Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận
dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh
tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam
2
Mục lục
Lời mở đầu
Chương 1 Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 4
1.1 Sự ra đời của phép biện chứng 4
1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5
1.2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5
1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến 6
Chương 2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam
8
2.1 Mối liên hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường 8
2.2 Môi trường đang bị huỷ hoại do các chính sách tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 9
2.2.1 Trong công nghiệp 9
2.2.2 Trong nông nghiệp 11
2.2.3 Trong du lịch - biển 11
2.2.4 Gia tăng mức tiêu thụ 12
2.3 Hậu quả của ô nhiễm môi trường 13
2.4 Giải pháp giải quyết vấn đề 13
Tài liệu tham khảo 17
3
pháp siêu hình thống trị trong tư duy triết học mà đại diện là Đêcactơ – ông được coi là
linh hồn của phương pháp siêu hình. Trong khoảng nửa sau thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 đây
là thời kỳ tổng kết các lịch sử triết học nhân loại và hình thành hệ thống lớn đó là phương
pháp biện chứng duy tâm mà đại diện là Hêgen ông được coi là tiền đề của phương pháp
biện chứng duy vật sau này. Ngày nay phép biện chứng đã đạt đến trình độ cao nhất đó là
phép biện chứng duy vât. Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ một loạt những
phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực phù hợp với hiện
thực. Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Nhờ vậy nó đã khắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng
tự phát cổ đại cho rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có
mối liên hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới
và các bộ phận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển. Tuy nhiên sự
hạn chế của phương pháp biện chứng này là tuy nó cho chúng ta thấy một bức tranh về sự
tác động qua lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ
cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển. Hơn nữa phép biện chứng
duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cổ đại mà đại
biểu là Hêgen - đại diện lỗi lạc của phép biện chứng. Hêgen cho rằng sự phát triển biện
chứng của thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối
”mà thôi. Phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng : những ý niệm trong đầu óc của
chúng ta chẳng qua là sự phản ánh của các sự vật hiện thực khách quan, do đó bản thân
biện chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thức của sự vận động biện
chứng của thế giới hiện thực khách quan.Như vậy phép biện chứng duy vật đã khái quát
một cách đúng đắn những quy luật vận động và sự phát triển chung nhất của thế giới. Vì 5
vậy P.Ăngen đã định nghĩa: “phép biện chứng…là môn khoa học về những quy luật phổ
biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.”
1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1.2.1 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
trong đó sự tác động qua lại được thực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian.
Có mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên
hệ ngẫu nhiên. Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ khác nhau của
cùng một sự vật. Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn
khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển
hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng. Quan điểm duy vật biện chứng về sự
liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại đó. Các loại liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá cho nhau. Sự chuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do thay đổi
phạm vi bao quát khi xem xét hoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện
tượng ấy.
1.2.2 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì nó phản ánh tính
thống nhất của vật chất và thế giới. Các sinh vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng,
có khác nhau như thế nào chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng khác nhau của
một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất. Xét dưới góc độ nhận thức lí luận, nó là cơ
sơ lí luận của quan điểm toàn diện. Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận
trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có nhận thức
đúng về sự vật chúng ta cần xem xét nó: một là : trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ
phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó, hai là : trong mối
liên hệ qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác, kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Hơn
thế nữa quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức đúng sự vật, chúng ta cần xem xét nó
trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Quan điểm toàn diện đòi hỏi
chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát
để rút ra bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó. Nhưng
quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những quy định
khác nhau của sự vật hay hiện tượng đó, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, cái
quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó. Với tư cách là nguyên tắc phương pháp
luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lí về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được