BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
VÕ TẤN HÒA
TRƢỜNG NGHĨA THIÊN NHIÊN TÂY NGUYÊN
TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số :
60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : GS.TS Bùi Minh Toán
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
và sâu sắc tới: GS.TS Bùi Minh Toán, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt,
giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển
khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài: "Trƣờng nghĩa thiên nhiên Tây
Nguyên trong sáng tác của Nguyên Ngọc”.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học sư phạm Hà Nội,
Trường Đại học Tây Nguyên, cùng tập thể các Thầy Cô giáo Phòng sau đại
học, Khoa Ngôn ngữ của hai Trường.
Xin cảm ơn các Thầy Cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng
1.3. Phân loại trường nghĩa ............................................................................... 9
1.3.1. Trường nghĩa biểu vật ............................................................................. 9
1.3.2. Trường nghĩa biểu niệm ........................................................................ 12
1.3.3. Trường nghĩa tuyến tính ........................................................................ 12
1.3.4. Trường nghĩa liên tưởng ....................................................................... 13
1.4. Sự dịch chuyển trường nghĩa ................................................................... 14
1.4.1. Khái niệm sự chuyển trường nghĩa ....................................................... 14
1.4.2. Các phương thức chuyển trường nghĩa ................................................. 15
1.4.3. Tác dụng của sự chuyển trường nghĩa .................................................. 17
2.Tổng quan về vùng đất Tây nguyên ............................................................. 17
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ........................................... 17
2.1.1 Điều kiện tự nhiên .................................................................................. 18
2.1.1.1 Địa hình ............................................................................................... 18
2.1.1.2 Sông suối ............................................................................................. 19
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên ........................................................................... 19
2.1.2.1 Tài nguyên nước.................................................................................. 19
2.1.2.2 Khí hậu ................................................................................................ 20
2.1.2.3 Tài nguyên đất ..................................................................................... 21
2.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản ....................................................................... 21
2.1.2.4 Tài nguyên rừng .................................................................................. 22
2.2 Đặc điểm cư dân, dân số và dân tộc .......................................................... 23
2.1 Dân cư ....................................................................................................... 23
2.2 Dân số........................................................................................................ 24
2.3 Dân tộc ...................................................................................................... 25
3.Nguyên Ngọc và sự nghiệp sáng tác về Tây Nguyên .................................. 27
TIỂU KẾT ....................................................................................................... 29
Chƣơng 2: PHÂN LOẠI TRƢỜNG NGHĨA THIÊN NHIÊN TÂY
3.2 Giá trị về nghệ thuật .................................................................................. 71
TIỂU KẾT ....................................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 80
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Tây Nguyên – một vùng đất hoang sơ hùng vĩ, với những thác nước
ngày đêm réo gọi, những cao nguyên bao la, bát ngát, những ngọn gió mải
miết thổi suốt bốn mùa… nhưng không kém phần diễm lệ, nên thơ. Nơi đây
có những rừng cà phê, cao su bạt ngàn chạy tít tắp đến cuối chân trời. Đặc
biệt, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế Quốc Mỹ
nhưng nhân dân Tây Nguyên vẫn một lòng thủy chung, sắt son với Đảng, với
Bác Hồ, luôn kiên cường, bất khuất đứng lên chống lại mọi kẻ thù xâm lược,
bảo vệ buôn làng, bảo vệ Đất Nước. Mặt khác, có thể nói Tây Nguyên là vùng
văn học giàu tiềm năng, chứa đựng trong lòng nó nhiều điều bí ẩn thẳm sâu
kỳ lạ. Tuy nhiên số lượng tác phẩm viết về vùng đất này chưa nhiều, Nguyên
Ngọc là người đầu tiên trong số những nhà văn Việt Nam khai phá thành công
mảnh đất màu mỡ này, cấy trồng trên đó những hạt mầm văn chương để rồi
đơm hoa kết trái thành những tác phẩm văn học có giá trị, góp phần làm
phong phú thêm vườn hoa văn học nước nhà. Chính vì vậy, có thể khẳng định
rằng: Nguyên Ngọc là nhà văn viết nhiều nhất và hay nhất về Tây nguyên.
1.2 Từ vựng - ngữ nghĩa học là vấn đề cốt lõi của ngôn ngữ học. Trong
đó, trường từ vựng - ngữ nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu gần đây mới xuất
hiện, được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Việc tìm hiểu trường từ vựng
- ngữ nghĩa và vận dụng những lí thuyết về trường nghĩa trong văn học đã
làm sáng tỏ nhiều mối quan hệ giữa các từ ngữ, tính hệ thống của từ vựng nói
riêng và ngôn ngữ nói chung. Đồng thời cho thấy ưu thế của nó trong việc
những tính cách anh hùng… Nguyên Ngọc đích thực là một tri thức của núi
rừng, là nhà văn hóa của Tây Nguyên”
Trong lời giới thiệu cho tác phẩm Đất nước đứng lên (NXB Giáo dục
Giải phóng, 1973) nhận xét: “Qua tiểu thuyết Đất nước đứng lên, Nguyên
2
Ngọc muốn giới thiệu cho người đọc rõ thêm về đất nước, về con người ở
vùng núi rừng Tây Nguyên. Đất nước ấy hùng vĩ mà hiền hòa, giàu đẹp và
nên thơ”
Còn tác giả Nguyễn Văn Long cho rằng: “Nguyên Ngọc là một trong số
hiếm hoi những cây bút gắn bó am hiểu Tây Nguyên – một xứ sở vô cùng
phong phú và đầy sức hấp dẫn cả thiên nhiên cũng như bản sắc văn hóa độc
đáo mà hầu như vẫn giữ được nguyên vẹn”
Nhìn một cách tổng thể, phần lớn các bài nghiên cứu trên đều có chung
một khẳng định: Nguyên Ngọc đã trở thành người viết nhiều nhất và hay nhất
về mảnh đất Tây Nguyên hùng vỹ.
Song, ở bình diện ngữ nghĩa học đặc biệt là khía cạnh trường nghĩa
nghiên cứu về tác giả Nguyên Ngọc thì chưa có nhiều. Từ việc tiếp thu ý kiến
của những người đi trước, chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một hướng nghiên
cứu mới đó là: Tìm hiểu trường nghĩa về thiên nhiên Tây Nguyên trong sáng
tác của nhà văn Nguyên Ngọc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa và xác lập trường nghĩa thiên nhiên Tây Nguyên sáng tác
của nhà văn Nguyên Ngọc.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Ngọc với nhiều đường nét, màu sắc độc đáo, sinh động… để một lần nữa khẳng
định về những đóng góp to lớn của Nguyên Ngọc đối với Tây Nguyên.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về Tây Nguyên, Nguyên Ngọc
Chương 2: Trường nghĩa thiên nhiên Tây Nguyên trong sáng tác của Nguyên Ngọc
Chương 3: Giá trị của trường nghĩa thiên nhiên trong sáng tác của Nguyên Ngọc
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
VÀ TỔNG QUAN VỀ TÂY NGUYÊN, NGUYÊN NGỌC
1. Lý thuyết trƣờng nghĩa
1.1 Khái niệm
Như chúng ta đã biết, từ vựng của một ngôn ngữ không phải là một tập
hợp ngẫu nhiên các từ và các đơn vị tương đương với từ mà là một hệ thống.
Biểu hiện quan trọng của một hệ thống là các mối quan hệ giữa các đơn vị
trọng hệ thống. Một trong những quan hệ cơ bản là quan hệ đồng nhất về
nghĩa tạo nên trường từ vựng – ngữ nghĩa. Sau đây là một số quan niệm về
trường từ vựng – ngữ nghĩa.
Theo các tác giả nước ngoài thì Ju.X.Xtepanov là một trong những tác
giả người Nga quan tâm đến mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị trong từ
vựng.Ông cho rằng trong vốn từ của một ngôn ngữ có các kiểu nhóm từ có
quan hệ chặt lỏng khác nhau, như loạt đồng nghĩa, loạt trái nghĩa; các nhóm
nội dung như “nhóm từ tính cách” , “nhóm các động từ chuyển động của
người”...là biểu hiện của một hiện tượng gọi là trường từ vựng hay trường
Khác với các nhà nghiên cứu trên, W. Porzig lại xây dựng quan niệm
về các trường tuyến tính hay trường ngang. Theo ông, trường là những cặp từ
có quan hệ kiểu như “gehen” – “fuber” (“đi” – “chân”), “greifen” – “hand”
(“cầm” – “tay”), “sechen” – “auge” (“nhìn” – “mắt”)… Đây không phải là
những quan hệ chung nhất, những quan hệ ngữ nghĩa tạo nên “các trường cơ
bản của ý nghĩa”. Trung tâm của “các trường cơ bản của ý nghĩa” là các động
từ và tính từ vì chúng thường đảm nhiệm chức năng vị ngữ trong câu, do đó
chúng thường ít nghĩa hơn các danh từ.
Ở Việt Nam, trường nghĩa cũng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên
cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Việt Hùng… Trong đó, Đỗ
6
Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng
như những phạm trù ngôn ngữ liên quan đến trường nghĩa. Theo ông, “Những
quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ
thống con thích hợp. Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng
thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ
ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống
ngữ nghĩa chứa chúng” [2, 156]. Trên cơ sở vận dụng lí thuyết về trường
nghĩa của các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về
trường nghĩa. Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về trường từ vựng – ngữ
nghĩa như sau: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa.
Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [2, 157]. Quan điểm này lấy
tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc phân lập trường nghĩa. Đây là quan
niệm có tính chất định hướng cho các quan niệm về trường nghĩa của các tác
nhà Việt ngữ khác sau ông.
1.2 Cơ sở xác lập trƣờng nghĩa
M. Pokrovxkij nhận định: Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách
phân lập trường nghĩa là rất quan trọng. Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã đề ra
phương thức xác lập như sau:
- Tìm những trường hợp điển hình, tức là những trường hợp mang và chỉ
mang các đặc trưng từ vựng - ngữ nghĩa được lấy làm cơ sở. Những từ điển
hình này lập thành tâm cho trường.
- Xác lập vùng ngoại vi bằng những từ có khả năng đi vào một số trường.
Chúng ta sẽ dựa vào các từ điển hình để xác định một trường, sau đó
chúng ta sẽ xử lý các trường hợp khó phân định nhờ cấu trúc ngữ
nghĩa trong các từ điển .
Cơ sở để lập trường biểu vật không phải là nhận thức về các phạm vi sự
vật trong thực tế mà là ý nghĩa biểu vật của từ. Như vậy tất cả các ý nghĩa
8
biểu vật nào có chung một nét nghĩa biểu vật (nét nghĩa hạn chế biểu vật) thì
có thể đi vào một trường.
Tuy nhiên, việc phân chia hiện thực thành những lát cắt để nghiên cứu
(tức là việc phân chia trường nghĩa) mang tính chủ quan và khó thực hiện
một cách triệt để bởi hiện thực thế giới khách quan là một chuổi liên tục. Mặt
khác một từ có thể có nhiều nghĩa, có thể tham gia vào nhiều trường nghĩa
khác nhau.
Ví dụ: Từ “cao” thuộc trường nghĩa Tính chất. Nét nghĩa duy trì của cao
là “hơn hẳn mức trung bình về số lượng hay chất lượng, trình độ, giá cả ...”.
Với nét nghĩa này, từ cao có thể thuộc nhiều trường khác nhau. “Cao” trong
kết hợp “cây cao” thuộc trường thực vật, trong kết hợp “người cao” thuộc
trường con người, tiểu trường ngoại hình, trong kết hợp “tinh thần cao, ý
chí cao” thuộc trường nghĩa con người, tiểu trường tinh thần, trong kết
hợp “tay nghề cao” thuộc tiểu trường năng lực của con người.
Vấn đề hệ thống tất cả các trường nghĩa trong ngôn ngữ, phân lập
Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa
biểu vật nhỏ. Đến lượt mình, các trường nghĩa biểu vật nhỏ này cũng có thể
phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ hơn nữa. Chẳng hạn, trường
nghĩa biểu vật về tay có thể chia thành các trường nhỏ: trường biểu vật về bàn
tay (gồm: ngón tay, vân tay, hoa tay, đốt ngón tay, chỉ tay, mu bàn tay…),
trường biểu vật về cánh tay (gồm: cổ tay, xương cánh tay, cùi chỏ…)
Số lượng từ ngữ và cách tổ chức của các trường nghĩa biểu vật rất khác
nhau. Sự khác nhau này diễn ra giữa các trường lớn với nhau và giữa các
trường nhỏ trong một trường lớn. Nếu so sánh các trường cùng một tên gọi
trong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác nhau trên còn rõ hơn nữa.
Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ)
là một “miền” của trường, thì thấy, các miền thuộc các ngôn ngữ rất khác
nhau. Có những miền trống - tức không có từ ngữ - ở ngôn ngữ này nhưng
10
không trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao trong ngôn ngữ này
nhưng lại thấp trong ngôn ngữ kia.
Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật, cho nên, từ có thể nằm trong nhiều trường
biểu vật khác nhau, hệ quả là các trường nghĩa biểu vật có thể “giao thoa”,
“thẩm thấu”. Xét trường biểu vật về người và trường biểu vật về động vật, ta
sẽ thấy rất rõ điều này. Trường nghĩa người sẽ gồm các từ: đầu, tóc, mắt, cổ,
bụng, tay, chân, mũi, miệng, mồm, răng, lưỡi, ruột, dạ dày, da, máu, xương,
thịt, lông, ăn, uống, đi, chạy, nhảy, khóc, cười, nói, hát, hét, ngủ, nằm, to, nhỏ
… Trường nghĩa động vật sẽ gồm các từ: đầu, đuôi, sừng, gạc, cổ, bụng, mắt,
chân, mũi, mồm, răng, lưỡi, ruột, dạ dày, da, máu, xương, thịt, lông, ăn,
uống, đi, chạy, nhảy, hót, hí, ngủ, nằm, to, nhỏ … Hầu hết các từ nằm trong
trường động vật đều nằm trong trường người, ví dụ các từ: đầu, cổ, bụng,
mắt, chân, mũi, mồm, răng, lưỡi, ruột, dạ dày, da, ăn, uống, đi, chạy, nhảy…
những từ ở lớp ngoại vi.
1.3.3. Trường nghĩa tuyến tính
Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp từ có thể kết hợp với một từ gốc để
tạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Chẳng hạn, trường nghĩa tuyến tính của từ tay là búp măng, mềm, ấm,
lạnh…nắm, cầm, khoác…
Để xác lập trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi
tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm
từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Ví dụ : Trường nghĩa ngang của từ “chạy”
- Chạy 100m, chạy 200m, chạy tiếp sức…(môn thi)
- Chăm chỉ, lười biếng…(mức độ luyện tập)
- Nhanh, chậm…( tốc độ chạy)
Các từ trong trường nghĩa ngang thường kết hợp theo chuẩn mực ngữ
nghĩa phổ biến của một ngôn ngữ chung. Thực tế chúng là những từ có cùng
12
một trường biểu vật đi với nhau sao cho nét nghĩa biểu vật của chúng phải
phù hợp với nhau. Các từ trong cùng một trường ngang là sự cụ thể hóa các
nét nghĩa trong nghĩa biểu vật của từ.
Cùng với các trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa
biểu niệm), các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ
và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những
đặc điểm hoạt động của từ.
1.3.4. Trường nghĩa liên tưởng
Các sự vật, hoạt động tính chất...được phản ánh trong nhận thức của con
người theo những mối quan hệ nhất định. Các sự vật, hiện tượng... có quan hệ
liên tưởng với nhau là các sự vật, hiện tượng mà từ một sự vật, hiện
thái của từ cũng có thể thay đổi theo.
Sự chuyển nghĩa trên của từ chính là cơ sở của sự chuyển trường nghĩa
của từ. Không phải bất cứ hiện tượng chuyển nghĩa nào cũng dẫn đến sự
chuyển trường nghĩa của từ, nhưng có thể khẳng định rằng, sự chuyển trường
nghĩa bắt đầu từ sự chuyển nghĩa của từ. Bởi vì, từ chuyển nghĩa - nội dung
biểu thị của từ thay đổi - thì từ cũng chuyển sang trường nghĩa mới tương ứng
với nội dung biểu thị mới của nó.
Chẳng hạn từ lá ( một bộ phận của cây, thường có bề mặt mỏng, thường
có màu xanh, ở trên cành cây) là từ có nhiều nghĩa, mỗi lần chuyển biến ý
nghĩa, từ lại chuyển sang một trường nghĩa khác.
1. Bộ phận của cơ thể con người (lá gan, lá phổi, lá mỡ…)
→ Từ thuộc trường con người hoặc trường động vật
2. Là một vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày(lá thư, lá đơn, lá phiếu…)
→ Từ thuộc trường phương tiện hành chính
3. Là một vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày (lá cờ, lá buồm, lá
chiếu…)
→ Từ thuộc trường đồ vật
14
4. Tình cảm con người (lá lành, lá rách,…)
→ Từ thuộc trường tư tưởng
5. Phương tiện chiến đấu (lá chắn…)
→ Từ thuộc trường quân sự
Khi các từ ngữ chuyển từ trường nghĩa này sang trường nghĩa khác,
chúng mang theo những đặc điểm vốn có của nó ở trường nghĩa ban đầu.
1.4.2. Các phương thức chuyển trường nghĩa
Như đã trình bày ở trên, hiện tượng chuyển trường nghĩa bắt đầu từ sự
chuyển nghĩa của từ. Bởi thế, phương thức chuyển trường nghĩa cũng chính là