LUẬN VĂN: Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân với công cuộc cải cách hành chính ở Tuyên Quang doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng
suốt của nhân dân với công cuộc cải cách
hành chính ở Tuyên Quang

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, xây dựng và lãnh đạo nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, sự
nghiệp và tên tuổi của Người gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Việt
Nam mới - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức và xây dựng nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà là di sản vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta, là cơ sở để xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay - một nhà nước với hệ thống chính quyền
mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân từ Trung ương đến địa phương. Trong tiến trình
cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà
nước ta đã phát huy trí tuệ sáng suốt và sức mạnh vô địch của toàn dân nhằm đánh
thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Trên thực tế, chỉ lúc nào Đảng ta phát
huy được trí tuệ sáng suốt, tập hợp được sức mạnh của nhân dân thì mới xây dựng được

những tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Dân
tộc Dân chủ và trong t hời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Phần kết luận của tác giả
chiếm gần nửa số trang của tập sách có nhiều nghiên cứu mới về sự "kết hợp đạo đức và
pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh"; từ đó nêu ra sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước pháp quyền và từng bước hoàn thiện nó trong quá trình đổi mới ở nước ta.
Tiếp theo phải kể đến công trình chuyên khảo của PTS. Nguyễn Đình Lộc, Tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
(sản phẩm của đề tài cấp Nhà nước KX.02.13). Đây là công trình nghiên cứu khá cơ bản
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân và sự vận dụng của Đảng ta
trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; Vũ Đình Hoè với: Pháp quyền
nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.
Tiếp sau đó, có nhiều tác giả nghiên cứu về chủ đề này như Phạm Ngọc Anh -
Bùi Đình Phong với: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu
mới ở Việt Nam, Nxb Lao động, 2003; Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên) với Tư tưởng Hồ

Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003;
Bùi Ngọc Sơn với Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, 2004. Một số
giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh của Hội đồng lý luận Trung ương, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh cũng có bài về tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do
dân, vì dân; các tác giả: Dương Xuân Ngọc có bài "Quá trình xây dựng thể chế nhà
nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh", Tạp chí Lý luận chính trị, 2-
2004; Lê Mậu Hãn với Hồ Chí Minh kién lập nhà nước pháp quyền Việt Nam, Tạp chí
Lịch sử Đảng, 5-2005, GS. Trần Xuân Trường với: Đảng cầm quyền và nhà nước của
dân, do dân, vì dân; PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc với: 60 năm xây dựng nhà nước cách
mạng của dân, do dân, vì dân, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9 năm 2005; PGS.TS Lê
Văn Tích (chủ biên) với: Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, Nxb Chính trị quốc
gia, 5-2006; GS.VS Nguyễn Duy Quý với bài: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Thành tựu và những vấn đề cần giải quyết, Tạp chí Thông tin công tác tư
tưởng lý luận, 7-2006; GS.TS Hoàng Chí Bảo với: Dân chủ xã hội chủ nghĩa - mục tiêu
và động lực của đổi mới; GS. TSKH Đào Trí úc với bài: Tiếp tục xây dựng và hoàn

vững mạnh.
- Liên hệ với thực tiễn chương trình cải cách hành chính nhằm xây dựng chính
quyền vững mạnh vì dân ở Tuyên Quang hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu nguồn gốc, cơ sở và quá trình hình thành nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và
sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta hiện nay vào trong công cuộc cải cách hành chính
nhằm xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một chính quyền trong
sạch, vững mạnh thực sự của dân, do dân, vì dân trên phạm vi quốc gia cũng như ở địa bàn
tỉnh Tuyên Quang hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin và các phương
pháp cụ thể: phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử - lôgíc, điều tra xã hội học.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về "thực
hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" và từ đó thấy rõ mối liên hệ và

những kinh nghiệm, bài học quý báu của tư tưởng ấy với công cuộc cải cách hành chính
hiện nay.
Luận văn là tài liệu quý giúp những người nghiên cứu và quản lý hiểu rõ thêm
một tư tưởng quan trọng của Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh và trí tuệ toàn dân để
xây dựng chính quyền trong sạch và vững mạnh - một đòi hỏi thường xuyên và cấp
bách đối với Việt Nam trong tiến trình củng cố, xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế.
Luận văn là tài liệu tham khảo để giảng dạy trong các trường hành chính, trường chính
trị tỉnh và giúp chính quyền tỉnh Tuyên Quang trong quá trình thực hiện Chương trình
cải cách hành chính ở địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 - 2010 nhằm xây dựng hệ thống chính
quyền Tuyên Quang trong sạch, vững mạnh
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu làm 2 chương,7 tiết.

tới Công xã Pari 1871 và đến "đêm trước của cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa" tháng
10 Nga năm 1917. Các đặc điểm về mô hình, vai trò, chức năng chủ yếu của nhà nước
vô sản cùng những nhiệm vụ của giai cấp công nhân trong cách mạng luôn được bổ
sung bằng tổng kết thực tiễn phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
trong cuộc đấu tranh chính trị để giành lấy chính quyền.
Công xã Pari 1871 là hình thức chính quyền nhà nước đầu tiên của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động. Tuy tồn tại không lâu, song nó đã để lại cho phong trào
cộng sản và công nhân thế giới một mô hình nhà nước rất đặc sắc về tính dân chủ trên
nhiều phương diện tổ chức và hoạt động của nó. Lênin nhận xét:
Chính quyền mới, với tính cách là chuyên chính của tuyệt đại đa số, đã
có thể duy trì và đã được duy trì chỉ là nhờ vào sự tín nhiệm của quần chúng
đông đảo, chỉ bằng lôi cuốn một cách tự do nhất, rộng rãi nhất và mạnh mẽ
nhất toàn thể quần chúng tham gia chính quyền Đó là chính quyền công
khai đối với mọi người, làm việc trước mặt quần chúng, quần chúng dễ dàng
gần gũi nó, nó trực tiếp sinh ra từ quần chúng, là cơ quan trực tiếp đại biểu
cho quần chúng nhân dân và ý chí của họ [21, tr.378].

V.I.Lênin còn chỉ rõ, trong điều kiện mới giai cấp vô sản càng phải kiên quyết sử
dụng bạo lực cách mạng, đập tan bộ máy của nhà nước tư sản; khả năng giành chính
quyền bằng phương pháp hòa bình là rất quý nhưng ít khi xảy ra. Cách mạng vô sản có
thể nổ ra và giành thắng lợi ở những mắt khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc. Nhiệm
vụ lúc này là phải đập tan bộ máy hành chính, quân sự quan liêu, những công cụ áp bức,
bóc lột, đàn áp nhân dân; còn các cơ quan khác như cơ quan thống kê, ngân hàng, bưu
điện là những yếu tố cần thiết cho quản lý nhà nước mới thì "không thể và cũng không
nên phá hủy bộ máy đó đi. Phải giải thoát cho bộ máy đó khỏi phải phục tùng bọn tư
bản, phải bắt bộ máy đó phục tùng các Xô viết vô sản, phải mở rộng bộ máy đó ra, làm
cho nó bao trùm mọi lĩnh vực và trong cả nước" [23, tr.404].
Muốn cách mạng vô sản thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân, theo
Lênin, còn phải xây dựng được đảng mác xít chân chính; đoàn kết và tập hợp mọi lực
lượng cách mạng mà nòng cốt là liên minh công - nông

Quốc chỉ rõ những yêu cầu về phương diện xã hội, kinh tế, chính trị , trong đó:
Về phương diện chính trị:
a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến
b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập
c) Dựng ra chính phủ công nông binh (TG nhấn mạnh)
d) Tổ chức ra quân đội công nông [29, tr.1].
Đây là ý tưởng đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về một mô hình nhà nước
mới ở Việt Nam, thay thế cho nhà nước thực dân phong kiến đang thống trị ở Việt Nam
lúc bấy giờ.
Trước khí thế đấu tranh sôi nổi của phong trào cách mạng trong nước sau khi
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, điển hình là cao trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh (1930-1931)
với việc áp dụng trực tiếp mô hình chính quyền Xô viết Nguyễn ái Quốc sớm nhận
định:
Đó là đầu tiên nhân dân ta nắm chính quyền ở địa phương và bắt đầu thi
hành những chính sách dân chủ, tuy mới làm được trong một phạm vi nhỏ hẹp.
Xô viết Nghệ An bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn. Tinh thần anh dũng của

nó luôn luôn nồng nàn trong tâm hồn quần chúng, và nó đã mở đường cho thắng
lợi về sau [32, tr.154-155].
Đầu năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc về
nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Tháng 5 năm 1941, Nguyễn ái
Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương 8. Sau khi phân tích tình hình trong nước và quốc tế,
Người đã nhận định: "Vấn đề chính là nhận định cuộc cách mạng trước mắt của Việt
Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc; lập Mặt trận Việt Minh, khẩu hiệu
chính là: đoàn kết toàn dân, chống Nhật, chống Pháp, tranh lại độc lập; hoãn cách mạng
ruộng đất" [32, tr.158]. Hội nghị đã có chủ trương mới "không nên nói công nông liên
hiệp và lập chính quyền xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ
dân chủ cộng hòa" [11, tr.127]. Chương trình Việt Minh cũng nêu rõ: "sau khi đánh đuổi
đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, lấy cờ đỏ, sao vàng năm cánh làm quốc cờ. Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam

con đường giải phóng cho các dân tộc" nhân kỷ niệm 50 năm ngày cách mạng tháng
Mười Nga, Hồ Chí Minh viết:
Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ngày càng thấm nhuần
những lời dạy của Lênin và những bài học lớn của cách mạng tháng Mười.
Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp
công nhân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một
đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ
thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng
lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công [35, tr.303-304].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh việc xây dựng, tổ chức và lãnh đạo chính quyền dân
chủ nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam phải dựa vào chủ nghĩa Mác-Lênin và phải
bảo đảm xây dựng chính quyền thật sự mạnh mẽ, chắc chắn và sáng suốt của nhân dân.
Sự sáng suốt trong lãnh đạo của Đảng với chính quyền là nhân tố không thể thiếu để
thực hiện tổ chức xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Cơ sở
lý luận làm cho đường lối lãnh đạo của Đảng và các chính sách nhà nước tỏ ra thật sự
sáng suốt chính là lý luận Mác-Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ
thể ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh khẳng định: Chính quyền nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là
nhà nước dân chủ, nhà nước của dân, do dân và vì dân; cơ sở xã hội của nhà nước là
toàn thể dân tộc, nền tảng là liên minh công - nông, lao động trí óc dưới sự lãnh đạo của
giai cấp công nhân.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh một nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
trước hết là một nhà nước thực sự đại biểu cho quyền lợi của nhân dân, thực sự do nhân
dân lập ra, được nhân dân ủng hộ. Đồng thời, đó phải là một chính quyền nhà nước tập
trung, có bộ máy hành chính mạnh mẽ, quản lý điều hành bằng pháp luật có hiệu lực,
hiệu quả thực tếl; đội ngũ cán bộ công chức am hiểu pháp luật, chuyên môn và có đạo
đức phục vụ nhân dân.
Bằng sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý, quan điểm của Học thuyết Mác -
Lênin về nhà nước vào chỉ đạo và xây dựng thành công nhà nước Dân chủ cộng hòa ở

Asimét L.A.Patti (Archimèdes L.A.Patti), một sĩ quan tình báo Mỹ có mặt ở Hà
Nội ngay sau khi Tổng khởi nghĩa thắng lợi đã nhận xét rằng, khi biết tin phát xít Nhật
đã sụp đổ, Hồ Chí Minh "đã hành động một cách kiên quyết và nhanh chóng vì ông phải
bảo đảm chiếm được một chỗ đứng vững chắc ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Ông Hồ biết
rằng ông phải làm cho mọi người thấy rõ được cả tính chất hợp pháp lẫn sức mạnh để
giữ vai trò lãnh đạo và phát triển phong trào" [39, tr.146].
Quốc dân Đại hội Tân Trào là "một tiến bộ lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng
của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay" [29, tr.553], Quốc dân Đại hội Tân Trào với tính
cách là cơ quan mang tính đại diện quyền lực cao nhất của nhân dân tán thành chủ
trương Tổng khởi nghĩa của Đảng và 10 chính sách của Việt Minh, thông qua quyết
định thành lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, thực
hiện chức năng Chính phủ lâm thời sau cách mạng tháng Tám thắng lợi.
Đây là một nét sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản
Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh trong việc phát huy ý chí, sức mạnh dân tộc và tính
hợp pháp của sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền độc lập tự do bằng tổ chức Đại hội
đại biểu quốc dân để đề ra quyết sách chuyển xoay vận nước bằng phương thức khởi

nghĩa vũ trang, xoá bỏ chế độ nô dịch thực dân, kiến lập chế độ cộng hoà dân chủ với cơ
quan mang tính quyền lực cao nhất là Đại hội đại biểu quốc dân và Uỷ ban dân tộc giải
phóng do Đại hội đại biểu quốc dân lập ra.
Ngày 25/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hà Nội. Theo đề nghị của Người,
Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Nhiều ủy viên Việt Minh trong ủy ban dân tộc giải phóng đã tự
nguyện rút ra để mời thêm nhân sĩ ngoài Việt Minh tham gia. Sau này, Hồ Chí Minh ca
ngợi: "Đó là một cử chỉ vô tư, tốt đẹp, không ham chuộng địa vị, đặt lợi ích của dân tộc,
của đoàn kết toàn dân lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một cử chỉ đáng khen, đáng kính
mà chúng ta phải học tập" [32, T.6, tr.160].
Việc Uỷ ban dân tộc giải phóng tự cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đáp ứng yêu cầu:
Làm sao cho Chính phủ lâm thời tiêu biểu được Mặt trận dân tộc thống nhất một cách

Tuyên ngôn độc lập là bản anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của dân tộc
Việt Nam, nêu cao ý chí đấu tranh của toàn dân để giữ vững quyền độc lập, tự do, bảo
vệ chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam. Quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam được
khẳng định trong Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố trước quốc dân
và quốc tế đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng đầu tiên về sự ra đời của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà và có giá trị đóng góp vào sự phát triển nền pháp lý tiến bộ của loài
người.
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của toàn thể dân Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ bộ máy thống trị của
đế quốc và bọn phong kiến tay sai, lập nên chính quyền nhân dân trong cả nước. Đây là
sự thắng lợi của đường lối của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh về quá trình hình
thành một nhà nước do nhân dân, vì nhân dân, thay thế cho nhà nước thực dân phong
kiến đã tồn tại ở Việt Nam gần một thế kỷ. Cuộc cách mạng tháng Tám đã lật đổ ách
thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân, và "nền quân chủ mấy mươi thế kỷ", thành lập
nước Cộng hòa Dân chủ, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên Dân chủ Cộng hòa, kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Nói về ý nghĩa to lớn của cuộc

Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách
mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công,
đã nắm chính quyền toàn quốc" [32, tr.159].
Tuy nhiên, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải "tiếp quản" một di sản
kinh tế - xã hội hết sức nghèo nàn, lạc hậu. "Giặc đói" đe dọa sinh mạng của hàng triệu
đồng bào. Nền tài chính quốc gia gần như trống rỗng.
Về mặt xã hội, hậu quả của xã hội cũ rất nặng nề. Sự thất học của đại đa số nhân
dân cũng là một loại giặc "giặc dốt". Chỉ có 10% dân số biết chữ, hầu hết ở bậc tiểu học.
Số công chức có trình độ đại học và cao đẳng trong cả nước chỉ khoảng vài trăm người.
Thực tế đó đã làm cho việc tổ chức hoạt động và xây dựng chế độ mới của nhà nước ta
gặp nhiều, khó khăn. Các tệ nạn xã hội, hủ tục và lối sống lạc hậu do chế độ thực dân
phong kiến, phát xít để lại là gánh nặng cho nhà nước cách mạng non trẻ.
Về chính trị, trong khi các lực lượng Đồng minh kéo vào nước ta, các thế lực

chọn những đối sách đúng đắn nhằm giải quyết kịp thời có hiệu quả những nhiệm vụ vô
cùng phức tạp, khó khăn; bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua
thác ghềnh, từng bước tiến lên. Thời gian là một yếu tố vô cùng cần thiết để "củng cố
dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất", nguồn
sức mạnh của hệ thống chính trị dân chủ vừa mới được thành lập; thời gian là sức
mạnh, là lực lượng cho Mặt trận và Chính quyền triển khai công việc tổ chức đoàn kết
toàn dân và xây dựng "chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân" trở thành một
hệ thống chính quyền thống nhất từ "Chính phủ toàn quốc" đến chính quyền địa phương
trong cả nước Việt Nam.
Sự kiện Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "tự giải tán" là "để phá tan tất cả
những điều hiểu lầm ở ngoài nước và trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng
nước ta". Những người muốn nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênin "sẽ gia nhập Hội
nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương".
Như vậy, bằng việc công khai thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và tờ báo
Sự thật cùng các chỉ thị, nghị quyết, trên thực tế Đảng ta vẫn tiếp tục tuyên truyền chủ
nghĩa Mác - Lênin và đường lối chính sách của Đảng, giữ vững được mối liên hệ giữa

Đảng và quần chúng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong sự nghiệp kháng
chiến kiến quốc.
Tình hình những tháng năm đầu của cách mạng là thời kỳ chồng chất những khó
khăn thử thách với Đảng và chính quyền nhân dân trên mọi phương diện từ nội trị, kinh
tế, quân sự, đến ngoại giao.
Với tư cách là thượng khách của nước Pháp, trong chuyến thăm Pháp năm 1946,
Hồ Chí Minh là hiện thân của ý chí độc lập dân tộc, hoà bình và hữu nghị của nước Việt
Nam mới, Người đã làm hết sức mình để cố tránh một cuộc chiến tranh đổ máu cho hai
dân tộc Việt - Pháp và kéo dài khoảng thời gian hoà hoãn để củng cố chính quyền,
chuẩn bị lực lượng cho cách mạng ở trong nước.
Trước những câu hỏi có tính "cân não" về xu hướng cộng sản, ở một thời điểm
nhạy cảm, của các nhà báo Pháp phỏng vấn Hồ Chủ tịch, Người điềm tĩnh trả lời:
Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi

Sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nhiệm vụ của nhà nước hết sức nặng nề,
một mặt phải khắc phục những khó khăn nghiêm trọng như giải quyết nạn đói, nạn dốt,
thói xấu cùng những bất công, chia rẽ tôn giáo, mất dân chủ trong xã hội do chế độ cũ
để lại, mặt khác, chính quyền nhân dân, đặc biệt là chính quyền cấp xã đã bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước ở địa phương. Tệ
tham ô, lãng phí, công thần, "làm quan cách mạng", lên mặt, nhũng nhiễu nhân dân đã
sớm được Hồ Chí Minh nhận dạng và cảnh báo qua những bài báo, bức thư của Người
đã cho công bố. Chính những khuyết tật, những căn bệnh cả cũ lẫn mới đó đã làm cho
khả năng tập hợp sức mạnh và trí tuệ sáng suốt của nhân dân, của cấp chính quyền cơ
sở bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và uy tín cả hệ thống chính quyền dân chủ
mới.
Trên cương vị người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy sự
cần thiết phải lãnh đạo, tổ chức xây dựng hệ thống chính quyền dân chủ phải thật sự
mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Chế độ dân chủ phải được vận hành bằng nền hành
chính dân chủ mới.

Sự ra đời tư tưởng "thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân"
là một quá trình nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong điều kiện
Việt Nam từ một nước nô lệ tiến lên một quốc gia độc lập. Đó là sự thay đổi lớn, một
cuộc cách mạng trong tư tưởng và thực tiễn chỉ đạo xây dựng chính quyền dân chủ ở
Việt Nam. Lịch sử Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lịch sử Hiến pháp Việt
Nam gắn liền với tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh.
Hiến pháp là nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ hiện đại, Hiến pháp là cơ sở
pháp lý về sự tồn tại và phát triển của nhà nước. Thực hiện một xã hội tự do, dân chủ
cho nhân dân và một chính quyền mạnh mẽ sáng suốt của dân cần phải có một Hiến
pháp dân chủ. ý thức rất sớm vấn đề này, nên suốt 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của
Hiến pháp Việt Nam mà Người còn trực tiếp làm Trưởng ban soạn thảo hai bản Hiến
pháp 1946, Hiến pháp 1959.
Sự cần thiết phải xây dựng và tổ chức một chính quyền nhà nước mạnh mẽ, sáng

xây dựng quyền làm chủ của công dân Việt Nam đối với vận mệnh đất nước qua cơ quan
đại diện của mình là Quốc hội.
Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những
người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà.
Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ ai là người muốn lo việc nước thì đều có
quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không phân biệt
gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân
Việt Nam thì đều có hai quyền đó.
Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ,
đoàn kết.
Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra
chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân" [30, tr.133].
Các ban bầu cử đã được thành lập tại các làng xã do ủy ban nhân dân các cấp
trực tiếp đảm nhận.

Quá trình diễn ra Tổng tuyển cử diễn ra rất khẩn trương trong điều kiện vừa
kháng chiến ở miền Nam, vừa phải giải quyết các nhiệm vụ nội trị, ngoại giao, quân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội. Đây là cuộc đấu tranh hết sức gay go, phức tạp. Dựa vào các
thế lực quân đội nước ngoài có mặt trên đất nước ta lúc bấy giờ, Việt Quốc và Việt
Cách ra sức chống đối việc tổ chức Tổng tuyển cử. Việt Quốc đưa ra yêu sách đòi
chiếm giữ 1/3 số ghế đại biểu trong Quốc hội và phải giữ các Bộ Tài chính, Bộ Quốc
phòng, Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên trong Chính phủ, v.v
Chính phủ đã kiên quyết bác bỏ mọi yêu sách vô lý và mọi âm mưu phá hoại của
Việt Quốc, Việt Cách, đồng thời kiên trì sách lược nhân nhượng khôn khéo nhằm tạo
không khí thuận lợi cho Tổng tuyển cử. Đại diện của Việt Minh và Việt Quốc, Việt
Cách đã thương lượng, lần lượt ký các văn bản ghi nhận tinh thần, nguyên tắc và các
biện pháp hợp tác trong đó có các quan điểm quan trọng.
Coi trọng độc lập và đoàn kết trên hết, ủng hộ Tổng tuyển cử, đình chỉ công kích
lẫn nhau, mở rộng Chính phủ lâm thời v.v
Chính vì vậy, ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ liên

quốc dân, dẫu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc
hội trao cho [30, tr.427-428].
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và
sáng suốt của nhân dân, thì hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương
(Quốc hội và Chính phủ) phải là một khối thống nhất với các cơ quan quyền lực nhà
nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp).
Ngay sau ngày ra mắt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho đăng
trên Báo Cứu quốc, số 40 ngày 11/9/1945 bài: Cách tổ chức ủy ban nhân dân. Trong đó
xác định ủy ban nhân dân (làng, huyện, tỉnh, thành phố) là hình thức chính phủ trong
các địa phương sau khi khởi nghĩa thắng lợi ủy ban nhân dân tổ chức và làm việc theo
một tinh thần mới, khác hẳn các cơ quan do bọn thống trị cũ đặt ra. Cũng chỉ sau đó 2
tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 của Chủ tịch Chính
phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức các Hội đồng nhân dân và ủy ban
hành chính.
Điều 1 của Sắc lệnh đã nêu:

Để thực hiện chính quyền nhân dân trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ
cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.
Hội đồng nhân dân do dân bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu
phiếu là cơ quan thay mặt cho dân.
Uỷ ban hành chính do các Hội đồng nhân dân bầu ra là cơ quan hành
chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho Chính phủ.
ở hai cấp xã và tỉnh có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính, ở các
cấp huyện và kỳ chỉ có Uỷ ban hành chính. Cách tổ chức, quyền hạn và cách
làm việc của các cơ quan nói trên sẽ quy định như Sắc lệnh này [45, tr.216].
Sắc lệnh có 4 chương với 115 Điều. Đây là một văn bản quy phạm pháp luật có
nội dung, đối tượng và phạm vi điều chỉnh như Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân hiện nay. Việc nhanh chóng ban hành Sắc lệnh trên để tạo ra cơ sở pháp
lý cho việc tổ chức xây dựng và hoạt động thống nhất của hệ thống chính quyền của địa
phương dưới sự điều hành của Chính phủ Trung ương, cùng với các văn bản quy phạm

Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo luận Hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nhận thấy rằng Hiến pháp Việt
Nam phải ghi lấy những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng
trên những nguyên tắc dưới đây:
- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn
giáo.
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân [14, tr.7].
Là nguyên tắc hiến định tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho quá trình tổ chức, xây
dựng và hoạt động của nhà nước dân chủ, tư tưởng về xây dựng chính quyền mạnh mẽ
và sáng suốt của nhân dân mà nội dung cốt lõi là bằng hoạt động thực tiễn để tổ chức
hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước của nhân dân thực sự đủ năng lực quản lý
điều hành đất nước có hiệu lực, hiệu quả, giải quyết đúng đắn các nhiệm vụ chủ yếu đặt
ra cho nhà nước ở mỗi thời kỳ.
Tư tưởng về tổ chức nhà nước dân chủ mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân ở Hồ
Chí Minh không chỉ là một nguyên tắc chỉ đạo tổ chức xây dựng nhà nước trên cả 3 mặt
công tác, tổ chức và cán bộ mà còn được Người thống nhất trong việc sử dụng vào xây

Trích đoạn Bài học lấy dân làm gốc, đem sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân trong xây dựng nhà nước dân chủ Những thành công Những khó khăn, hạn chế Cải cách hành chính nhằm xây dựng chính quyền trong sạch và vững mạnh nhiệm vụ hàng đầu cấp bách ở Tuyên Quang hiện nay Về công tác xây dựng chính quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status