LUẬN VĂN: Thực hiện chính sách cán bộ đối với
cán bộ xã ở thành phố Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách cán bộ là một bộ phận quan trọng của công tác cán bộ, là công cụ và
biện pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ. Có hệ thống chính sách cán bộ đúng sẽ hỗ trợ,
quá dài không có chính sách đồng bộ đối với cán bộ, thiếu chăm lo bồi dưỡng, đào tạo
đội ngũ cán bộ cho cơ sở, không kịp thời bàn và đưa ra những chính sách để củng cố và
tăng cường đội ngũ cán bộ cơ sở.
Để xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Đảng ta chủ
trương tiến tới xây dựng hệ thống chính sách cán bộ một cách đồng bộ và nhất quán,
công bằng, thống nhất phù hợp với từng loại đối tượng cán bộ, khuyến khích những cán
bộ có tài, trân trọng những cán bộ có đóng góp lớn, đồng thời xử lý nghiêm minh và kịp
thời những người có sai phạm. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xây dựng hệ thống chính
sách cán bộ chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Trong những năm qua, thành phố Hà Nội rất quan tâm đến việc thực hiện chính
sách cán bộ đối với đối với cán bộ xã ở Thành phố. Việc thực hiện chính sách cán bộ xã
đó đạt được một số kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ xó từng bước phát triển về số
lượng và chất lượng; việc thực hiện chính sách thu hút cán bộ trẻ, sinh viên mới tốt
nghiệp về công tác ở cơ sở đó tạo nờn sự chuyển biến tớch cực về chất lượng của đội ngũ
cán bộ xã, trỡnh độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ này từng bước được nâng lên và xu thế
ngày càng được trẻ hoá. Phong trào học tập nõng cao trỡnh độ của cán bộ, công chức xó
được đẩy mạnh hơn. Việc chuyển từ chế độ sinh hoạt phí sang chế độ tiền lương, từ
hưởng trợ cấp hàng tháng khi nghỉ việc sang hưởng chế độ hưu trí, đã tạo sự an tâm phấn
khởi trong đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở, trong đó có đội ngũ cán bộ, công chức xã ở
thành phố Hà Nội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả thu được, việc thực hiện chính sách đối với
cán bộ xã nói chung và ở Hà Nội nói riêng hiện nay đã và đang phát sinh những vướng
mắc, bất cập, như: bố trí tỷ lệ chưa tương xứng giữa cán bộ giữ chức vụ bầu cử và công
chức chuyên môn; số lượng cán bộ, công chức cấp xã chưa đủ để bố trí cho phù hợp với
yêu cầu nhiệm vụ mới; chế độ, chính sách đãi ngộ (tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội
) đối với cán bộ, công chức xã, đến nay còn nhiều bất cập, mâu thuẫn; việc ban hành và
thực hiện các văn bản, quy định về chính sách cán bộ cơ sở của Đảng và Nhà nước hầu
hết vẫn mang tính giải pháp tình thế, chưa cơ bản, chưa đồng bộ. Chế độ, chính sách đãi
ngộ đối với cán bộ, công chức cấp xã những năm qua thường xuyên thay đổi, không ổn
-TS. Nguyễn Thị Hải Vân - Lê Xuân Từ: “Hỏi đáp về chế độ, chính sách đối với
cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn", Nxb Thống kê, Hà Nội, 2007. Nội dung cuốn
sách gồm 5 phần: Phần thứ nhất: Những vấn đề chung; Phần thứ hai: Chế độ, chính sách
về tiền lương, sinh hoạt phí và phụ cấp; Phần thứ ba: Chế độ bầu cử, tuyển dụng, đào tạo,
khen thưởng, kỷ luật; Phần thứ tư: Chế độ Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ
khác; Phần thứ năm: Một số văn bản quy phạm pháp luật áp dụng đối với cán bộ, công
chức cấp xã, phường, thị trấn.
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Mẫu hình và con đường hình thành người cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp cơ sở" của Học Viện Nguyễn ái Quốc, 1992.
- Đề tài khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách đối
với cán bộ, công chức cơ sở", chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Thế Vịnh - chuyên viên cao
cấp Bộ nội vụ, Hà Nội, 2009.
- Báo cáo chuyên đề: Quan điểm, chính sách đào tạo, sử dụng và chế độ đãi ngộ
đối với cán bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của ban Tổ chức Trung ương, 1998
* Các bài viết trên tạp chí:
+ TS. Nguyễn Hữu Đức, Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ: “Bàn về chế độ,
chính sách đối với cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn"
( />ttachments/1933_BAI%2012%20TRANG%2040.rtf).
Tác giả trình bày số lượng xã, phường, thị trấn theo 3 loại được quy định tại Nghị
định 159/2005/NĐ-CP ngày 29/12/2005 của Chính phủ và đánh giá về số lượng, chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo một số tiêu chí cơ bản. Bên cạnh đó, tác giả
nêu lên những bất cập về chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách ở cơ sở
xã, phường, thị trấn về chế độ, chính sách lương, bảo hiểm xã hội: còn bất hợp lý về chế
độ tiền lương cán bộ bầu cử và công chức chuyên môn có cùng trình độ đào tạo; về bảo
hiểm xã hội: theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì thời gian công tác có đóng bảo
hiểm xã hội của cán bộ, công chức xã là 20 năm và phải đủ 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi
đối với nam mới đủ điều kiện nghỉ hưu, việc này có nhiều bất cập cho cán bộ, công chức
xã, nhất là những vùng đặc biệt khó khăn. Chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ cấp xã
trước đây có quy định "chức danh khác" đó tham gia bảo hiểm xó hội theo Nghị định số
án Tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2008.
- Trần Đình Gia (2008): Thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ thuộc diện
Ban thường vụ Huyện uỷ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận
văn thạc sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Lê Văn Dũng (2008): Thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở tỉnh Vĩnh
Long trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh.
- Trần Ngọc Danh (2005): Chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính
trị ở cơ sở tỉnh Nghệ An”, Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
2008.
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu trờn, ở những góc độ và mức độ khác nhau đã bàn đến
vấn đề chính sách cán bộ. Một số công trình đã đi sâu luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn
việc thực hiện chính sách cán bộ, chỉ ra phương hướng và giải pháp đổi mới chính sách cán
bộ với một đối tượng, ở một địa bàn cụ thể. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trỡnh nào đi
sâu nghiên cứu về thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở thành phố Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện chính sách cán bộ đối với cán
bộ xã ở thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần vào việc hoàn
thiện hệ thống chính sách cán bộ cơ sở xã ở thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ hơn những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ
xã ở thành phố Hà Nội.
- Đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở
thành phố Hà Nội, tìm ra nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt chính sách cán bộ đối với cán
bộ xã ở thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
1.1.1.1. Xã ở thành phố Hà Nội
Hà Nội- Thủ đô của cả nước, nằm ở phía Tây Bắc của vùng Đồng bằng châu thổ
sông Hồng, từ 20
o
53’ đến 21
o
23’ độ vĩ Bắc và 105
o
44’ đến 106
o
02 độ kinh Đông; Phía
Bắc giáp các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; Phía Nam giáp Hà Nam, Hòa Bình; Phía
Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; Phía Tây giáp Hòa Bình, Phú Thọ.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với
độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Địa hình, địa thế của Hà Nội
hiện nay rất đa dạng, có đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn Thành phố, Ba phần tư
diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng
và chi lưu các con sông khác, có dải bán sơn địa ở phía Tây - Tây Bắc với hàng nghìn ha,
có tiềm năng lớn trong trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc. Phần lớn diện tích đồi
núi thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Quốc Oai.
Với vị trí địa lý có nhiều sông cổ chảy qua, như: Sông Đà, sông Hồng, sông Tích,
sông Đáy, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu Những con sông này xưa kia là huyết mạch giao
thông chính, đầy ắp những truyền thuyết dựng làng giữ nước của dân tộc; phía Đông
Thành phố, đối diện thuộc phía tả ngạn sông Hồng là tỉnh Hưng Yên; phía Bắc, qua sông
Hồng và sông Đà là tỉnh trung du Vĩnh Phúc; phía Tây tiếp giáp với tỉnh miền núi Hòa
Bình, phía nam là tỉnh Hà Nam. Ngoài ra, Hà Nội còn có nhiều tuyến giao thông chiến
lược chạy qua, như: quốc lộ 1A, 6, 11, 21, 22, 73 Với vị trí địa lý như vậy, nên Hà Nội
có vị trí rất quan trọng và thuận lợi về nhiều mặt ở đồng bằng Bắc Bộ, trước hết là vị trí
chính trị và vị trí chiến lược về quân sự, một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn
Thứ nhất: Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao
động làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm:
Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử gồm: cán bộ chủ chốt của cấp ủy đảng, Hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân, những người đứng đầu ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội.
Cán bộ chuyên môn được ủy ban nhân dân tuyển chọn gồm: công an trưởng, xã
đội trưởng, cán bộ văn phòng, địa chính, tài chính- kế toán, tư pháp, văn hóa-xã hội. Số
lượng cán bộ chuyên trách do Chính phủ quy định.
Cán bộ chuyên trách ở cơ sở có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản
như cán bộ, công chức nhà nước; khi không còn là cán bộ chuyên trách mà chưa đủ điều
kiện để hưởng chế độ hưu trí, được tiếp tục tự đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng trợ cấp
một lần theo chế độ nghỉ việc. Cán bộ, công chức ở cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào
ngạch công chức ở cấp trên.
Theo Khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
cán bộ công chức ngày 29/04/2003, thì cán bộ cấp xã gồm cán bộ xã và công chức xã:
Cán bộ xã là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã.
Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh
chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh
cán bộ, công chức 1998 và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày21/10/2003 của Chính
Phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn cũng quy định
rõ cán bộ, công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
- Cán bộ chuyên trách cấp xã bao gồm:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Thường trực Đảng ủy cấp xã (nơi không có Phó Bí
thư chuyên trách công tác đảng); Bí thư, Phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập Đảng ủy
cấp xã);
+ Cán bộ văn thư, thủ quỹ hoặc cán bộ làm công tác tiếp nhận hành chính theo cơ
chế một cửa.
+ Trưởng Đài truyền thanh hoặc cán bộ phụ trách Đài truyền thanh.
+ Cán bộ kế hoạch - giao thông - thủy lợi - công nghiệp - nông, lâm, ngư nghiệp.
+ Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em.
+ Cán bộ văn hóa.
+ Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, phó các đoàn thể và Chủ tịch các hội Người cao
tuổi, Chữ thập đỏ.
Từ các quy định trên, theo phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn, cán bộ xã ở Thành
phố Hà Nội nói trong luận văn bao gồm tất cả những người là cán bộ chuyên trách và
không chuyên trách trong hệ thống chính trị xã.
* Vai trò của đội ngũ cán bộ xã ở Thành phố Hà Nội
Lịch sử cho thấy, để tiến hành đấu tranh cách mạng có kết quả cần có những người
tổ chức, lãnh đạo phong trào. C.Mác và Ph.ăngghen đã khẳng định: “Muốn thực hiện tư
tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [56, tr.181]. Con người
mà hai ông đã nói chính là cán bộ, những người có vai trò lãnh đạo quần chúng thực hiện
các tư tưởng cách mạng.
Đối với sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân, dù chưa có nhiều thực tế để
bàn về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, C.Mác và Ph.ăng ghen luôn cho rằng cần phải
có một đội ngũ vừa có tri thức lý luận, lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có
năng lực tổ chức thực tiễn mới có khả năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đó.
V.I.Lênin, người kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc biệt coi
trọng vai trò của cán bộ. Người chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành
được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh
tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào"
[51, tr.473].
Theo VI.Lênin, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ trước hết là ở chỗ cán bộ là
người bảo đảm tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng. Cán bộ vừa là
người xây dựng đường lối, vừa tiến hành lựa chọn phương pháp, chỉ đạo và kiểm tra quá
chúng ra, trở lại nơi quần chúng” [64, tr.290]. Nhấn mạnh vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ
Chí Minh còn nói: “Cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không
chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, máy cũng tê liệt” [64, tr.54] và Người kết luận: “Công
việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [64, tr.273]. Chính vì vậy,
trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan
tâm đến công tác cán bộ và Người đã làm tất cả mọi việc để có một đội ngũ cán bộ không
ngừng phát triển, nối tiếp nhau, nhanh chóng trưởng thành đáp ứng với đòi hỏi của sự
nghiệp cách mạng lâu dài và ngày càng khó khăn ở nước ta.
Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
cán bộ, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng và quan tâm
xây dựng đội ngũ cán bộ. Đảng khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại
của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt
trong công tác xây dựng đảng” [29, tr.66].
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước,
Đảng ta đứng trước yêu cầu phải xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ ngang tầm với
nhiệm vụ. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán các cấp, trước
hết là ở cấp chiến lược và cấp cơ sở. Đứng trước đòi hỏi như vậy, Đảng ta xác định phải
“có một đội ngũ cán bộ đầy đủ phẩm chất, có năng lực xây dựng đường lối chính trị
đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là
sinh mệnh của Đảng cầm quyền” [29, tr.27].
Đội ngũ cán bộ xã ở thành phố Hà Nội là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của
Đảng, có vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ nói chung. Tuy nhiên, do vị trí, nhiệm vụ,
đặc điểm địa bàn công tác, những đặc thù trong quá trình phát triển, nên vai trò của đội
ngũ cán bộ xã ở thành phố Hà Nội thể hiện trên các mặt sau:
- Đội ngũ cán bộ xã ở thành phố Hà Nội giữ vai trò quyết định trong việc thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát triển và
ổn định kinh tế -xã hội - an ninh, trật tự trên địa bàn xã. Cán bộ xã là người đại diện cho
Đảng và Nhà nước trong việc lãnh đạo, quản lý, điều hành mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã
hội, quốc phòng và an ninh ở xã; là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ
từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội của Thành phố phát triển.
Đối với phong trào quần chúng ở địa phương, cán bộ xã không những là những
người dẫn dắt, định hướng, tổ chức các phong trào mà còn là những người có trách nhiệm
tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân các điển hình tiên tiến trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, trong xây dựng đời sống văn hóa tại cơ sở. Quá trình đó cũng sẽ là những
đóng góp quan trọng để xây dựng và hoàn thiện các đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Cán bộ xã là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với nhân dân, sống, làm việc
và có mối quan hệ chặt chẽ với dân. Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách đến với dân, họ sẽ tạo ra nhịp “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước
với nhân dân, thông qua họ mà “ý Đảng, lòng dân” được thống nhất, làm cho Đảng và
Nhà nước có cơ sở ăn sâu bám rễ trong quần chúng, tạo nên mối quan hệ máu thịt với
nhân dân, trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Đội ngũ cán bộ xã tốt chính là những tấm gương về đạo đức, lối sống cho quần
chúng noi theo. Họ là những người tiên phong trong hành động, tổ chức, lôi cuốn quần
chúng làm theo một cách tự giác. Ngược lại, cán bộ xã kém sẽ tác động tiêu cực trực tiếp
đến uy tín, vai trò của Đảng, Nhà nước, làm cho dân mất lòng tin vào Đảng, vào chính
quyền.
Với ý nghĩa đó, có thể nói, xây dựng đội ngũ cán bộ xã ở thành phố Hà Nội là
một mắt xích quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển, củng cố hệ thống chính trị và
kinh tế - xã hội của các xã cũng như của huyện và Thành phố nói riêng.
- Đội ngũ cán bộ xã vững mạnh là một trong những nguồn quan trọng cung cấp
cán bộ cho cấp trên cơ sở (huyện và Thành phố). Có thể khẳng định rằng cơ sở xã chính
là một trong những môi trường quan trọng tạo điều kiện cho cán bộ trưởng thành. Thông
qua quá trình triển khai và tổ chức cho quần chúng thực hiện các chủ trương, đường lối,
chính sách ở cơ sở, cán bộ sẽ có điều kiện gần gũi quần chúng, học hỏi ở quần chúng.
Cũng quá trình đó rèn luyện họ phải bình tĩnh, khách quan, nhanh nhạy trong ứng xử
công việc. Từ đó hình thành, phát triển tri thức, năng lực hoạt động thực tiễn, sự năng
động và khả năng sáng tạo cho cán bộ.
ngũ cán bộ xã. Về vị trí, xã là cấp cơ sở trong hệ thống chính trị, cấp thấp nhất trong hệ
thống hành chính bốn cấp của Nhà nước, gắn liền với các tổ chức tự quản của cộng đồng
làng, xã, cụm dân cư. Về tổ chức, đội ngũ này gồm hai bộ phận: một là do bầu cử theo nhiệm
kỳ, hai là theo chế độ tuyển dụng. Đội ngũ cán bộ xã ở thành phố Hà Nội cũng nằm trong
đặc điểm chung của đội ngũ cán bộ xã, tuy nhiên có những điểm khác biệt.
- Cán bộ xã ở Hà Nội phần lớn là dân bản địa, cư trú, sinh sống tại địa phương, có
quan hệ dòng tộc và gắn bó với dân làng về mọi mặt kinh tế, văn hóa, tình cảm và trong sinh
hoạt hàng ngày. Xuất phát từ thực tế đặc trưng truyền thống nhà - làng - nước của Người
Việt. Cán bộ xã hầu hết xuất thân là những người cùng làng, cùng xã. Họ đồng thời là người
đại diện cộng đồng, và người đại diện Nhà nước. Các yếu tố này chi phối các hoạt động của
họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích
cá nhân - cộng đồng - Nhà nước.
Phần lớn cán bộ xã bị chi phối bởi các quan hệ họ hàng, làng xóm, họ làm việc chịu
sự giám sát của dân, gắn bó với lợi ích gia đình, họ mạc, dòng tộc, xóm giềng. Họ là những
người hiểu dân, gần gũi với dân, thông thạo những phong tục, tập quán của nhân dân trên địa
bàn nên dễ đi vào lòng dân. Do vậy, đội ngũ này có điều kiện thuận lợi trong việc thuyết
phục nhân dân, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính từ đặc điểm này mà nhiều cán bộ xã đã coi
nặng tình cảm mà quên mất kỷ cương, phép nước, giải quyết công việc hoàn toàn dựa trên
tình cảm.
- Một bộ phận khá lớn trong đội ngũ cán bộ xã ở Hà Nội đã được rèn luyện và
trưởng thành qua thực tiễn. Bộ phận này có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động lãnh
đạo, quản lý, biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo và chủ động các chủ trương, nghị quyết,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc tổ chức thực tiễn tại
địa phương. Tận tụy trong công việc, giữ gìn được sự đoàn kết nội bộ, có uy tín với nhân
dân và giác ngộ nhân dân trong các phong trào thực tiễn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
kinh tế - xã hội ở địa phương, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây
dựng nông thôn mới.
- Đội ngũ cán bộ xã ở Hà Nội hiện nay có tính ổn định thấp so với cán bộ các cấp
Mặt khác, đội ngũ cán bộ xã ở đây làm việc còn theo lối tư duy kinh nghiệm, đôi
khi giải quyết công việc quá nguyên tắc, cứng nhắc, thiếu mềm dẻo, đôi khi lại giải quyết
công việc theo ý nghĩ chủ quan, tình cảm nên nhiều khi không đạt được hiệu quả công
việc. Từ thành phần xuất thân từ nông dân, tư tưởng tiểu nông, sống mang tính cộng
đồng cao với lối suy nghĩ “tam ngu thành hiền”, “xấu bầy hơn tốt lỏi” nên có xã còn tình
trạng cán bộ mất đoàn kết, cục bộ, bè cánh, níu kéo lẫn nhau không, không tạo điều kiện
cho đồng chí phát triển. Đặc biệt đối với những xã có chủ tịch và bí thư không ăn khớp,
dẫn đến tình trạng mất đoàn kết kéo dài ở mộ số xã.
- Phần lớn cán bộ xã ở thành phố Hà Nội vừa là cán bộ, vừa là người dân trực
tiếp sản xuất, kinh doanh. Đây là một đặc điểm hết sức quan trọng của đội ngũ cán bộ xã
ở thành phố Hà Nội. Họ có tư liệu sản xuất, đời sống gắn liền với kinh tế gia đình, kinh tế
tập thể, khi được “Đảng cử, dân bầu” thì làm, không trúng cử thì nghỉ.
Khác với cán bộ, công chức cấp trên cơ sở là những cán bộ nhà nước, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước, sống bằng lương, nghề nghiệp của họ là cán bộ, công chức,
viên chức. Đội ngũ cán bộ xã đều trực tiếp sống và làm ăn trên mảnh vườn, khổ ruộng
của họ. Họ vừa trực tiếp tham gia làm kinh tế gia đình, vừa tham gia việc xã. Trong nhiều
trường hợp, nguồn thu chính của họ không phải từ lương, phụ cấp từ ngân sách Nhà nước
mà chính là từ sản xuất kinh doanh. Nhiều cán bộ xã trẻ có năng lực đã bứt lên làm giàu
trên chính mảnh đất quê hương mình. Nhiều gương thanh niên điển hình từ các mô hình
làm ăn của các xã đã được biểu dương.
1.1.2. Quan niệm và vai trò của chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở thành
phố Hà Nội
1.1.2.1. Quan niệm về chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở thành phố Hà Nội
* Quan niệm về chính sách
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học,
2003): chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào
đường lối chính trị chung và thực tế mà đề ra.
Từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra một số
định nghĩa về "Chính sách".
những vấn đề mà nhóm chủ thể - đối tượng đó quan tâm theo một phương thức nhất định để
phân bổ giá trị" [83, tr.12].
Từ các công trình của các tác giả nghiên cứu về chính sách, đã cho thấy sự thống
nhất ở một số điểm cơ bản sau:
- Định nghĩa chính sách được đề cập tới đồng nghĩa với “chính sách công” (phân
biệt với "chính sách tư"), chính sách quốc gia tức là những chính sách có ảnh hưởng, tác
động đến toàn bộ xã hội.
- Chính sách có thể là đường lối, chủ trương của một chính đảng hay một chính
phủ, hay một tổ chức xã hội.
- Thực chất chính sách là tập hợp các phương án giải quyết các mâu thuẫn, các
xung đột về giá trị, có thể hiểu nó như là lời giải của bài toán xung đột các giá trị xã hội
trong một cộng đồng, có mục đích cuối cùng là tạo ra một trật tự quan hệ lợi ích mà cộng
đồng mong đợi thông qua ý chí của chủ thể cầm quyền quyết định.
- Chính sách do chủ thể quyền lực đề ra (Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ
thống chính trị).
- Chính sách bao gồm các quan điểm, chủ trương, quyết định, quy định có liên
quan lẫn nhau.
- Ngoài những giải pháp mang tính chất vĩ mô như các chủ trương, đường lối,
quan điểm chính sách còn là các giải pháp mang tính cụ thể như các quyết định, quy
định
- Chính sách tập trung giải quyết một lĩnh vực, một vấn đề đang đặt ra trong đời
sống chính trị - xã hội.
- Hướng vào những mục tiêu cụ thể đã xác định bởi một hệ thống tiêu chí.
Từ những nhận thức trên, có thể khái niệm về chính sách như sau:
Chính sách với nghĩa rộng là tổng thể các quan điểm, các biện pháp mà chủ thể
lãnh đạo, quản lý (Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội) tác động lên đối
tượng lãnh đạo, quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian
nhất định.
Chính sách theo nghĩa hẹp, là quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện đường lối,
cứ cách mạng. Có chính sách học bổng và miễn giảm học phí cho con em các gia đình có
công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, con các gia đình nghèo vượt khó, cho
học sinh giỏi, đạo đức tốt, sinh viên các ngành sư phạm. Bồi dưỡng tài năng ngay từ các
trường phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp. Dành kinh phí để cử cán bộ ưu tú và
sinh viên xuất sắc đi đào tạo, tham quan, bồi dưỡng ở nước ngoài. Tổ chức tốt trường bổ túc
văn hóa, dự bị đại học, trường dân tộc nội trú.
Nguồn đầu tư để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ bao
gồm từ ngân sách Nhà nước các cấp, kinh phí của các tổ chức đảng, đoàn thể, của doanh
nghiệp, tài trợ của các tổ chức quốc tế và các nước.
2- Chính sách sử dụng và bố trí cán bộ
Việc bố trí và sử dụng cán bộ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn phù hợp với sở
trường. Đề bạt cán bộ phải đúng lúc, đúng người, đúng việc. Có chính sách đoàn kết tập
hợp rộng rói cỏc loại cỏn bộ, trọng dụng những người có đức, có tài trong Đảng và ngoài
Đảng, người ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Phát hiện, lựa chọn
và giới thiệu những người đủ tiêu chuẩn trong các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh
tế tham gia cỏc tổ chức chớnh trị, xó hội, tạo điều kiện thuận lợi để họ đóng góp vào các
công việc chung của đất nước.
Có chế độ quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ. Các cấp uỷ, thủ trưởng các cơ quan
phải nắm chắc từng cán bộ, cả về đức, tài và tỡnh trạng sức khỏe.
Trên cơ sở đó có kế hoạch sử dụng, đề bạt, giúp đỡ, khen thưởng đúng mức những
cán bộ có thành tớch, xử lý kỷ luật kịp thời và nghiêm minh những cán bộ vi phạm Điều
lệ Đảng và pháp luật Nhà nước.
3- Chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần.