quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn trầm nguyên ý anh - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

LÊ VĂN PHƯỞNG
MSSV: 6116146

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦM NGUYÊN Ý ANH

Luận văn tốt nghiệp ñại học
Ngành Văn học

Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

CẦN THƠ, 2014


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn ñề tài
2. Lịch sử vấn ñề nghiên cứu
3. Mục ñích nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Diện mạo văn học Đồng bằng sông Cửu Long
1.2. Vài nét về cuộc ñời và sự nghiệp của tác giả Trầm Nguyên Ý Anh

3.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua ngôn ngữ nhân vật
3.3.1. Ngôn ngữ của người lương thiện và ngôn ngữ của người tha hóa
3.3.2. Sử dụng từ ngữ bình dân
3.3.3. Sử dụng từ ngữ biến âm và thành ngữ, tục ngữ

3.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua tâm lí nhân vật
3.4.1. Tâm lí của người lương thiện
3.4.2. Tâm lí của người tha hóa

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn ñề tài
So với sự phát triển nền văn học của nước nhà, nền văn học khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long như “một miền ñất mới ñược khai hoang”, nhưng văn học khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long ñã dần dần thể hiện ñược tên tuổi của mình trên nền văn
học cả nước, có nhiều tác giả với nhiều tác phẩm tiêu biểu như: Dạ Ngân (Gia ñình bé
mọn, Con chó và vụ li hôn), Trang Thế Hy (Vết thương thứ mười ba), Trầm Nguyên
Ý Anh (Đứa con hoang), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh ñồng bất tận), Nguyễn Thị Diệp
Mai (Chuyến xe cuối), Nguyễn Kim Châu (Gió trên ñồng),... Trong ñó, chúng tôi ñặc
biệt quan tâm và chú ý ñến tác giả Trầm Nguyên Ý Anh. Khi mới tiếp cận truyện ngắn
của Trầm Nguyên Ý Anh, chúng tôi ñã thấy ñược những hoài niệm, tâm tư, tình cảm
mà tác giả ñã gửi gắm trong truyện ngắn của mình. Không những thế, trong truyện
ngắn Trầm Nguyên Ý Anh còn là một xã hội ñược thu nhỏ với biết bao niềm vui, nỗi
buồn. Đó là những con người sống lương thiện, sống có hoài bão, ước mơ, họ luôn gắn
bó và vun ñắp cho cuộc ñời thêm tốt ñẹp. Ở ñó con người luôn ñấu tranh ñể vươn lên
cuộc sống, họ khao khát hạnh phúc gia ñình ñơn sơ, giản dị, họ không ñầu hàng trước

thậm chí mất cả mạng sống cho cuộc mưu sinh mà cuộc sống vẫn ngập chìm trong
khốn khó, bần hàn” [16, tr. 7]. Đó là một ñánh giá chân thành của Nguyễn Anh Vũ ñối
với truyện ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh. Đọc truyện ngắn của tác giả ta hình dung
ñược ñâu ñó có số phận của mình trong ñó, nó giống như một sự an ủi, giãi bày của tác
giả ñối với tất cả mọi người.
Bên cạnh ñó, Nguyễn Anh Vũ còn ñánh giá truyện ngắn của tác giả ở khía cạnh
khác hơn, ñó là niềm tin và sự quay lại cuộc sống của con người “truyện ngắn của
Trầm Nguyên Ý Anh người ta vẫn nhận thấy niềm lạc quan, tin tưởng vào sự nhân ái
của con người khi mà, thi thoảng trong tác phẩm của chị vẫn còn nỗi niềm ân hận, tư
tưởng phục thiện của những con người lạc lối, vẫn còn hình ảnh của những số phận
cùng quẫn ñã xích lại gần nhau, dựa vào nhau ñể vượt qua những tháng ngày khốn
khó.” [16, tr. 8].
Trong luận văn Thạc sĩ của Kim Thanh Thiện với ñề tài nghiên cứu Đặc ñiểm
truyện ngắn tác giả nữ Đồng bằng sông Cửu Long sau 1986, truyện ngắn của Trầm
Nguyên Ý Anh ñược người nghiên cứu cảm nhận sâu sắc “ñến với tác phẩm Trầm
Nguyên Ý Anh chúng ta thấy rõ những mâu thuẫn vật chất, những toan tính dục vọng.
Ở ñó, có những con người bất hiếu với cha mẹ ruột của mình, mẹ bất hiếu với con chỉ
vì hận ñời.” [14, tr. 43]. Không gian sông nước miền tây trong sáng tác của Trầm
Nguyên Ý Anh ñược người nghiên cứu cảm nhận với những vẻ bình dị, mộc mạc
“cùng với Nguyễn Ngọc Tư là Trầm Nguyên Ý Anh và Nguyễn Thị Diệp Mai thường sử
2


dụng yếu tố không gian sông nước ñể miêu tả lại ñặc ñiểm của vùng ñất nơi ñây.
Những con sông hiện lên trong tác phẩm thật bình dị và mộc mạc, nó tô thêm vẻ ñẹp
về vùng ñất này.” [14, tr. 59].
Về ngôn ngữ, Trầm Nguyên Ý Anh ñược Lê Xuân ñánh giá là một trong những
bậc thầy sử dụng phương ngữ trong bài viết Phương ngữ Nam Bộ - Nét ñặc sắc của
văn học Đồng bằng sông Cửu Long, cần lưu giữ “sau Hồ Biểu Chánh, nhiều nhà
văn Nam Bộ là bậc thầy sử dụng phương ngữ, như: Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Lê

(2004), Một chuyến ñò (2004), , Ánh mắt (2004), Con vện (2004), Người chuyên viết
ñiếu văn (2004). Bên cạnh ñó chúng tôi còn tìm hiểu thêm một số tác phẩm ñược ñăng
trên mạng ñể nghiên cứu: Đỗ Như Mưa (vnthuquan.net), Hạnh phúc thật gần
(vnthuquan.net)…
Đồng thời, ñể làm rõ quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trầm
Nguyên Ý Anh, người viết còn tham khảo thêm một số tác phẩm của một số tác giả
Nam Bộ cùng thời và những bài nghiên cứu về Văn học Đồng bằng sông Cửu Long
sau 1975 ñể nghiên cứu.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện ñề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử: Thấy ñược quá trình diễn biến và vận ñộng của lịch sử tác
ñộng ñến văn học qua từng giai ñoạn ñể có cách nhìn thấu ñáo và ñúng ñắn về truyện
ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh.
Phương pháp so sánh: Đây là một trong những phương pháp thường ñược dùng
trong các bài nghiên cứu. So sánh ñể thấy ñược nét riêng, cái hay, cái lạ trong quan
niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm của Trầm Nguyên Ý Anh so với những
tác giả khác.
Phương pháp phân tích: Phân chia cái toàn thể của ñối tượng nghiên cứu thành
những bộ phận, những mặt, những cấp ñộ nhỏ hơn ñể nghiên cứu, ñể phát hiện ra từng
thuộc tính và bản chất của từng yếu tố ñó, từ ñó giúp ta hiểu ñối tượng nghiên cứu cụ
thể và sâu sắc hơn.
Phương pháp tổng hợp: Nhằm hợp nhất, gắn kết các ñối tượng ñược nghiên cứu
lại với nhau ñể tìm ra cái chung của ñối tượng.
Bên cạnh ñó, chúng tôi còn kết hợp sử dụng các thao tác như: chứng minh, bình
luận, giải thích… ñể làm sáng tỏ vấn ñề.

4



ngày càng thêm khởi sắc.

5


Đội ngũ sáng tác ĐBSCL ñã tạo cho nền văn học ĐBSCL ngày một thêm khởi
sắc. Bằng chứng là họ ñã tạo ra những tác phẩm ñặc sắc và thu hút sự quan tâm của
ñộc giả như: Đất rừng phương nam (Đoàn Giỏi), Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam),
Gia ñình bé mọn (Dạ Ngân) và ngần ñây nhất là tác phẩm Cách ñồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư.
Đề tài trong văn học ĐBSCL phong phú, ña dạng, tạo cho nền văn học ĐBSCL
nhiều món ăn tinh thần mà thế hệ ñộc giả quan tâm sâu sắc:
Giai ñoạn trước 1975: Văn học ñã thể hiện ñược cuộc sống và chiến ñấu của con
người trong giai ñoạn chiến tranh ác liệt chống Pháp và Mĩ. Đó là số phận của những
con người trong giai ñoạn thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam trong tác phẩm
Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi). Với sự càn quét của thực dân Pháp, người dân
Nam bộ phải di tản khắp nơi, từ vùng này ñến vùng khác ñể sinh sống. Không dễ dàng
như thế, những con người nơi ñây phải chịu ñựng sự càn phá, tra tấn dã man của thực
dân Pháp. Song, với tinh thần quật khởi ñược xây ñắp từ lòng yêu quê hương thiết tha,
người dân Nam bộ ñã ñứng lên ñấu tranh ñể giành lại ấm no, hạnh phúc cho mình. Hay
tác phẩm Hòn Đất (1965) của Anh Đức, tác phẩm ñã tái hiện khí thế ñấu tranh anh
dũng của nhân dân Hòn ñất trước sự xâm lược của Mĩ. Trong ñó nhân vật chị Sứ là nữ
sĩ anh hùng, chị ñã anh dũng chiến ñấu trước sự càn quét của giặc. Qua tác phẩm Hòn
Đất, Anh Đức muốn gửi ñi một thông ñiệp: tinh thần chiến ñấu dũng cảm, kiêng
cường của người dân Nam Bộ nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung trong sự nghiệp
ñấu tranh giải phóng dân tộc nhất ñịnh sẽ giành thắng lợi. Bên cạnh ñó, còn nhiều tác
phẩm khác cũng phản ánh cuộc sống của nhân dân ĐBSCL trước cuộc chiến tranh
kháng chiến chống Pháp và Mĩ: Hai cõi U Minh (Sơn Nam), Bông cẩm thạch, Chiếc
lược ngà (Nguyễn Quang Sáng),…
Giai ñoạn sau 1975 ñến nay: Đất nước bước sang giai ñoạn lịch sử mới. Văn học

lượng nhưng nhìn chung, vẫn là thiểu số so với nền văn học cả nước. Nguyên nhân là
do nhu cầu thị hiếu và nhu cầu ý thức nghệ thuật chưa cao nên không kích thích, khơi
gợi ñược tiềm năng sáng tạo của nghệ sĩ. Vùng ĐBSCL có rất nhiều ñề tài và chất liệu
sáng tác phong phú nhưng chưa ñược các tác giả khai thác triệt ñể, nhiều tác phẩm tạo
ra còn mang tính thời sự, tính ñịa phương, thiếu hơi thở của thời ñại, chưa ñụng chạm
ñến những vấn ñề thiết yếu của nhân dân. Lực lượng sáng tác ĐBSCL còn mang tính
riêng lẻ, chưa có sự thống nhất trong sáng tác.
Đời sống con người: Nhiều tác giả say mê sáng tác văn chương ñến cuồng nhiệt
nhưng trong bối cảnh xã hội mới, con người chịu ảnh hưởng gánh nặng cơm áo hằng
ngày, họ phải sống có trách nhiệm với gia ñình cho nên sáng tác của các tác giả còn
mang tính nhất thời vì họ chưa thể sống bằng nghề viết văn.

7


Lý luận phê bình văn học: Nền văn học ĐBSCL chưa ñược các nhà lý luận phê
bình văn học quan tâm sâu sắc, dường như chỉ loay hoay xoay quanh việc giới thiệu,
ñiểm sách mà thiếu ñi sự phê bình sâu sắc, có chiều sâu. Nhiều tác giả, tác phẩm chưa
ñược các nhà lý luận phê bình quan tâm. Chưa có sự ñánh giá, nhận xét về nền văn học
ĐBSCL, ñiều này có ảnh hưởng rất lớn ñến quá trình nghiên cứu, ñánh giá của ñộc giả
ñối với tác phẩm cũng như tác giả

1.2. Vài nét về cuộc ñời và sự nghiệp của tác giả Trầm Nguyên Ý Anh
Trầm Nguyên Ý Anh tên thật là Trầm Thị Sương, sinh năm 1955, quê ở tỉnh Trà
Vinh. Trầm Nguyên Ý Anh sống và làm việc tại thành phố Trà Vinh, cộng tác với báo
Trung ương và ñịa phương. Là một người giỏi văn, học trường cao ñẳng sư phạm Vĩnh
Long, từng làm giám thị trường cấp 3 ở Vĩnh Long, sau ñó tham gia giảng dạy môn
văn cấp 1 và cấp 2. Trầm Nguyên Ý Anh là một người có nỗi ñau ñời và thăng trầm
trong cuộc sống. Cô từng làm nhiều nghề ñể trang trải cuộc sống, chẳng hạn như bán
cà phê, dạy học,… Hiện tại Trầm Nguyên Ý Anh sống với ñứa con nuôi và tiếp tục

bản chất tốt ñẹp bên trong con người của mình. Bên cạnh ñó, những số phận hẩm hiu,
bấp bênh, bất hạnh của con người trong xã hội ñược tác giả quan tâm sâu sắc, ñặc biệt
là nhân vật phụ nữ và trẻ em. Qua ñó, Trầm Nguyên Anh lên tiếng phê phán, chỉ trích
ñối với những con người tha hóa, ñồng thời ngợi ca những con người có nghị lực sống,
ñám ñấu tranh ñể loại trừ cái xấu, cái ác trong xã hội. Qua ñó, tác giả cảm thông, chia
sẻ với những con người có số phận bất hạnh trong cuộc sống.

1.3. Vấn ñề quan niệm nghệ thuật về con người
1.3.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật về con người, chẳng
hạn như: Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 –
1975 – Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội; Trần Đình Sử (2001), Thi pháp thơ
Tố Hữu – Nhà xuất bản văn hóa – thông tin, Hà Nội; Trần Đình Sử (2002), Văn học
và thời gian – Nhà xuất bản văn học; Trần Khánh Thành (2002), Thi pháp thơ Huy
Cận – Nhà xuất bản văn học; Lê Thị Dục Tú (1997), Quan niệm về con người trong
tiểu thuyết Tự lực văn ñoàn – Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội…
Các nhà nhà nghiên cứu này có ñóng góp rất quan trọng trong việc ñi tìm và giải
mã quan niệm nghệ thuật về con người. Trong các công trình ñó, không thể bỏ qua các
công trình nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người của Trần Đình Sử. Trong
công trình nghiên cứu Văn học và thời gian, Trần Đình Sử ñã ñưa ra quan niệm nghệ
thuật về con người với cái nhìn sâu sắc, ñó là sự cắt nghĩa và quan niệm về con người
bằng hình tượng nghệ thuật “con người trong văn học thực chất là sự cắt nghĩa và
quan niệm về con người ñược thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, trong các bình
diện con người ñược miêu tả, trong tương quan với không gian thời gian và trong các
9


nguyên tắc miêu tả tính cách, tâm lí… Người ta gọi ñó là quan niệm nghệ thuật về con
người” [12, tr. 224].
Trong công trình nghiên cứu Thi pháp thơ Huy Cận, Trần Khánh Thành cũng ñưa



con người của nhà văn”. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ñã ñưa ra những vấn ñề cốt
lõi về quan niệm nghệ thuật về con người góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu
Văn học.
Từ các nhận ñịnh trên, chúng tôi hiểu một cách ñơn giản về quan niệm nghệ thuật
về con người như sau: quan niệm nghệ thuật về con người là sự cảm nhận, lí giải, cắt
nghĩa về con người bằng hình thức nghệ thuật của nhà văn. Tức là, sự cảm nhận, lí
giải, cắt nghĩa ấy của nhà văn phải bằng các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể
hiện con người trong tác phẩm văn học. Nếu không xem xét những vấn ñề ñó thì sẽ
không thấy ñược quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, ñồng thời cũng chưa
lí giải ñược ý nghĩa sâu sắc của hình tượng nhân vật.

1.3.2. Biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người
Con người là ñối tượng của văn học, vì thế con người luôn là yếu tố trọng tâm ñể
nhà văn thể hiện những tâm tư, tình cảm, vấn ñề riêng tư, cá nhân, vấn ñề ñạo ñức, lối
sống của con người. Đi vào từng tác phẩm nhà văn có thể biểu hiện quan niệm nghệ
thuật về con người ở nhiều góc ñộ khác nhau, chẳng hạn như: sự lí giải về số phận
nhân vật, tính cách nhân vật, bản chất nhân vật,… Nhà văn không thể bỏ qua những
biểu hiện này, bởi nó giúp nhà văn thấy rõ quan niệm về con người.
Thi pháp xây dựng nhân vật là biện pháp ñể thấy rõ biểu hiện quan niệm nghệ
thuật về con người. Đó là việc tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật xây dựng nhân vật: ngoại
hình nhân vật, hành ñộng nhân vật, ngôn ngữ nhân vật, tâm lí nhân vật, cách gọi tên,
xưng hô,… ñể từ ñó nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của mình.
Ngoại hình nhận vật: là hình dáng, ñiệu bộ cử chỉ, tác phong bên ngoài của nhân
vật. Đi vào ngoại hình nhân vật sẽ cho thấy ñược bản chất của con người, ñó có thể là
con người sang trọng, giàu có hay là con người nghèo khó, gian khổ, ñộc ác hay hiền
từ,…
Hành ñộng nhân vật: ñi vào phân tích hành ñộng nhân vật ñể thấy việc làm, ứng
xử của từng nhân vật trong tác phẩm, ñể từ ñó thấy ñược những suy nghĩ, tình cảm,

CON NGƯỜI LƯƠNG THIỆN VÀ CON NGƯỜI THA HÓA
Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Trầm Nguyên Ý Anh ñã cho
thấy rõ ñược thế giới của hai con người: con người lương thiện và con người tha hóa.
Con người lương thiện trong sáng tác của tác giả là những con người có cuộc sống vị
tha, cần cù, siêng năng ñể vươn lên cuộc sống, nhưng những con người ấy ñôi khi lại
gặp nhiều bất hạnh. Con người tha hóa trong truyện ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh là
những con người luôn ẩn chứa trong mình những lòng tham, danh vọng, họ luôn ñố kị,
ghen ghét lẫn nhau. Tuy nhiên, trong những con người tha hóa này còn là những con
người có phẩm chất tốt ñẹp, nhưng chính cuộc sống ñã ñưa ñẩy họ ñến bước ñường
cùng và buộc họ phải trở nên tha hóa. Truyện ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh ñã ñáp
ứng kịp thời nhu cầu thiết yếu của xã hội, nó giống như một xã hội ñược thu nhỏ mà
con người là trung tâm của cái xã hội ñó.

2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người lương thiện
2.1.1. Con người là con người sống vị tha
Con người vị tha là con người biết sống vì người khác, luôn hi sinh, quan tâm và
giúp ñỡ cho người khác, họ sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm của người khác ñể mối
quan hệ giữa con người với con người ngày càng tốt ñẹp, con người gắn bó chặt chẽ và
yêu thương nhau hơn.
Trong truyện ngắn Trầm Nguyên Ý Anh, con người vị tha là những con người
luôn hi sinh hạnh phúc riêng tư của mình ñể chăm lo ñến những người xung quanh
mình. Họ sẵn sàng dang rộng vòng tay ñể bỏ qua những lỗi lầm của những kẻ ñã từng
ñối xử tàn nhẫn với mình. Đó còn là những con người có số phận nghèo khó, nhưng họ
vẫn gắn bó, cưu mang, ñùm bọc lẫn nhau. Trong tận cùng cái khổ, cái khó khăn, con
người luôn hướng về nhau. Đây là một phẩm chất mà không phải người nào cũng có,
chỉ có những người có trái tim biết yêu thương, biết nghĩ ñến người khác mới có ñược
phẩm chất ñáng quý ấy. Trầm Nguyên Ý Anh ñã thể hiện những con người như thế, ñó
là Trực (Khoảng cách), Ông Tư, Út Nhu (Nghiệp ñời còn ñó), Út Son, Già Bảy (Kiếp
nhân sinh), Mến (Nước mắt ñàn ông),…
Trong truyện ngắn Khoảng cách, Trực ñã nghỉ học sớm ñể phụ giúp gia ñình

nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Đó là những con người biết bỏ qua những lỗi lầm của người
khác, biết giúp ñỡ và sẵn sàng cho họ một con ñường, một cơ hội ñể sửa chữa lại lỗi
lầm. Đó là ông Hoạch trong tác phẩm Cũng một kiếp người, cuộc sống của ông rất
khó khăn, nhưng ông luôn mang trong mình một tấm lòng bao dung mà mấy ai có
ñược. Ông Hoạch ñã bắt kẻ ăn trộm vịt của mình, chẳng những ông không ñánh ñập,
chửi bới, ngược lại ông còn ñối xử tốt ñối với kẻ này “ông vấn rồi ñưa cho gã. Gã phì
phèo ñiếu thuốc trên môi” [16, tr. 338]. Không những thế, ông còn trò chuyện một
14


cách thân mật ñể ông biết rõ hơn hoàn cảnh gia ñình của hắn “chú mày có vợ con
chưa?” [16, tr. 339]. Cuối cùng hiểu ñược câu chuyện về hoàn cảnh của hắn nên ông
ñã quyết ñịnh tha thứ ñể hắn làm lại cuộc ñời “bây giờ qua cởi chói thả cho ñi. Về
ráng kiếm cách làm ăn. Có khó khăn gì thì nói với cô bác người ta tìm cách giúp cho”
[16, tr. 350]. Và một ñiều ñáng nói hơn là ông không chỉ bỏ qua lỗi lầm của hắn mà
ông còn giúp ñỡ hắn bằng chút tiền ít ỏi mà ông ñã mài công làm lụng “ông nói xong,
móc từ trong tui áo bà ba ra ít tiền dúi vào tay gã.” [16, tr. 350]. Có thể nói, ông
Hoạch là người sống hết lòng vì người khác, biết nhìn nhận sự việc một cách toàn
diện, sẵn sàng tha thứ và cho người khác cơ hội ñể làm lại cuộc ñời. Từ ông Hoạch,
Trầm Nguyên Ý Anh ñã cho thấy rằng: con người hãy biết bỏ qua và tha thứ những lỗi
lầm của người khác, hãy cho họ một cơ hội ñể làm lại cuộc ñời, ñừng ñẩy họ vào con
ñường bế tắc. Điều làm cho xã hội này tốt ñẹp, mối quan hệ giữa người với người tốt
ñẹp hơn khi người ta biết ñối xử với nhau bằng lòng nhân ñạo và sự cảm thông.
Trong truyện ngắn Trầm Nguyên Ý Anh, tấm lòng vị tha của con người còn ñược
thể hiện trong sự hi sinh hạnh phúc cá nhân của con cái ñối với cha mẹ ñể cho gia ñình
mình ñược ấm no, hạnh phúc. Đó là sự hi sinh hạnh phúc của những cô gái còn quá
ngây thơ, chưa ñến tuổi lấy chồng, nhưng vì chữ hiếu nên những cô gái ấy phải hi sinh
hạnh phúc riêng của mình ñể ñổi lấy hạnh phúc chung cho gia ñình. Út Son (Kiếp
nhân sinh) vì ñể cứu cha và người thân của mình tránh khỏi ñại nạn từ tên Quan
huyện nanh ác nên cô ñã bằng lòng lấy Quan huyện làm chồng trong khi cô chẳng biết

những vấn ñề mà xã hội ñang diễn ra hằng ngày mà chưa ñược quan tâm nhiều ñến.
Trong từng trang viết của tác giả, cái nghiệp không phải là những gì cao siêu, thần
thánh mà là những cái rất ñỗi bình thường, giản dị trong cuộc sống. Đọc truyện ngắn
của Trầm Nguyên Ý Anh, ta thấy những con người chân chất, hiền lành, sống gắn bó,
giúp ñỡ lẫn nhau và khi họ ñã lựa chọn cho mình một cái nghề gì ñó thì họ gắn bó,
sống hết mình vì nó, dù cuộc sống khó khăn, gian khổ nhưng họ quyết không từ bỏ.
Không những thế, ñối với tác giả, cái nghề không chỉ ñơn thuần là giúp con người
bươn chải ñể có miếng ăn trong cuộc sống mà cái nghề còn là nơi con người thực hiện
niềm ñam mê, sở thích, ñó là cả tâm huyết gầy dựng nên cái nghiệp mà con người ñã
gắn bó và sẽ gắn bó suốt ñời. Trong truyện ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh ñã ñề cập
không ít ñến vấn ñề cái nghiệp của con người, tác giả ñã cho thấy những niềm vui, nỗi
buồn của con người khi theo ñuổi cái nghiệp, thậm chí ñó là những thăng trầm, khó
khăn, vất vả mà con người phải ñối mặt. Tưởng như khi ñối mặt với những khó khăn,
thăng trầm ấy thì con người sẽ trở nên yếu ớt khó có thể vượt qua, nhưng với bản chất
mạnh mẽ, yêu nghề, thêm vào ñó là sự cần cù, chịu thương chịu khó vốn có của người
dân Nam Bộ, họ ñã vươn lên trước những thách thức với mong muốn sẽ tìm ñược hạnh
phúc cho riêng mình và cho người khác. Đó là ông Tư, Hai Quân, Út Nhu (Nghiệp ñời
còn ñó), Hạnh (Lẽ vô thường), Út Chầu (Nghiệp ñời),… họ là những người ñã gắn bó
16


suốt cuộc ñời mình với cái nghiệp, có thể nói họ ñã hóa thân mình vào cái nghiệp, xem
ñó là lẽ sống cho mình.
Trong tác phẩm Nghiệp ñời còn ñó, nhân vật là những người ñã bỏ cả cuộc ñời
mình ñể gắn bó với cái nghề. Ông Tư ñã dìu dắt gánh xiếc của mình ñi khắp nơi ñể
biểu diễn, họ ñến với nghề xiếc không chỉ vì miếng cơm, manh áo mà còn cả lòng ñam
mê với những trò biểu diễn ñặc sắc. Họ là những con người “giữ lửa và truyền lửa”,
lưu lại những nét văn hóa của dân tộc, ñó là những ñường quyền ñầy khí phách của
ông Tư, tiết mục vận công dũng mãnh của chú Hai Quân, những ñường dao ñiệu nghệ
của anh Hai, bản lĩnh gan dạ và hùng hồn của Út Nhu, ñó còn là trò hề của những chú

quyền. Anh không bỏ một buổi tập nào. Anh ñã nhập vào cái nghiệp võ này rồi. Anh
nhớ ông Tư, nhớ những ngày hai chú cháu bên nhau tập từng ñường quyền, từng
ñường roi, từng bộ tấn. Mấy con vật cũng không yên. Chúng cũng diễn trò y như lúc
ông tư còn sống. Út Nhu và Cương không ai bảo ai lại bắt ñầu tập dượt.” [16, tr. 271 272].
Không những thế, trong truyện ngắn của Trầm Nguyên Ý Anh ta còn thấy ñược
những con người hi sinh hạnh phúc riêng của mình ñể theo ñuổi cái nghiệp. Đó là Út
Nhu, cô không vì hạnh phúc cá nhân của mình mà lại bỏ cái nghiệp mà cô ñã cùng với
mọi người chung sống với nó. Cô từ chối tình cảm của Chánh ñã dành cho cô ñể gắn
bó với gánh xiếc“Nó ñã quyết ñịnh theo ñoàn ñi diễn. Cái nghiệp này ñã gắn liền với
cuộc ñời nó, không thể rời xa. Buổi sáng nhà Chánh qua dạm hỏi, nó kiên quyết trả lời
là chưa muốn lập gia ñình, là nó vẫn thích ñi diễn hơn” [16, tr. 277]. Bên cạnh Út Nhu
từ chối tình cảm của Chánh ñể theo ñuổi cái nghiệp còn có Hai Quân, anh ñã không
màn gì ñến chuyện vợ con, anh chỉ mê cái nghề mà ông Tư ñã truyền lại và anh sẽ suốt
ñời gắn bó với nó “Hai Quân ñã thay thế ông trong tiếc mục “vận công”. Tội nghiệp,
nó ñã quá mê luyện võ mà không nghĩ gì ñến chuyện vợ con.” [16, tr. 270]. Đó là
những con người yêu nghề và quyết tâm gắn bó với cái nghề như gắn bó với cuộc sống
hằng ngày. Họ có thể tạm gác hạnh phúc riêng tư của mình ñể theo ñuổi cái nghề.
Con người gắn bó với cái nghiệp còn ñược thể hiện qua nhân vật Út Chầu (Nghiệp
ñời), chị là một người phụ nữ nghèo khó, và càng khó khăn hơn khi chị cưu mang
những ñứa con của mình với những ñồng tiền ít ỏi mà chị ñã kiếm vất vả trong những
ngày ñi hát. Nghề ñi hát của chị ñược kế thừa từ người mẹ của mình. Giờ ñây, chị ñã
thành thạo và gắn bó với cái nghề này hơn, chị thường ñược mời ñi hát trong các ngày
lễ, hội hè, ñặc biệt là hát ở ñình lớn. Chính cái nghề ñi hát mà Út Chầu ñã ñem lại
miếng ăn cho những ñứa con của mình bằng những thứ bánh trái mà chị mang về. Và
ñặc biệt hơn nữa, chính cái nghề mà chị ñang gắn bó ñã ñem lại những giây phút thoải
mái, lãng quên ñi những ngày tháng cực nhọc của chị “tiếng trống chầu, tiếng kèn,
tiếng nhạc ñã làm chị quên ñi cái nghèo và nỗi cô ñơn của mình. Thỉnh thoảng chị lại
18



của mình, một người có nghị lực sống ñể theo ñuổi cái nghề, bỏ cả tâm huyết của mình
vào dạy học, gắn bó sâu sắc với ngôi trường.
19


Không những vậy, quan niệm về con người gắn bó với cái nghiệp ñược Trầm
Nguyên Ý Anh nhìn nhận với góc ñộ mới hơn, ñó là con người phải ñối mặt với những
mặt trái của cái nghề mà mình ñang say mê nó. Đằng sau những niềm vui, hạnh phúc
trước cái nghề lại ẩn chứa không ít sự xuống cấp ñạo ñức của con người. Đó là ông
giáo trong Người chuyên viết ñiếu văn, ông ñã gắn cuộc ñời mình vào cái nghề viết
ñiếu văn, tuy ñây là cái nghề không mấy ñắt khách, vì có ai muốn chết bao giờ. Nhưng
ñối với ông giáo, nghề viết ñiếu văn ñã ñem lại những niềm vui riêng, ông bỏ rất nhiều
công sức vào nó “tôi làm công việc này không phải vì tiền ñâu! Nhưng nó có cái hay
của nó. Mỗi người chết phải có một lí lịch bản thân họ thông qua những người thân
trong gia ñình, ñể tôi “nắm” ñược phần ñời của họ mà viết. Rồi phải viết theo yêu cầu
của người sống. Viết làm sao hay thì thôi. Dần dần tôi ñâm ghiền chú ạ!” [16, tr. 388].
Trong suốt cuộc ñời ông gắn bó với nghề viết văn, tuy nó ñã ñem lại cho ông nhiều
niềm vui, hứng thú trong cuộc sống, nhưng ở ñây ông cũng ñã nhận ra những mặt trái
của nó, ñó là sự giả dối của con người, sống họ luôn ñề phòng, nhòm ngó lẫn nhau mà
khi chết ñi thì họ nhờ tới ông ñể viết những bài ñiếu văn thật bi ai ñể thể hiện tấm lòng
thành kính của mình ñối với người chết “chú có biết qua bao năm làm cái nghề viết
ñiếu văn, tôi ñã tường tận bao nhiêu mặt trái của sự ñời: người ta ñối xử ñộc ác với
nhau, người ta tranh danh ñoạt lợi, giành giựt nhau từng cái chỗ ngồi, từng chút
quyền lợi. Người này mài dao, kẻ kia nạp ñạn, họ chỉ chực chờ ñể tìm một chút sơ hở
mà hạ ngục ñối phương. Vậy mà, khi có một người chết, lập tức họ tổ chức ñám tang
thiệt lớn, họ biểu tôi viết ĐIẾU VĂN thật bi ai, họ ñăng báo chia buồn, họ viết lời
thương tiếc…” [16, tr. 390]. Ở ñây, quan niệm của tác giả cho chúng ta thấy rằng
những cái ñã gắn bó, ñi theo con người suốt một chặng ñường dài thì con người khó
mà bỏ nó ñược. Qua ñó cho thấy rằng, ông giáo là một người yêu quý và sống hết lòng
với cái nghề.

hạnh phúc của cha mẹ của Nghĩa trong Đứa con hoang, Trực trong Khoảng cách và
ñứa trẻ ngây thơ trong Trở về cõi tục, sự khát khao có ñược miếng ăn trong Nghiệp
ñời,…
Lâm trong tác phẩm Đất dung thân, có cuộc sống khó khăn, anh phải nghỉ học
sớm ñể theo cha mưu sinh cuộc sống, từ ñây anh không còn ñược gặp gỡ người mà
anh yêu thích như trước kia nữa, thời gian xa cách và mọi thứ ñã thay ñổi nhưng chỉ có
tình cảm anh dành cho Trâm là không thay ñổi, anh luôn suy nghĩ và nhớ về Trâm, và
mỗi khi có dịp về lại ngôi nhà của mình thì việc trước tiên là Lâm ñi tìm Trâm. Anh
không thể nào kiềm chế ñược cảm xúc của mình khi ñã một thời gian dài xa cách Trâm
“Lâm bước tới bên Trâm và cuồng nhiệt nắm lấy hai bàn tay nó. Anh siết mạnh mà
nghe lòng rộn rã.” [16, tr. 330]. Niềm khao khát tình yêu của anh ñối với Trâm còn
ñược anh thể hiện trong những suy nghĩ của anh, anh muốn cùng với người mình yêu
ñể xây dựng hạnh phúc “anh muốn nói với Trâm hãy chờ anh. Một ngày nào ñó anh sẽ
21


về hỏi cưới Trâm” [16, tr. 332]. Niềm khao khát hạnh phúc của Lâm ñược thể hiện
bằng sự thủy chung, chờ ñợi trong tình yêu của Lâm ñối với Trâm, niềm ước mơ xây
dựng hạnh phúc tốt ñẹp.
Trong tác phẩm Cũng một kiếp người, Trầm Nguyên Ý Anh thể hiện góc nhìn
khác hơn, ñó là sự ñợi chờ hạnh phúc của con người và họ ñược sống với nhau. Niềm
khát khao hạnh phúc với người mình yêu ñược thể hiện qua Hoạch, anh là một người
cần cù, siêng năng, sống hiếu thảo với mẹ, anh thương Nổi bằng cả tấm lòng của mình
nhưng anh không dám thổ lộ với Nổi vì sợ cô không thương anh. Sự yêu thương của
anh dành cho Nổi ñược giấu kĩ trong lòng. Một hôm anh ñã nhận ra ñược người mà
anh thương yêu cũng thương yêu anh, anh cảm thấy cuộc ñời này tươi sáng, một niềm
hi vọng vào cuộc sống dâng tràn:“thằng Hoạch chợt hiểu ra. Nó bỗng thấy cuộc ñời
sao tươi ñẹp quá! Màu nắng trên sông cũng thấm tươi hơn. Thì ra con Nổi cũng
thương nó mà từ lâu nay nó không hay biết gì. Nó nhìn con Nổi ñang rấm rứt khóc. Nó
nhích lại gần và choàng tay qua vai, ôm nhẹ con Nổi vào lòng.” [16, tr. 341]. Tình yêu


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status