Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LA THÚY VÂN
BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG
SÁNG TÁC CỦA CAO DUY SƠN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC :
PSG.TS ĐÀO THỦY NGUYÊN
Thái Nguyên - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Cấu trúc luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chƣơng 1 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC.
NHÀ VĂN CAO DUY SƠN TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC DÂN
TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN - ĐƢƠNG ĐẠI 8
1.1. Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc 8
1.1.1. Khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc 8
1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học 11
1.2. Nhà văn Cao Duy Sơn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
hiện - đương đại 15
1.2.1. Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đương đại 15
1.2.1.1. Từ 1945 đến 1975 16
1.2.1.2. Từ 1975 đến nay 19
1.2.2. Nhà văn Cao Duy Sơn 25
1.2.2.1. Tiểu sử và con người 25
1.2.2.2. Sự nghiệp sáng tác của Cao Duy Sơn 28
Chƣơng 2 32
NHỮNG MẠCH NGUỒN CẢM HỨNG MANG ĐẬM BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA CAO DUY SƠN 32
2.1. Cảm hứng về thân phận con người, về tâm hồn và tính cách đồng bào dân
tộc thiểu số 32
2.1.1. Con người với số phận bất hạnh 32
2.1.2. Con người dũng cảm, lạc quan, giàu sức sống 37
2.1.3. Con người trung thực, thủy chung, giàu lòng vị tha 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một vấn đề
rất quan trọng đặt ra là giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế. Việc
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc
phát triển đất nước nói chung và trong sự phát triển văn học nói riêng.
So với lịch sử của nền văn học nước nhà thì văn học các dân tộc thiểu số
Việt Nam hiện đại còn rất trẻ. Gần bảy mươi năm hình thành và phát triển, nó
đã thực sự trở thành một bộ phận khăng khít, độc đáo, đặc sắc; đã có sự phát
triển phong phú, đa dạng và đóng góp lớn vào diện mạo chung của nền văn học
dân tộc. Nhiều tác phẩm văn học dân tộc thiểu số đã giành được những giải
thưởng cao và được dư luận xã hội đón nhận nồng nhiệt.
Cao Duy Sơn là một trong số những cây bút tiêu biểu của mảng văn học
dân tộc thiểu số đương đại. Sáng tác của ông mang đậm bản sắc văn hóa dân
tộc ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật. Có lẽ đó cũng là lí
do chính khiến nhà văn giành được nhiều giải thưởng cao và có giá trị: Giải A
giải thưởng Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 1993 với
tiểu thuyết Người lang thang; Tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm
1997 với tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu; Giải B của Hội văn
học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2002 với tập truyện ngắn
Những đám mây hình người. Giải A Giải thưởng Văn học nghệ thuật các dân
tộc thiểu số Việt Nam năm 2007 với tiểu thuyết Đàn trời; Giải thưởng của Hội
Nhà văn Việt Nam năm 2008 với tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Đặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
biệt là vào năm 2009, ông đã nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á
cũng với tập truyện ngắn này.
Tuy nhiên cho tới nay sáng tác của Cao Duy Sơn chưa được nghiên cứu
nhiều. Đặc biệt là vấn đề bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn chưa
được chú ý tìm hiểu như một vấn đề chuyên sâu, chuyên biệt.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Bản sắc văn hóa
Đây là “tập truyện viết về cuộc sống của những con người miền núi chân chất,
mộc mạc, với những nét văn hóa đặc trưng Đọc tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa
bên suối độc giả sẽ có dịp tìm hiểu thêm về những phong tục độc đáo của người
dân ở thị trấn Cô Sầu” [22].
Nhà văn Trung Trung Đỉnh đã bày tỏ cảm xúc của mình khi đọc những
truyện ngắn đầu tiên của Cao Duy Sơn trong bài Cao Duy Sơn - từ chú cầy
hương đến chàng săn gấu rừng già. Điều khiến ông nhớ mãi trong những
sáng tác ấy chính là “cái không khí miền núi vừa mơ mơ màng màng lại vừa
sâu hun hút bởi vẻ đẹp của thiên nhiên quyến rũ con người ta, lôi kéo con
người ta, nâng đỡ con người ta từ chốn thâm nghiêm huyền bí của rừng già,
hang thẳm, đến khi trở về với cuộc sống tự nhiên, hồn nhiên của cộng
đồng Văn Cao Duy Sơn giàu hình ảnh, giàu chất say của người say thiên
nhiên”[29,486-487]. Theo tác giả: cái không khí miền núi ấy phần nào góp
phần thể hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn.
Tác giả Phan Chinh An trong bài Đi tìm vẻ đẹp của hoài niệm cũng đề
cập tới tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Ông cho rằng với tập truyện
ngắn này, Cao Duy Sơn đã “thực hiện một cuộc hành hương tinh thần tìm về
những vẻ đẹp xưa của núi Phijia Phủ, của lũng Cô Sầu với ước mơ cháy bỏng
“giới thiệu được vùng quê nghèo khó ấy, ghi danh nó trong văn học”. Đến với
Ngôi nhà xưa bên suối, người đọc sẽ được “làm quen với những địa danh xa
lạ như suối Cun, Páo Lò, Âu Lâm, bản Niểng, Nhòm Nhèm, Háng Vài, Pác Gà,
Cổ Lâu cảm nhận không khí, hương vị miền núi “rất Tày”. Cái không khí,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
hương vị rất riêng ấy trước tiên lan tỏa trong nhiều tập tục tôt đẹp”, sau đó là ở
“vẻ đẹp tâm hồn và tính cách con người dân tộc Tày”[1].
Nguyễn Minh Trường trong luận văn thạc sĩ Ngữ văn Truyện ngắn về
đề tài dân tộc miền núi phía Bắc (qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ
Bích Thúy và Nguyễn Huy Thiệp) đã đi sâu tìm hiểu hình tượng cuộc sống và
gũi với cách nói của người Tày, đồng thời cũng thể hiện một khẩu khí, một thái
độ sống rõ ràng, dứt khoát của họ. Ông biết điểm vào những trang viết những
chi tiết , những câu chữ, những từ đắt nhất, tiêu biểu, gần gũi gắn bó máu thịt
với người Tày mà tiếng Việt không biểu hiện được” [50].
Trong cuốn Tuyển tập văn xuôi dân tộc và miền núi thế kỉ XX, Lâm
Tiến lại chú ý tới nghệ thuật xây dựng nhân vật của Cao Duy Sơn. Ông cho
rằng: Trong sáng tác của nhà văn này, “hình tượng con người lao động miền núi
cao lớn, mạnh mẽ, khỏe khoắn” được thể hiện “một cách cụ thể, sinh động, tinh
tế như nó vốn có”. Nhân vật của Cao Duy Sơn “thường có đời sống nội tâm
phong phú, phức tạp, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại lặng lẽ, kín đáo” [26,12].
Phạm Duy Nghĩa trong Luận án tiến sĩ Ngữ văn Văn xuôi Việt Nam hiện
đại về dân tộc và miền núi cũng đề cập tới nghệ thuật xây dựng nhân vật của
Cao Duy Sơn. Anh cho rằng, so với nhân vật của Vi Hồng thì các nhân vật của
Cao Duy Sơn “phức tạp và đa diện hơn”. Nhiều nhân vật trong sáng tác của ông
“đều là những mảnh vụn đời tư với tất cả cái dở dang, bề bộn, phồn tạp của
cuộc đời”. “Với những thăng trầm ở mọi thân phận, các nhân vật của Cao Duy
Sơn thiên về loại nhân vật số phận hơn là nhân vật tính cách, tuy là nhà văn vẫn
có ý thức tạo cho mỗi nhân vật một nét cá tính và ngôn ngữ riêng”[30,115].
Một thế giới nhân vật “phân cực” trong sáng tác của Cao Duy Sơn đã
được Đinh Thị Minh Hảo chỉ ra trong Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Truyện ngắn
Cao Duy Sơn. Tác giả luận văn khẳng định: Đó là “một thế giới “phân cực”
thiện - ác đối kháng và một kết thúc có hậu. Trong thế giới ấy các nhân vật
chính diện đẹp từ ngoại hình đến tâm hồn. Các nhân vật phản diện lại xấu xa
về nhân cách và dị dạng méo mó về ngoại hình” [10].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
PGS. TS Đào Thủy Nguyên trong bài Cội nguồn văn hóa dân tộc trong
truyện ngắn Cao Duy Sơn đã rất quan tâm đến những dấu hiệu của bản sắc văn
hóa dân tộc trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Đó là giọng văn, là ngôn ngữ,
tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn trên cả hai phương diện: nội dung và hình
thức nghệ thuật. Từ đó khẳng định phong cách riêng và đóng góp của Cao Duy
Sơn cho mảng văn học dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn học Việt Nam hiện
đại nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê, phân loại
5.2: Phương pháp phân tích
5.3: Phương pháp khái quát, tổng hợp
5.4. Phương pháp so sánh, đối chiếu
6. Đóng góp của luận văn
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện vấn
đề bản sắc văn hóa dân tộc trong toàn bộ sáng tác của Cao Duy Sơn. Từ đó
chúng tôi hướng tới một sự đánh giá đầy đủ và khách quan hơn về những thành
công và hạn chế trong sáng tác của Cao Duy Sơn; Đóng góp của nhà văn trong
việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; Vị trí của nhà văn trong tiến trình phát
triển của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và trong lịch
sử văn học Việt Nam hiện - đương đại nói chung.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết về bản sắc văn hóa dân tộc. Nhà văn Cao
Duy Sơn trong dòng chảy của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện - đương đại.
Chương 2: Những mạch nguồn cảm hứng mang đậm bản sắc văn hóa
dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn.
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc
trong sáng tác của Cao Duy Sơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
PHẦN NỘI DUNG
9
cứu để đưa ra một khái niệm Văn hóa mang tính tổng quát nhất: “Văn hóa là
mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một số cá nhân hay một tộc
người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô
hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất
chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện
thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa
chọn của các cá nhân hay tộc người khác [31,19].
Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm
đưa ra khái niệm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ” [52,10]. Có thể
thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng. Theo đó, Văn hoá được hình thành
từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình
thành loài người). Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể)
và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong hành trình lịch sử.
Tháng 7 năm 1982, Hội nghị quốc tế về Văn hóa ở Mehico đã thống
nhất đưa ra một định nghĩa về Văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn
hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn
hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản
của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. Khái
niệm này vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừa nói đến hệ giá
trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt …về văn hoá của một xã hội hay
một nhóm người trong xã hội” [31].
Có thể thấy, Văn hóa là một khái niệm rộng. Và mỗi một quốc gia, dân tộc
dù lớn hay nhỏ cũng đều có bản sắc văn hóa của riêng mình. Khái niệm bản sắc văn
hóa được nhà nghiên cứu Phan Ngọc khẳng định: “Nói đến bản sắc văn hóa là nói
đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển của lịch sử” [31,34].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
nước…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện
mang tính dân tộc độc đáo” [56,31]. Theo sự đánh giá của tác giả cuốn sách thì
đây là một “quan niệm xác đáng và toàn diện nhất”.
Mỗi quốc gia, dân tộc đều có lịch sử hình thành gắn với một nền văn hóa
nhất định. Do vậy mà bản sắc văn hóa dân tộc chính là “cái biểu hiện tập trung
diện mạo dân tộc, cái để nhận diện một dân tộc” [25,1159]. Vì lẽ đó mà khi nói
đến bản sắc văn hóa dân tộc là nói đến “hình thức biểu hiện mang tính dân tộc
độc đáo là tiếng nói dân tộc, là tâm lí, nếp tư duy, là phong tục tập quán, là
hình thức nghệ thuật truyền thống” [25,1160]. Mỗi một người nghệ sĩ trong quá
trình sáng tạo nghệ thuật đều có ý thức chắt lọc bản sắc văn hóa dân tộc để biến
nó thành cái riêng, nét riêng trong sáng tác của mình. Nhiều nhà văn dân tộc
thiểu số đã rất thành công trong việc tập trung miêu tả những nét bản sắc của
dân tộc mình để từ đó độc giả có thể nhận ra diện mạo dân tộc mà họ phản ánh.
Có thể nói, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một hành
động thiết thực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam trong
thời kì hiện nay. Bởi “chính bản sắc dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, phát
triển qua tất cả sự biến động của lịch sử. Nhờ bản sắc dân tộc, chúng ta biểu lộ
được một cách toàn vẹn sự hiện diện của mình trong giao lưu với quốc tế. Giữ
gìn được bản sắc dân tộc là góp phần chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa.
Targo đã từng nói “Có thể vượt qua thế giới lớn lao của loài người không phải
bằng cách tự xóa mình đi mà bằng cách mở rộng bản sắc của mình”. Giá trị
của một dân tộc, bắt đầu từ chính bản sắc của nó. Do đó, nghiên cứu bản sắc
dân tộc của một dân tộc là góp phần khẳng định sự trường tồn của dân tộc
trong giao lưu văn hóa” [56,25].
1.1.2. Bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học
Văn học nghệ thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hoá.
Thực tiễn cuộc sống và nền văn hoá dân tộc là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh
bản sắc dân tộc Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Bên cạnh đề tài thì bản sắc dân tộc còn được thể hiện qua chủ đề. Chủ đề
và tư tưởng là hạt nhân cơ bản của nội dung tác phẩm. Nhà văn thông qua chủ
đề tư tưởng để phản ánh lí tưởng thầm mĩ, tinh thần, ý chí, khát vọng của dân
tộc mình. Đến với những tác phẩm như Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt),
Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) ta sẽ nhận
thấy được những yếu tố mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Đó chính là tinh
thần yêu nước nồng nàn, là ý chí đấu tranh quật cường cho độc lập dân tộc. Còn
khi đến với những tác phẩm như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ
ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm người đọc sẽ nhận thấy những
giá trị nhân đạo sâu sắc toát lên từ chủ đề tác phẩm. Đó là tiếng nói trân trọng
giá trị con người, bênh vực và cảm thông cho những bất hạnh mà họ gặp phải
Có thể nói, thông qua tác phẩm văn chương, nhà văn đã phản ánh được truyền
thống dân tộc, tâm hồn và cốt cách dân tộc.
Tâm hồn và cốt cách dân tộc còn được biểu hiện qua hoàn cảnh lịch sử cụ
thể và tính cách điển hình của nhân vật. Nhân vật văn học có tính điển hình trong
những hoàn cảnh lịch sử cụ thể là kết tinh cao độ của bản sắc dân tộc. Hình ảnh
của con người yêu nước là điển hình trong văn học Việt Nam nhưng ở mỗi thời
kì lại biểu hiện một cách khác nhau. Thế nên hình ảnh người anh hùng dân tộc
trong văn học trung đại không hoàn toàn như trong văn học hiện đại và lại càng
khác so với văn học đương đại. Tinh thần hy sinh cho dân tộc, Tổ quốc mang
tính lịch sử cụ thể bởi bản sắc dân tộc không phải là một phạm trù bất biến.
Bản sắc văn hóa dân tộc còn được thể hiện ở hình thức nghệ thuật của tác
phẩm. Hình thức nghệ thuật ấy là ngôn ngữ, kết cấu, cốt truyện và hệ thống thể loại.
Người nghệ sĩ bao giờ cũng muốn chuyển tải hết điệu hồn của dân tộc
mình vào tác phẩm văn chương. Một trong những phương thức giúp chuyển tải
tốt nhất chính là ngôn ngữ. Vì thế đã có những nhà văn, nhà thơ dùng tiếng mẹ
súng - Nguyễn Thi) Vẻ đẹp con người Việt Nam bình dị mà anh hùng đã trở
thành hình ảnh mang tính truyền thống trong văn học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Như vậy, muốn thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc trong văn chương
thì trong lao động sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn phải thể hiện được “tâm
hồn, tính cách dân tộc qua cách cảm, cách nghĩ, cách nói riêng của nhà văn”
và “thể hiện một cách đẹp đẽ, sáng tạo những truyền thống văn hóa của dân
tộc trong điều kiện lịch sử nhất định” [51,76]. Có thể nói, mỗi một nhà văn, dù
dân tộc nào, dù viết về đề tài nào, cũng phải thể hiện được bản lĩnh và cá tính
sáng tạo của mình. Nếu thiếu đi những điều này, các nhà văn dân tộc sẽ “dễ
dàng để mất đi bản sắc dân tộc trong sáng tác” của mình. Trong Tuyển tập
văn xuôi dân tộc và miền núi thế kỉ XX , Lâm Tiến cũng đã đề cao vai trò,
trách nhiệm của người cầm bút trong việc đưa bản sắc dân tộc vào sáng tác văn
chương. Ông cho rằng: “ Việc thể hiện bản sắc dân tộc trong văn học là sự
phấn đấu tự giác của nhà văn. Nó đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và sự tìm tòi,
sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nhà văn dân tộc. Nó không chỉ đòi hỏi người
viết có tâm huyết, có tình cảm sâu nặng với dân tộc mình, có vốn sống phong
phú, có một chiều sâu tư tưởng cần thiết, mà còn phải thực sự có tài năng”
[26,20). Chính chiều sâu tư tưởng và tài năng của những nhà văn dân tộc thiểu
số nặng lòng với dân tộc sẽ đem đến cho người đọc bức tranh đa sắc về cuộc
sống và con người vùng cao để từ đó họ tìm tòi, khám phá, phát hiện ra cái
Chân – Thiện – Mĩ của đồng bào các dân tộc thiểu số.
1.2. Nhà văn Cao Duy Sơn trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt
Nam hiện - đƣơng đại
1.2.1. Vài nét về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện – đƣơng đại
Trong sự phát triển chung của đất nước, bộ mặt miền núi và cuộc sống của
đồng bào các dân tộc thiểu số đã và đang có những bước phát triển vượt bậc về
mọi mặt. Và trong đó, hoạt động văn học - nghệ thuật cũng đã góp phần quan
miền núi. Những nhà văn có công “góp phần khai phá, mở đường cho văn xuôi
dân tộc miền núi hình thành và phát triển” (Lâm Tiến) là Nam Cao, Tô Hoài và
Nguyên Ngọc - các nhà văn người Kinh. Năm 1948, với tư cách là một nhà văn
Cách mạng, qua Nhật kí ở rừng, Nam Cao đã nhận ra rằng: “Người Mán chẳng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
có gì đáng sợ… Họ chẳng giết ai, và cũng chẳng có gì là quái gở”. Mọi dân tộc
đều như nhau, dân tộc nào cũng có người tốt, kẻ xấu. Nhà phê bình Lâm Tiến
cho rằng: “Với Nhật kí ở rừng, Nam Cao đã vẽ nên một bức tranh tuy còn đơn
giản nhưng rất chân thực, mới mẻ về con người, cuộc sống của các dân tộc miền
núi” [26,8]. Bên cạnh Nam Cao thì Tô Hoài là nhà văn đã phác họa được bức
chân dung phong phú, sinh động, chân thực về cuộc sống và con người vùng
cao. Với Truyện Tây Bắc, Tô Hoài được đánh giá là “người đầu tiên có ý thức
rõ ràng trong việc tìm tòi hình thức diễn đạt con người, cuộc sống miền núi bằng
những hình tượng, ngôn ngữ mang dáng dấp của người dân tộc” [26,8]. Còn với
Nguyên Ngọc, ông lựa chọn cho mình “cách cảm, cách nghĩ, cách nói ví von, so
sánh giàu hình ảnh…cách viết ngắn gọn, giản dị, gần gũi với đồng bào dân tộc”
[26,9]. Ba nhà văn trên với những sáng tác của họ như dấu ấn đầu tiên thôi thúc
nhu cầu tất yếu cần phải có một mảng văn học viết về đồng bào các dân tộc thiểu
số do chính những người con các dân tộc sáng tác.
Cuộc Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp đã trở
thành chiếc cầu nối đưa một bộ phận nhỏ những người con của các dân tộc
thiểu số đến với văn chương. Họ chủ yếu là những trí thức trưởng thành dưới
chế độ mới, được học hành chu đáo, thiết tha đóng góp vào nền văn học đa dân
tộc với sức lực và tài năng của chính mình. Những tên tuổi đã góp phần làm
nên “lịch sử” cho mảng văn học các dân tộc thiểu số thời kì này phải kể đến
Nông Minh Châu (Tày), Triều Ân (Tày), Vi Hồng (Tày), Vương Trung (Thái),
Lò Văn Sĩ (Thái)…
Năm 1958, tác phẩm văn xuôi đầu tiên của văn học dân tộc thiểu số mới
của riêng quê hương ông nữa mà như đã trở thành câu chuyện về nỗi đau của
vô vàn con người ở mọi miền trên đất nước ta trong thời điểm này. Trong Bên
Bờ suối tiên (1962), Triều Ân còn tái hiện lại hậu quả của chính sách chia để trị
của bọn thực dân phong kiến. Chính âm mưu chia rẽ các tộc người, các làng
bản của bọn thực dân phong kiến đã khiến đời sống người dân rơi vào những
lầm than, mất mát. Không chỉ chú trọng phản ánh gương mặt quê hương, các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
nhà văn trên còn chú ý đi sâu thể hiện nét riêng độc đáo của dân tộc mình. Họ
đã “không ngừng phấn đấu và phấn đấu một cách tự giác để thể hiện được bản
sắc dân tộc trong tác phẩm của mình” [26,13].
Từ khoảng cuối những năm 60, văn học các dân tộc thiểu số phát triển
khá mạnh mẽ về thể loại truyện ngắn. Còn thể loại tiểu thuyết xuất hiện và phát
triển muộn hơn. Cho tới năm 1964, cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học dân
tộc thiểu số mới ra đời. Đó là tác phẩm Muối lên rừng của nhà văn Nông Minh
Châu. Và phải mất một khoảng thời gian khá dài sau (14 năm), thể loại này mới
tiếp tục xuất hiện và khẳng định được vị trí cũng như giá trị của mình qua ngòi
bút sung sức Vi Hồng.
Có thể nói, những sáng tác của Nông Minh Châu và Vi Hồng đã đặt
những dấu mốc quan trọng cho sự ra đời và phát triển của văn học dân tộc thiểu
số. Từ đây, văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển mạnh với hàng loạt những sáng
tác của tác giả người dân tộc như Triều Ân, Nông Viết Toại, Chu Thanh Hùng,
Vi Thị Kim Bình, Hoàng Trung Thu, Triệu Báo, Mã A Lềnh, Hoàng Hạc, Lò
Văn Sĩ, Lâm Ngọc Thụ, Vương Hùng…Thông qua những trang viết của mình,
họ đã dựng lại bức tranh về cuộc chiến tranh anh dũng của cả dân tộc, về thiên
nhiên và con người miền núi. Có thể nói, họ có công rất lớn trong việc bước đầu
khẳng định sự có mặt của một nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
1.2.1.2. Từ 1975 đến nay
Cái thời “vạn sự khởi đầu nan” của văn xuôi dân tộc thiểu số đã đi qua.
(1993), Phụ tình (1994), Đường về với mẹ chữ (1997). Cùng thế hệ với Vi
Hồng là Triều Ân với truyện ngắn Như cách chim trời (1988), Xứ sương mù
(1988). Ở Triều Ân, người đọc vẫn nhận ra niềm tin vào “chất vàng mười”
trong tâm hồn mỗi con người miền núi. Xứ sương mù khép lại trong những
giọt nước mắt hạnh phúc và cảm thông, tác giả như muốn gửi tới người đọc bức
thông điệp: “ Hãy nhắm mắt lại trước cái vẻ bề ngoài có tính hiện tượng để
nhìn sâu vào bản chất bên trong, lúc ấy, ta sẽ gặp được vàng” [28,35]. Hoàng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Hạc vẫn tiếp tục cống hiến cho văn chương nghệ thuật với sự ra đời của tiểu
thuyết Sông gọi (1986), Xứ lạ mường trên (1989). Ngoài những cây bút đã nêu
còn có Mã A Lềnh, La Quán Miên… Bên cạnh đó là một loạt những cây bút
mới như Hoàng Hữu Sang, Đoàn Lư, Hà Trung Nghĩa, Hữu Tiến, Địch Ngọc
Lân, Hoàng Quảng Uyên… Họ chủ yếu là những người con của vùng Việt Bắc
và Tây Bắc. Những sáng tác của họ đã đưa mảnh đất miền núi đi vào văn
chương với hình ảnh của những bản, những làng nằm bên ngọn núi; hình ảnh
của những con người thật thà, chất phác, chăm chỉ song cũng rất mạnh mẽ
trong cuộc sống, trong tình yêu. Họ đã thông qua văn chương mà giới thiệu cho
độc giả bản sắc của dân tộc mình. Cho tới thời điểm này, người được đánh giá
là “đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi ròng về những con người
miền núi”(Hữu Thỉnh) chính là nhà văn Cao Duy Sơn. Ông quan niệm: “viết
văn cần có sự ám ảnh”. Vì vậy mà mặc dù đã về Hà Nội công tác nhưng tràn
lên những trang viết của Cao Duy Sơn vẫn là sự ám ảnh về vùng đất nơi nhà
văn đã sinh ra và lớn lên. Cao Duy Sơn đã đưa mảnh đất Cô Sầu vào những
trang văn của mình để rồi những ai yêu văn chương của ông cũng cảm thấy nó
bỗng trở nên gần gũi, thân thuộc. Văn của Cao Duy Sơn phản ánh đủ mọi góc
độ của cuộc sống như nó vốn có: tối, sáng, thiện, ác, chân thành, thủ đoạn…cho
nên người đọc dễ bắt gặp mình hoặc bóng hình của mình ở trong đó. Bao trùm
lên toàn bộ những trang viết của Cao Duy Sơn là một đạo lí vững bền dù con