làm. Xây dựng
thời gian để thể hiện tâm trạng cô đơn của con người, nhiều tác phẩm đôi khi có quan
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

23

hệ đối lập về thời gian: bây giờ (hiện tại) đối lập với ngày xưa (quá khứ) . Chính con
người cô đơn lạc loài trong con người Quỳnh được nhà văn khắc họa trong một nỗi
đau quá khứ và sự trống rỗng hiện tại luôn giằng xé các nhân vật cô đơn. Quỳnh tìm
tới mộ để gặp mẹ, để tâm sự cùng người mẹ đã chết của mình. Quỳnh nhận ra rằng
chính người mẹ của Quỳnh cũng cảm thấy cô đơn ngay dưới nấm mồ này: “Bố đã xây
cho mẹ ngôi mộ nhỏ nhắn này. Nó nằm thẳng hàng thẳng lối trong sự lãng quên của
người đời và trong sự lãng quên của chính những người thân yêu nhất của mẹ. Bố hầu
như không còn nhớ đến mẹ dù bàn thờ mẹ vẫn đặt trang trọng sát ngay phòng ngủ của
bố trong ngôi nhà có rất nhiều bụi hoa lam tường” [43;12].
Có lẽ nỗi buồn trong Quỳnh theo suốt quãng đời Quỳnh từ những kí ức tuổi thơ,
thuở Quỳnh bị thất lạc mẹ của mình và mang một cái tên được mã hóa “cô bé Lửa
Cháy”, cô bé Lửa Cháy đã được Kiên cứu từ trong miệng cống ngầm “ khi lửa đi xa
rồi, mệt mỏi rồi, lụi tàn rồi, cô bé mới ngóc đầu dậy và đi tìm mẹ. Kiên đã phải lột
trần cô bé ra, dội tới cả chục xô nước lên người mới rửa trôi hết những vết tích hãi
hùng của cơn hỏa hoạn. Nhưng nước chỉ rửa sạch những vết tích bên ngoài thôi. Còn
những vết tích bên trong thì phải rất lâu sau mới nguôi ngoai đi được” [43;107]. Chính
những chấn thương đầu đời xảy ra với Quỳnh, chính từ cái ngày Quỳnh bị lạc mẹ ấy

của mình, Quỳnh thấy “kiếp người chỉ mang thứ màu lễnh loãng phù vân” và “nghĩ
đến sự vô nghĩa của việc có mặt trên cõi đời này”, cô đã “tiêu hết những thứ cuộc đời
ký gửi” và đã đi đến hành động uống 2 viên thuốc ngủ rồi lấy dao lam cắt mạch máu
cổ tay. Buổi sinh nhật lần thứ 20 chính là hành vi Quỳnh tìm đến sự chết lần thứ hai.
Nếu như tìm đến sự chết lần thứ nhất Quỳnh đã hủy hoại mình bằng thể xác thì khi tìm
đến sự chết lần thứ hai cô đã huỷ hoại mình về tinh thần. Màn trình diễn thác loạn và
bệnh hoạn của 12 con giáp chính là nút phóng quả tên lửa huỷ diệt vào chính tâm hồn
cô. Ở biến cố thứ nhất sau lần cháy chợ, khi chui từ dưới cống lên, Quỳnh không biết
mình là ma hay là người, còn ở biến cố thứ hai sau buổi sinh nhật, cô đã thực sự không
còn là người. Khi một người đã vượt qua cái chết thường nhận thức được giá trị của sự
sống, nhưng với Quỳnh, cái sự không chết của cô chỉ càng đẩy cô vào ngõ cụt. Cô đã
thoát xác lần thứ hai để rồi giờ đây cô không còn biết phải sống ra sao trong một ngõ
tối với những bức tường có màu sắc hủy diệt. Không chết. “Vậy con phải sống như thế
nào?”. Quỳnh đã hỏi mẹ như vậy. Phải sống như thế nào? Đó là một câu hỏi không chỉ
của Quỳnh mà còn là của Phong, của Tráng, của những người bạn trong nhóm 12 con
giáp; của Hoàn, của Kiên, của Phương trong nhóm toa tàu ngày nào. Đó cũng là những
trăn trở len lỏi trong những dòng nhật ký tự vấn của cậu phóng viên trẻ Bình cáy như
một nhân chứng của thế hệ.
Có thể nhận thấy, hình ảnh con người cô đơn lạc loài thân phận trong Tiểu thuyết
Nguyễn Đình Tú nói chung và “Kín” nói riêng là những nhân vật thánh thiện lạc loài
giữa một xã hội ô trọc. Con người trong kín luôn sợ hãi hoài nghi, Quỳnh có nỗi sợ hãi
với đám cháy, Phương bị làm nhục thân xác đến nỗi sau này Phương không thể nào rũ
bỏ được nên đã làm gái điếm.

SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Báo cáo tốt nghiệp – Năm IV

25

Trong Tiểu thuyết Kín, có những lúc nhà văn đã nghiêng ngòi bút của mình về
phần vô thức của nhân vật, thế nhưng nhà văn chỉ nghiêng những lúc cần nghiêng mà
thôi. Chẳng hạn như có lúc Quỳnh dự định là sẽ tổ chức sinh nhật vào buổi sáng còn
SVTH: Trương Hoàng Thảo Trang – Văn BK5


Trích đoạn Kiểu con người vô thức, tâm linh 1 Con người của giấc mơ và dục tính Kiểu con người “tha nhân” và hành trình kiếm tìm bản thể 1 Con người “tha nhân” Hành trình kiếm tìm bản thể Người kể chuyện ngôi thứ ba và khả năng chiếm lĩnh hiện thực Kết cấu không thời gian nghệ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status