quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phường ở thành phố hà nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 13

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý đảng viên là một nội dung quan trọng của công tác đảng viên.
Làm tốt công tác quản lý đảng viên, các cấp uỷ, tổ chức đảng không chỉ nắm
chắc diễn biến chất lợng, số lợng, cơ cấu đội ngũ đảng viên và từng cá nhân
đảng viên mà đó cũng là quá trình giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên, tăng
cờng mối liên hệ chặt chẽ giữa đảng viên với tổ chức đảng, kịp thời có những
biện pháp công tác thích hợp để nâng cao chất lợng đội ngũ đảng viên.
Chính vì vai trò quan trọng của công tác quản lý đảng viên nh vậy nên
Đảng ta yêu cầu các tổ chức đảng phải thờng xuyên quản lý đảng viên xây dựng
nền nếp quản lý chặt chẽ đảng viên, giúp cho Đảng nắm chắc đảng viên "không
để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức"; mỗi đảng viên phải
"tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ" [18, tr.143].
t nc ta ang trong thi k tiếp tc y mnh ton din cụng cuc
i mi, cú nhiu c hi tin lờn. Tuy nhiờn, nc ta ang ng trc
nhiu thỏch thc ln, an xen nhau, tỏc ng tng hp v din bin phc tp,
khụng th coi thng bt c thỏch thc no. Tỡnh hỡnh ú đòi hỏi cụng tỏc
xõy dng Đảng nói chung, công tác xây dựng i ng ng viờn nói riêng
phi đợc tăng cờng và cú nhng đổi mới cho phự hp vi c im, yờu cu
v nhim v mi, trong đó phải chú trọng công tác quản lý đảng viên. Đại hội
X của Đảng yêu cầu: đề cao trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát đảng
viên của chi bộ. Đảng viên có cơng vị càng cao càng phải chấp hành sự quản lý
của chi bộ [22, tr.299].
Đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng ở thành phố Hà Nội là
lực lợng đảng viên đang trực tiếp đi đầu thực hiện và lãnh đạo nhân dân Thủ
đô thực hiện đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc.
Đội ngũ đảng viên này đang đứng trớc những yêu cầu ngày càng cao về phẩm
chất và năng lực, vừa chịu những tác động phức tạp nhiều mặt của môi trờng
công tác, nên công tác quản lý đội ngũ đảng viên này càng phải đợc quan tâm.
1
Trong thi gian qua, Thành uỷ, các quận uỷ và cỏc đng b phng ở

động thực tiễn cũng đã có những nghiờn cu về quản lý đảng viên ở các góc
độ khác nhau, tiêu biểu nh:
* Sách:
+ PTS Ngụ Kim Ngõn (ch biờn), (Nh xut b Chớnh tr quc gia,
1999): V nõng cao cht lng ng viờn trong s nghip i mi.
+ TS Ngc Ninh (ch biờn) (Nh xut bn Vn hoỏ dõn tc, 2003):
Phỏt huy vai trũ i ng ng viờn l ngi ngh hu khu vc nụng thụn
ng bng Bc b trong giai on hin nay.
+ PGS, TS Tụ Huy Ra v PGS, TS Trn Khc Vit (ng ch biờn)
(Nh xut bn Chớnh tr quc gia, 2003): Lm ngi cng sn trong giai
on hin nay.
+ PGS, TS Ngc Ninh (ch biờn) (Nh xut bn Chớnh tr quc gia,
2004): Nõng cao nng lc lónh o v sc chin u ca cỏc ng b
phng Th ụ H Ni hin nay.
* Các luận án, luận văn:
+ ng ỡnh Phỳ (1996): Nõng cao cht lng i ng ng viờn
cỏc t chc c s ng Phng, xó ven ụ trong cụng cuc i mi hin
nay - Lun ỏn Phú Tin S, Hc vin Chớnh tr quc gia H Chớ Minh.
+ Nguyn Vn Giang (2002): Nõng cao cht lng i ng ng viờn
vựng cú ng bo cụng giỏo cỏc tnh ven bin ng bng Bc b trong giai
on hin nay - Lun ỏn Tin s, Hc vin Chớnh tr quc gia H Chớ Minh.
+ Cao Th Thanh Võn (2002): Nõng cao cht lng i ng ng viờn
nụng thụn ng bng Sụng Hng trong thi k y manh cụng nghip hoỏ
- Lun ỏn Tin s, Hc vin Chớnh tr quc gia H Chớ Minh.
+ ng Th Minh Ho (2003): Nõng cao cht lng i ng ng
viờn trong cỏc trng trung hc ph thụng H Ni trong giai on hin
nay - Lun vn Thc s, Hc vin Chớnh tr quc gia H Chớ Minh.
+ Nguyn Hunh Long (2005): Nõng cao cht lng i ng ng
viờn l giỏo viờn trong cỏc trng trung hc ph thụng Thnh Ph H Chớ
3

viờn l cỏn b,cụng chc phng ở thnh ph H Ni hin nay.
4
- ỏnh gớá ỳng thc trng quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công
chức phờng ở thnh ph H Ni t nm 2005 n nay; rỳt ra nguyờn nhõn,
kinh nghim.
- xut phng hng v nhng gii phỏp ch yu để tăng cờng
quản lý i ng ng viờn l cỏn b, công chức phng ở th nh ph H Ni
hin nay.
4. i tng, phạm vi nghiờn cu của luận văn
* Đối tợng nghiên cứu
ti nghiờn cu quản lý i ng ng viờn l cỏn b, cụng chc
phng ở thnh ph H Ni.
* Phạm vi nghiên cứu
ti khảo sát công tác quản lý đội ngũ đảng viên là cỏn b, cụng chc
phng ở thnh ph H Ni c trong thi gian t 2005 n nay v xut
phng hng, gii phỏp quản lý đảng viên l cỏn b, cụng chc phng
H Ni t nay n nm 2015.
5. C s lý lun v phng phỏp nghiờn cu của luận văn
* C s lý lun
ti c nghiên cứu trờn c s lý lun ca ch ngha Mỏc-Lờnin, t
tng H Chớ Minh v quan im ca ng ta v xõy dng ng, xây dựng,
quản lý đội ngũ đảng viên. Luận văn k tha kt qu nghiờn cu ca cỏc cụng
trình khoa hc cú liờn quan ó c cụng b.
* Phng phỏp nghiờn cu
ti c nghiên cứu trờn c s phng phỏp lun ca ch ngha
Mỏc-Lờnin, sử dụng kết hợp các phơng pháp tổng kết thc tin, lôgic - lch s,
phõn tớch v tng hp, iu tra xó hi hc
6. Nhng úng gúp về khoa học ca luận văn
- Gúp phn lm rừ thờm quan nim, nội dung, phng thức, bin phỏp
quản lý đảng viên là cỏn b, cụng chc phng ở thnh ph H Ni hin nay.

02’ kinh độ Đông. Hà Nội tiếp giáp 5 tỉnh: phía Bắc giáp
Thái Nguyên; phía Đông giáp Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây giáp Vĩnh
Phúc; phía Nam giáp Hà T©y. Thành phố gồm 9 quận nội thành: Hoàn Kiếm,
Đống Đa, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Tây Hồ, Hoàng
Mai, Long Biên và 5 huyện ngoại thành: Sóc Sơn, Đông Anh, Thanh Trì, Từ
Liêm, Gia Lâm.
Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá và là địa bàn chiến lược đặc biệt
quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh và đối ngoại
của cả nước. H¬n hai mươi năm đổi mới vµ phát triển, đi đúng định hướng và
vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, đưa sự nghiệp đổi mới của Hà
Nội đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, chuyển biến cơ bản trong đời
sống xã hội.
Với 920,97 km
2
, và khoảng 3.118.200 triệu dân số trong 9 quận nội
thành và 5 huyện ngoại thành.
Toàn thành phố Hà nội có 128 phường và 9 quận nội thành của Hà Nội.
phường là cấp hành chính cơ sở ở nội thành - đặc biệt đối với phường của thủ
đô Hà Nội lại càng có vai trò quan trọng hơn trong việc lãnh đạo, phổ biến và
7
tổ chức, quản lý, động viên quần chúng nhân dân thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng như các nhiệm vụ chính
của địa phương… thông qua đó, để đưa được các đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các nhiệm vụ của địa phương
đó vào cuộc sống, tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động của
cán bộ, đảng viên và nhân dân trong phường. Từ việc thực hiện những chủ
trương, đường lối, chính sách… sẽ tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, vận động nhân dân làm tròn nghĩa
vụ công dân đối với nhà nước.
Vai trò của phường ở thủ đô Hà Nội gắn liền với vị trí, vai trò đặc biệt

Quyết định số 1408/QĐUB ngày 15-4-1982 để hướng dẫn các phường hoạt
động theo hình thức mới. Tiếp đến ngày 15-1-1986, Ban Thường vụ Thành ủy
và Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã họp và quyết định: đi
đ«i với việc quản lý hành chính về mặt nhà nước, quản lý xã hội, quản lý dân
cư, chăm lo đời sống nhân dân, chính quyền phường phải quản lý các tổ chức
sản xuất tiểu thủ công nghiệp (cả tập thể và cá nhân) về các mặt xây dựng,
thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân phối, chấp hành các chế độ, thể
lệ tài chính, giá cả và nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước bước
vào thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng và lãnh đạo.
Thủ đô Hà Nội cũng dần dần chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường. Cấp
phường lại có vai trò rất quan trọng trong điều kiện thực hiện cơ chế mới.
Trên cơ sở các văn bản của Nhà nước và của Thủ đô đã ban hành, Ủy ban
nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quy định số 3940/QĐUB ngày 25-8-
1990, về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền phường. Bản quy định gồm 20
điều, trong đó nêu rõ:
Phường là đơn vị hành chính cơ sở nội thành, nội thị, là nơi
trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân. Chính
quyền phường có chức năng chủ yếu là quản lý hành chính nhà nước,
quản lý xã hội và chăm lo phục vụ đời sống dân cư [51, tr.9].
9
Điều 1 của Quy định ghi rõ: Ủy ban nhân dân phường thực hiện chức
năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các đơn vị và công dân trên địa bàn
phường về việc chấp hành các chủ trương, chính sách, và pháp luật của Nhà
nước, các quy định của thành phố về quản lý kinh tế, xã hội và đô thị; chịu sự
quản lý và điều hành tập trung, thống nhất của quận, thị xã (gọi tắt là quận),
thành phố trong quản lý dân cư, quản lý xã hội, quản lý đô thị [51, tr.10].
Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trên địa bàn
thủ đô, vị trí, vai trò của phường ở Hà Nội ngày càng được nhận thức và

Do vậy, để làm tốt được các vấn đề về kinh tế, văn hoá, giáo dục, an
ninh, quốc phòng, quản lý về đất đai, dân cư, lao động… thì cần được định
hướng và chỉ đạo thực hiện đúng hướng, có hiệu quả. Có như vậy phường
mới phát triển mạnh, bền vững; từ đó, mới có thể khẳng định phưòng mạnh
mà nếu phường mạnh thì quận mạnh và từ đó sẽ tạo đà cho Thủ đô vững
mạnh. Và Thủ đô Hà Nội là trung tâm, là trái tim của cả nước, vì thế, nó có
thật sự vững mạnh thì sẽ tác động lớn đến sự phát triển của đất nước.
1.1.1.2. Đặc điểm của phường ở thành phố Hà Nội
Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy các phêng ở thµnh phè Hµ Néi có
một số đặc điểm sau:
Một là, phường ở Hà Nội là đơn vị cơ sở thuộc hệ thống hành chính
bốn cấp ở nước ta, nằm trên địa bàn thủ đô, đó là trung tâm đầu não chính
trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ và giao dịch quốc tế.
Phường là cấp cơ sở trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta, được
Điều 118 Hiến pháp 1992 quy định: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã;
thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;Huyện
chia thành xã, thị trấn; thành phố trùc thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và
xã; quận chia thành phường. Như vậy, hệ thống chính trị ở nước ta từ Trung
ương đến cơ sở là một thiết chế xã hội bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam,
chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội, hoạt động trong khuôn khổ của
11
Hiến pháp và pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phường là đơn vị hành
chính lãnh thổ cấp cuối cùng ở nước ta; phường có đầy đủ các tổ chức trong
hệ thống chính trị, có các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp,…
Có thể nói phường là hình ảnh thu nhỏ của một xã hội, phần rất lớn các hoạt
động của đời sống xã hội đều được diễn ra ở phường. Nghĩa là đường lối, chủ
trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hội tụ
về phường và được tổ chức thực hiện. Phường là nơi phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, nơi kiểm nghiệm những chủ trương của Đảng và Nhà nước về

cỏc c quan Trung ng, cỏc trng i hc hot ng t kt qu tt hn.
Song, nhỡn chung h gp nhiu khú khn v iu kin c th thng khụng
cho phộp h thc hin iu ú.
Nhiu phng H Ni cú cỏc di tớch lch s, danh lam thng cnh,
õy l iu kin rt thun li cỏc phng phỏt trin vn húa, nõng cao trỡnh
dõn trớ, cng nh phỏt trin du lch, dch v tng thu ngõn sỏch ca
phng. c bit cỏc phng H Ni l ni c trỳ ca hng ngn cỏn b,
cụng chc ca Trung ng v H Ni, trong ú cú nhiu cỏn b cao cp ca
ng, Nh nc. Theo quy nh ca Trung ng, nhng cỏn b ny phi bit
gi mi liờn h vi cp y, chớnh quyn ni c trỳ. õy l iu kin rt thun
li cỏc phng tn dng, phỏt huy trớ tu, kinh nghim ca cỏc cỏn b,
cụng chc ú, vỡ s phỏt trin ca phng.
Ba l, phờng ở Hà Nội phân chia thành nhiều loại rất đa dạng; kinh tế
hàng hoá trên địa bàn phờng đang có xu hớng phát triển mạnh.
Phờng ở Hà Nội rất đa dạng. Các phờng thuộc khu phố cổ là trung tâm
buôn bán, sản xuất, dịch vụ nh: phờng Đồng Xuân, Phố Huế, Cửa Đông, Hàng
Mã, Hàng Đào Có các ph ờng lại chủ yếu là nơi đặt cơ quan của Trung ơng
hoặc của Thành phố. Có những phờng tập trung nhiều khu tập thể cao tầng của
cán bộ, công chức, nh: phờng Nghĩa Tân, Trung Tự, Thành Công, Thanh Xuân
Bắc Lại có nhiều ph ờng mới đợc chuyển đổi từ các xã do quá trình phát
13
triển, mở rộng thủ đô; cơ cấu kinh tế nên vẫn còn một bộ phận sản xuất nông
nghiệp, nh: phờng Phúc Tân, Nhật Tân, Xuân La, Mai Dịch
Trên địa bàn các phờng kinh tế hàng hoá đang có xu hớng phát triển
mạnh mẽ. Nhiều doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp t nhân, các công ty liên
doanh, công ty cổ phần, các văn phòng đại diện trong nớc và nớc ngoài đợc
thành lập.
Bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của cơ chế thị trờng cũng gây
nên những khó khăn không nhỏ đối với hoạt động của phờng. Những biểu
hiện suy thoái đạo đức, lối sống, những tệ nạn xã hội nảy nở, phát triển, một

1.1.2. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của đảng bộ phờng
ở thành phố Hà Nội
Đảng bộ thành phố Hà Nội đến cuối năm 2007 (trớc khi mở rộng) có
128 đảng bộ phờng với 199.262 đảng viên. Sau khi mở rộng (ngày 01-8-
2008), số đảng bộ phờng tăng lên 148 với 314.670 đảng viên (số liệu tính đến
31-12-2008).
1.1.2.1. Vai trò của đảng bộ phờng
Trong h thng chớnh tr phng, cỏc ng b phng l mt b
phn, ng thi lónh o h thng y. Ngoi nhng im chung v vai trũ t
chc c s ng, cỏc ng b phng cũn cú nhng im riờng c thự, do
tớnh c thự ca cp phng quy nh.
Cỏc ng b phng H Ni l nn tng ca ng, l ngi trc tip
a ng li, ngh quyt ca ng, chớnh sỏch ca Nh nc, ngh quyt,
ch trng ca cp trờn n vi nhõn dõn v lónh o t chc thc hin thng
li ng li, ch trng, ngh quyt y; lónh o cỏc hot ng phng
bo m cho cỏc hot ng i ỳng ng li, quan im ca ng, chớnh
sỏch phỏp lut ca Nh nc. Cỏc ng b phng cú vai trũ rt to ln trong
vic kim nghim, khng nh tớnh ỳng n ca ng li, ngh quyt ca
ng; úng gúp cho ng nhng ý kin, kinh nghim ng sa i, b
sung ch trng, chớnh sỏch cho ỳng n hn, v ra ch trng, chớnh
sỏch mi. ú l cu ni tổ chức ng vi nhõn dõn phng, nm bt tõm t,
15
tình cảm, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với Đảng. Thông qua hoạt
động của các đảng bộ phường mà Đảng được dân tin, dân phục, dân yêu.
Đảng bộ phường còn là người trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp đảng viên,
tiến hành tất cả các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng.
1.1.2.2. Chức năng của đảng bộ phường
Theo quyết định số 94/QĐ-TW ngày 03-03-2004 của Ban Bí thư Trung
ương Đảng, các đảng bộ phường có chức năng: Đảng bộ, chi bộ cơ sở
phường, thị trấn là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ

và công tác quản lý đô thị trên địa bàn phường; thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ
sở hạ tầng theo quy hoạch; chăm lo phát triển sự nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế,
bảo vệ môi trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo.
Lãnh đạo việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực
hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; giám sát
mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kịp
thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân cư ở cơ sở
theo đúng pháp luật; không để tích tụ được mâu thuẫn trở thành điểm nóng;
không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ
để làm mất ổn định chính trị trên địa bàn.
Lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách
hậu phương quân đội; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; đề
cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bé, bảo vệ tài sản của Nhà
nước, của tập thể, tính mạng và tài sản của nhân dân; ngăn chặn và đẩy lùi các
tệ nạn xã hội, nhất là ma túy, mại dâm.
Thứ hai, lãnh đạo công tác tư tưởng.
Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng,
đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh và phát huy truyền thống yêu nước, yêu chủ
nghĩa xã hội trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thanh niên, thiếu niên;
xây dựng tình đoàn kết, gắn bó, thương yêu, giúp đỡ nhau; xây dựng môi
17
trường văn hóa lành mạnh ở tổ dân phố, khu dân cư và trong từng gia đình;
chú trọng tuyên truyền và nhân rộng gương người tốt, việc tốt, các nhân tố
tích cực trên mọi lĩnh vực.
Tuyên truyền, vận động làm cho nhân dân hiểu và chấp hành đúng
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các
nhiệm vụ của địa phương; kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng
lớp nhân dân để giải quyết và báo cáo lên cấp trên.
Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và nhân dân đấu tranh chống lại các quan

hội khác.
Thứ năm, xây dựng tổ chức Đảng.
Đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ
trong sạch, vững mạnh, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ
sở; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ
đảng viên, nhất là việc phát hiện và đấu tranh chống tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; chú trọng xây dựng và nâng
cao chất lượng lãnh đạo của các chi bộ, tổ đảng ở tổ dân phố, khu dân cư.
Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập
trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện có nền nếp và nâng
cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính
chiến đấu.
Giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong
gương mẫu, phấn đấu trở thành người lao động giỏi, công dân mẫu mực;
nghiêm chỉnh chấp hành và vận động, thuyết phục nhân dân chấp hành
nghị quyết của tổ chức đảng, quyết định của chính quyền và chương trình
hành động của các đoàn thể nhân dân. Cấp ủy xây dựng kế hoạch và tạo
điều kiện cho đảng viên thực hiện nhiệm vụ học tập, không ngừng nâng
cao trình độ về mọi mặt.
Cấp ủy xây dựng kế hoạch, biện pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và
tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Làm tốt công tác
động viên, xử lý nghiêm minh, kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm
Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước.
19
Làm tốt công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên, bảo đảm về tiêu
chuẩn và quy trình, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh và những người lao động giỏi, có uy tín trong quần chúng.
Xây dựng cấp ủy và bí thư cấp ủy bảo đảm tiêu chuẩn về phẩm chất, năng
lực, thực sự là trung tâm đoàn kết, hoạt động có hiệu quả, được đảng viên và
nhân dân tín nhiệm. Định kỳ hàng năm, cấp ủy tổ chức để quần chúng tham gia

đảng bộ phường. Đây là tỷ lệ rất cao so với các phường ở các thành phố, thị
xã trong cả nước. Những đảng viên này có trình độ mọi mặt khá cao, có uy
tín, năng lực công tác, có kinh nghiệm sống và kinh nghiệm công tác. Trong
số đó, nhiều người đã là cán bộ trung, cao cấp (kể cả những người nguyên là
Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng …)
của Đảng, là những cán bộ, công chức trong các cơ quan đảng, nhà nước, các
đoàn thể chính trị - xã hội, họ đã hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Đây thực sự là tiềm năng và thế mạnh của các đảng bộ phường ở
Hà Nội. Nếu cấp ủy biết khai thác, phát huy một cách hợp lý tiềm năng, thế
mạnh đó, thì hoạt động lãnh đạo của đảng bộ phường sẽ đạt kết quả tốt hơn.
Bộ phận đảng viên trưởng thành tại chỗ, trực tiếp tham gia công tác tại
phường chiếm tỷ lệ gần 20%. Đây là lực lượng chủ lực, tuổi đời còn trẻ, kinh
nghiệm công tác còn chưa nhiều, cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và rèn luyện phẩm chất
đạo đức, lối sống để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Trên địa bàn phường ở Hà Nội còn có một số không nhỏ đảng viên là
cán bộ, công chức đang công tác tại các cơ quan Đảng, Nhà nước và các
đoàn thể của Trung ương, thành phố, quận…, cư trú trên địa bàn phường.
Ngoài thời gian làm việc ở cơ quan (s¸u ngày trong một tuần), số thời gian
rất lớn còn lại họ sinh hoạt, hoạt động tại các phường của Hà Nội. Đây là
những cán bộ, đảng viên đang công tác nên thường nắm chắc đường lối,
quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có điều kiện tiếp
thu những thông tin mới, thông tin đã được định hướng, do đó họ có kinh
21
nghiệm công tác. Thực hiện Quy định số 76/QĐ-TW ngày 15-6-2000 của
Bộ Chính trị về đảng viên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và
gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú, những đảng viên này
có điều kiện đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm cho các đảng bộ phường. Các
đảng bộ phường cũng có điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò và sự đóng
góp của những đảng viên đó vào hoạt động của mình.

Các đảng bộ phường ở những nơi này cần tập trung lãnh đạo phát triển
kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế, các hộ gia đình phát triển sản
xuất kinh doanh, thực hiện đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, chống trốn lậu thuế, tăng nguồn thu cho phường, đồng thời
đóng góp vào ngân sách của quận, thành phố.
- Đảng bộ ở các xã chuyển thành phường.
Là đảng bộ phường ở các vùng ven nội đô trước kia và các quận mới
thành lập trong thời gian gần đây; cơ sở hạ tầng ở những nơi này còn yếu kém,
kinh tế chậm phát triển, chủ yếu là sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ,
do đó các tệ nạn xã hội cũng dễ nảy nở, sự phát triển. Sự lãnh đạo của các đảng
bộ phường gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Trọng tâm lãnh đạo của các đảng bộ
phường là phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, giữ gìn an
ninh, trật tự, xây dựng cơ sở hạ tầng tạo nên sự ổn định, phát triển.
1.1.3. Quan niÖm, vai trò và đặc điểm đội ngũ đảng viên là cán bộ,
công chức phường ở thành phố Hà Nội
1.1.3.1. Quan niÖm về đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức
phường ở thành phố Hà Nội
Hệ thống chính trị cấp phường ở các thành phố nói chung, ở thành phố
Hà Nội nói riêng là một thiết chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam và
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lập ra ở đơn vị cơ sở cấp
phường. Hệ thống chính trị phường bao gồm các tæ chøc: Đảng bộ phường,
23
chính quyền phường, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội phường. Trong
hệ thống đó, đảng bộ phường là hạt nhân lãnh đạo chính tri của toàn bộ hệ thống.
Hoạt động trong hệ thống chính trị phường có đông đảo cán bộ đảng
viên của Đảng. Theo quan điểm của Đảng ta, hÖ thống chính trị ở cơ sở có
cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách. Cán bộ chuyên trách ở cơ
sở có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công
chức nhà nước…Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia
công việc trong một phần thời gian lao động. Trên cơ sở quan điểm này, Pháp

phng. Trong 128 phờng ca Hà Nội hiện ang cú 2.610 đảng viên l cán
bộ, công chức phờng. Hin nay, tt c s đảng viên ny u sinh hoạt ti
chi b cơ quan phng.
Theo qui nh mi hin nay, Hi ng nhõn dõn thuc chớnh quyn
phng s thụi hot ng, vỡ vy nhng cỏn b cụng chc ca h thng chớnh
tr phng s khụng cú cỏn b ca hi ng nhõn dõn.
1.1.3.2. Vai trũ i ng ng viờn l cỏn b, cụng chc phng
thnh ph H Ni
Phờng là nơi hội tụ sự chỉ đạo của các ngành, các cấp, các đoàn thể
thuộc hệ thống ngành dọc từ trên xuống. Đội ngũ đảng viên là cán bộ, công
chức ở các phờng ở thành phố Hà Nội phải là chủ thể giải quyết và phối hợp
các mối quan hệ nêu trên. Để đạt đợc điều đó, đòi hỏi phải có khả năng giải
quyết công việc đảm bảo theo đúng đờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nớc
và sự chỉ đạo của cấp trên. Họ phải là những ngời chịu trách nhiệm chính trớc
Đảng, Nhà nớc và trớc nhân dân. Đồng thời là ngời trực tiếp giải quyết các
vấn đề, nguyện vọng của đảng viên, quần chúng; là cầu nối giữa Đảng với
nhân dân nên đòi hỏi họ phải có phẩm chất trí tuệ, năng lực và kinh nghiệm
thực tiễn. Vì vậy, việc nâng cao chất lợng quản lý của đội ngũ đảng viên là
cán bộ, công chức ở phờng là yêu cầu cơ bản, là vấn đề cấp thiết nhằm đáp
ứng nhiệm vụ của Đảng và Nhà nớc giao cho.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status