mụC LụC
Trang
mở đầu
1
Chơng 1: quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức
phờng ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay - những vấn đề lý luận và thực tiễn
7
1.1. Phờng, Đảng bộ phờng và đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng ở
thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 7
1.2. Quan niệm, nội dung, phơng thức, vai trò quản lý đội ngũ đảng viên là cán
bộ, công chức phờng ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 30
Chơng 2: Quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức
phờng ở thành phố Hà Nội - thực trạng,
nguyên nhân và kinh nghiệm
41
2.1. Thực trạng quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng ở thành
phố Hà Nội (từ năm 2005 đến nay) 41
2.2. Nguyên nhân và kinh nghiệm 53
Chơng 3: phơng hớng và những giải pháp chủ yếu để tăng
cờng quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ,
công chức phờng ở thành phố Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay
58
3.1. Phơng hớng tăng cờng quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng
ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 58
3.2. Những giải pháp chủ yếu để tăng cờng quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ,
công chức phờng ở thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 61
kết luận
81
Danh mục tài liệu tham khảo
chất và năng lực, vừa chịu những tác động phức tạp nhiều mặt của môi trờng
công tác, nên công tác quản lý đội ngũ đảng viên này càng phải đợc quan tâm.
Trong thi gian qua, Thành uỷ, các quận uỷ và cỏc đng b phng ở
thnh ph H Ni ó chú trọng đến công tác quản lý đội ngũ đảng viên là cán
bộ, công chức phờng. Nhiều nội dung, biện pháp quản lý đội ngũ đảng viên là
cán bộ, công chức phờng đợc triển khai thực hiện hoặc đợc đổi mới nh: tổ
chức cho nhân dân phờng tham gia giám sát, quản lý đảng viên thông qua thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức nghiêm túc việc chi bộ giao nhiệm vụ và
kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ; thực hiện thành nề nếp chế độ
tự phê bình và phê bình trong đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng
Do ú, ó gúp phn quan trọng nâng cao chất lợng đội ngũ đảng viên là cán
bộ, công chức phờng, phòng ngừa và hạn chế một bớc sự sai phạm của đội ngũ
đảng viên này.
Tuy nhiờn, so vi yờu cu v nhim v mi đối với đội ngũ đảng viên là
cán bộ, công chức phờng, công tác quản lý đội ngũ đảng viên này vẫn còn
nhiều bất cập. Tình trạng đảng viên không gắn bó, tích cực hoạt động, và chi
bộ không nắm đợc hoàn cảnh, t tởng, phẩm chất của đảng viên còn xảy ra ở
không ít nơi, ngay cả đối với những đảng viên do môi trờng công tác cần đặc
biệt quản lý, giám sát. Kết quả là các ng b phng ở thnh ph H Ni cũn
nhiu bt cp, cht lng i ng ng viờn ca cỏc ng b phng cũn bc
l nhiu yu kộm, tn ti. Mt b phn ng viờn, trong ú cú c ng viờn cú
chc cú quyn ó phai nht lý tng, mt sc chin u, hỏch dch, ca
quyn, gia trng nh hng xu n uy tớn ca ng.
Trớc yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, vic nghiờn cu, lm rừ cơ sở
lý luận và thực tiễn của vn : Qun lý i ng ng viờn l cỏn b, cụng
chc phng thnh ph H Ni trong giai on hin nay nhằm góp phần
tăng cờng quản lý đội ngũ đảng viên này có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và
thực tiễn.
2.Tỡnh hỡnh nghiờn cu liên quan đến ti
Quản lý ng viờn l mt ni dung quan trng ca cụng tỏc xõy dng
viờn l giỏo viờn trong cỏc trng trung hc ph thụng Thnh Ph H Chớ
Minh giai on hin nay - Lun vn Thc s, Hc vin Chớnh tr quc gia H
Chớ Minh.
+ Nguyn Th Ngc Loan (2006): Cht lng i ng ng viờn l
cỏn b chuyờn trỏch cỏc Phng thnh ph H Ni giai on hin nay -
Lun vn Thc s, Hc vin Chớnh tr quc gia H Chớ Minh.
+ Trn Th Bớch Thu (2006): Xõy dng i ng cỏn b ch cht ca
h thng chớnh tr cp Phng Qun Thanh Xuõn thnh ph H Ni giai on
hin nay - Lun vn Thc s, Hc vin Chớnh tr quc gia H Chớ Minh.
+ Nguyễn Văn Doãn (2008): Quản lý đảng viên là ngời công giáo ở các
đảng bộ xã của huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay -
Lun vn Thc s, Hc vin Chớnh tr - Hnh chớnh quc gia H Chớ Minh.
+ Tôn Mạnh (2008): Công tác quản lý đảng viên ở đảng bộ các cơ quan
dân chính đảng, tỉnh Nghệ an trong giai đoạn hiện nay - Lun vn Thc s,
Hc vin Chớnh tr - Hnh chớnh quc gia H Chớ Minh.
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cu trờn, ở những góc độ và mức độ khác nhau
đã bàn đến vấn đề quản lý đảng viên. Một số công trình đã i sõu lun gii c
s lý lun và thực tiễn quản lý đảng viên, ch ra phng hng v gii phỏp
tăng cờng, đổi mới công tác quản lý đội ngũ đảng viên ở một địa bàn cụ thể.
Tuy nhiờn, đến nay cha cú cụng trỡnh no i sõu nghiờn cu v quản lý đội
ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng ở thành phố Hà Nội.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mc ớch
Gúp phn lm rừ c s lý lun v thc tin ca vn quản lý i ng
ng viờn là cán bộ, công chức phờng ở thnh ph H Ni giai on hin nay;
t ú xut nhng gii phỏp khả thi để tăng cờng công tác quản lý đội ngũ
đảng viên này trong giai on hin nay.
* Nhim v
- Lm rừ c im i ng ng viờn l cỏn b, công chức phng ở
thnh ph H Ni.
- ỏnh giỏ ỳng thc trng v xut nhng gii phỏp cú tớnh kh thi
để tăng cờng quản lý đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức phờng ở thnh
ph H Ni trong giai on hin nay.
7. í ngha lý lun v thc tin ca lun vn
Luận văn có thể l m ti liu tham khảo cho các cấp uỷ đảng ở Hà Nội
trong công tác quản lý đảng viên v l m ti liu tham khảo cho cụng tỏc
nghiên cứu, học tập môn xây dựng Đảng.
8. Kt cu của luận văn
Ngoi phn m u, kt lun, danh mc ti liu tham kho, ph lc,
lun vn gm 3 chng, 6 tit.
Chương 1
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. PHƯỜNG, ĐẢNG BỘ PHƯỜNG VÀ ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1.1. Vai trò và đặc điểm của phường ở thành phố Hà Nội
1.1.1.1. Vai trò của phường ở thành phố Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nằm ở
trung tâm đồng bằng sông Hồng, có vị trí từ 20
0
53’ đến 21
0
23’ vĩ độ Bắc từ
105
0
44’ đến 106
0
02’ kinh độ Đông. Hà Nội tiếp giáp 5 tỉnh: phía Bắc giáp
Thái Nguyên; phía Đông giáp Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây giáp Vĩnh
ngoại giao, các tổ chức quốc tế đặt trụ sở và làm việc. Nơi đây diễn ra các
hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vị trí, vai trò của phường ở Hà Nội được Đảng ta, Thành ủy Hà Nội
nhất quán khẳng định, thể hiện trong các chủ trương và những việc làm cụ
thể nhằm xây dựng phường ở Hà Nội ngày càng vững mạnh. Ngay sau khi
thủ đô được giải phóng (10-10-1954), việc quan tâm xây dựng cấp cơ sở ở
Hà Nội đã được thể hiện và thu được những thành quả đáng ghi nhận. Đến
năm 1974, căn cứ vào tình hình thực tế, thành phố Hà Nội kiện toàn lại một
bước về tổ chức và xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cấp cơ sở của
nội thành. Từ 231 ban đại diện dân phố được sắp xếp lại thành 185 ban đại
diện hành chính tiểu khu; quy mô mỗi tiểu khu từ 2.000 đến 5.000 dân.
Năm 1978, Thành ủy Hà Nội tiến hành thí điểm, lập ra ủy ban nhân dân
tiểu khu, mỗi tiểu khu có khoảng 10.000 dân… Đi liền với quá trình đó, tổ
chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể cũng được sắp xếp, kiện toàn phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ của cơ sở nội thành. Đó là chủ trương và phương
hướng phát triển đóng đắn.
Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định, đơn vị hành chính ở Hà Nội chia thành ba cấp. Riêng ở nội thành,
dưới thành phố là cấp quận và dưới quận là cấp phường. Quyết định số
94/HĐBT ng y 26-9-1981 cà ủa Hội đồng Bộ trưởng quy định: Phường là đơn
vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị, tổ chức theo khu vực dân cư ở đường
phố, có khoảng 7.000 đến 12.000 dân. Chức năng chủ yếu của bộ máy chính
quyền cấp phường là quản lý hành chính nhà nước, quản lý xã hội, quản lý và
chăm lo phục vụ đời sống dân cư.
Thực hiện quyết định nêu trên, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ra
Quyết định số 1408/QĐUB ngày 15-4-1982 để hướng dẫn các phường hoạt
động theo hình thức mới. Tiếp đến ngày 15-1-1986, Ban Thường vụ Thành ủy
và Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã họp và quyết định: đi
đ«i với việc quản lý hành chính về mặt nhà nước, quản lý xã hội, quản lý dân
cuộc đổi mới của thủ đô. Thực tế đã khẳng đinh, phường mạnh thì quận
mạnh, quận mạnh thì thủ đô vững mạnh; thủ đô mạnh sẽ tác động lớn đến
sự phát triển của đất nước. Phường yếu kém không ổn định, có nhiều điểm
nóng thì quận không ổn định, không phát triển được, thậm chí gây hậu quả
xấu đối với thủ đô; ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của đất nước,
đến uy tín, thanh danh của Đảng.
Như vậy, phuờng bên cạnh vai trò là nơi phổ biến tổ chức, quản lý,
động viên quần chúng nhân dân trong phường thì còn có vai trò trong việc
bảo đảm ổn định chính trị, chống lại những liệu điệu xuyên tạc đối với đuờng
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nuớc. Cấp phường
là cấp cơ sở cuối cùng trong hệ thống chính trị và là nơi tiếp nhận những ý
kiến, những thắc mắc rất đời thường của quần chúng nhân dân trên những vấn
đề đang diễn ra về văn hoá, giáo dục; y tế; về kinh tế; về an ninh, quốc phòng;
về quản lý dân cư và xã hội; về quản lý lao động, về quản lý nhà, đất đai (đây
là vấn đề nóng bỏng, đang diễn ra khá phức tạp hàng ngày, hàng giờ - đặc biệt
là ở một số xã vừa được chuyển lên phường khi Hà Nội mở rộng, phát triển
thêm những quận mới). Những vấn đề này liên quan đến cuộc sống hàng ngày
của người dân, nếu các phường không giải quyết triệt để, tận gốc, hợp tình,
hợp lý thì sẽ xảy ra vấn đề khiếu kiện kéo dài, thậm chí sẽ vượt cấp… điều
này sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới vai rò lãnh đạo của các đảng bộ phường, các
quận uỷ, Thµnh uû Hµ Néi nói riêng cũng như của toàn Đảng nói chung. Cũng
từ những việc giải quyết không ổn thoả ở phường có thể sẽ tạo sơ hở cho các
thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, xúi bẩy nhân dân, khiếu kiện đông người,
gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Do vậy, để làm tốt được các vấn đề về kinh tế, văn hoá, giáo dục, an
ninh, quốc phòng, quản lý về đất đai, dân cư, lao động… thì cần được định
hướng và chỉ đạo thực hiện đúng hướng, có hiệu quả. Có như vậy phường
mới phát triển mạnh, bền vững; từ đó, mới có thể khẳng định phưòng mạnh
mà nếu phường mạnh thì quận mạnh và từ đó sẽ tạo đà cho Thủ đô vững
mạnh. Và Thủ đô Hà Nội là trung tâm, là trái tim của cả nước, vì thế, nó có
thị xã khác. Song, đối với các phường ở thủ đô Hà Nội, những hoạt động đó diễn
ra với những đặc điểm riêng. Các phường ở nơi khác hoạt động yếu kém cũng ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố đó. Nhưng đối với thủ
đô Hà Nội, nếu phường hoạt động yếu sẽ ảnh hưởng đến thủ đô và đến cả nước.
Nếu xảy ra những vấn đề phức tạp, nhất là những điểm nóng, sẽ ảnh hưởng nhất
định đến sự ổn định chính trị của thủ đô, đến uy tín, thanh danh của Đảng và của
đất nước trên trường quốc tế; và các thế lực thù địch dễ lợi dụng tình hình đó để
phá hoại Đảng, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Đặc điểm nêu trên quy định và đòi hỏi các phường ở Hà Nội phải được
đầu tư xây dựng ngày càng vững mạnh, hoạt động đạt kết quả tốt, không được
phép để xảy ra những sai sót, nhất là xảy ra những phức tạp về an ninh, trật tự
và các điểm nóng.
Hai là, nhiều phường ở Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu não
của Trung ương và của thủ đô, các doanh nghiệp, công ty, bệnh viện, trường
hc ca Trung ng v ca H Ni; ni cú nhiu di tớch lch s, cỏc danh
lam thng cnh.
õy l th mnh v c im riờng cú ca nhiu phng th ụ H
Ni. Cỏc phng cú iu kin thun li trong vic trc tip quan h vi cỏc
c quan Trung ng, cỏc doanh nghip, cụng ty, cỏc trng i hc, cao ng
phi hp hot ng gia phng vi cỏc c quan ú trong hot ng xõy
dng phng, to iu kin cho phng phỏt trin, hot ng t kt qu cao.
Cỏc xó cng nh cỏc phng nhng ni khỏc cú th trc tip quan h vi
cỏc c quan Trung ng, cỏc trng i hc hot ng t kt qu tt hn.
Song, nhỡn chung h gp nhiu khú khn v iu kin c th thng khụng
cho phộp h thc hin iu ú.
Nhiu phng H Ni cú cỏc di tớch lch s, danh lam thng cnh,
õy l iu kin rt thun li cỏc phng phỏt trin vn húa, nõng cao trỡnh
dõn trớ, cng nh phỏt trin du lch, dch v tng thu ngõn sỏch ca
phng. c bit cỏc phng H Ni l ni c trỳ ca hng ngn cỏn b,
cụng chc ca Trung ng v H Ni, trong ú cú nhiu cỏn b cao cp ca
ó thu c thng li to ln. i sng vt cht v tinh thn ca nhõn dõn cỏc
phng ca H Ni mc dự cũn nhiu khú khn; song, nhỡn chung khỏ n
nh, c ci thin mc cao hn so vi i sng ca nhõn dõn cỏc thnh
ph, th xó khỏc trong c nc. Trỡnh dõn trớ cỏc phng ca H Ni
nhỡn chung vo loi cao nht trong c nc. õy l nhng iu kin rt thun
li cỏc phng hot ng cú hiu qu.
Trờn a bn phng H Ni, ln súng ngi nhp c t t cỏc tnh
gõy nờn s hn hp, phc tp trong li sng, vn húa nh hng n np vn
minh thanh lch ca ngi H Ni. Mt s ngi truyn bỏ nhng t tng
lc hu, khụng lnh mnh v nhng t nn xó hi.
Những đặc điểm của các phờng ở Hà Nội nêu trên có ảnh hởng không
nhỏ đến cơ cấu, phẩm chất, năng lực và phong cách của đội ngũ đảng viên là
cán bộ, công chức phờng ở thành phố Hà Nội và công tác quản lý đội ngũ
đảng viên này. Đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức ở các phờng thuộc nội
thành cũ thờng có u điểm nổi bật ở trình độ mọi mặt, kinh nghiệm quản lý đô
thị, phong cách làm việc ; nhng trong quản lý bộ phận đảng viên này cần chú
ý quản lý quan hệ xã hội, nâng cao ý thức gần gũi phục vụ nhân dân. Đội ngũ
đảng viên là cán bộ, công chức ở các phờng đang trong quá trình đô thị hóa
lại cần chú ý quản lý, nâng cao trình độ, năng lực quản lý đô thị, xây dựng
phong cách làm việc phù hợp yêu cầu của văn hóa đô thị
1.1.2. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của đảng bộ phờng
ở thành phố Hà Nội
Đảng bộ thành phố Hà Nội đến cuối năm 2007 (trớc khi mở rộng) có
128 đảng bộ phờng với 199.262 đảng viên. Sau khi mở rộng (ngày 01-8-
2008), số đảng bộ phờng tăng lên 148 với 314.670 đảng viên (số liệu tính đến
31-12-2008).
1.1.2.1. Vai trò của đảng bộ phờng
Trong h thng chớnh tr phng, cỏc ng b phng l mt b
phn, ng thi lónh o h thng y. Ngoi nhng im chung v vai trũ t
chc c s ng, cỏc ng b phng cũn cú nhng im riờng c thự, do
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các đảng bộ phường còn phải trực tiếp
lãnh đạo xây dựng chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội
nghề nghiệp. Nghĩa là lãnh đạo hoạt động của các tổ chức đó theo đúng đường lối,
quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, uốn nắn kịp thời những
lêch lạc trong xây dựng tổ chức và hoạt động của các tổ chức đó.
1.1.2.3. Nhiệm vụ của đảng bộ phường
Trên cơ sở vai trò và chức năng đã nêu, đảng bộ phường có các nhiệm
vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng.
Lãnh đạo việc thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội theo nghị quyết của đại hội đảng bộ, chi bộ phường và của cấp trên; tạo
môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế và hộ gia đình
phát triển sản xuÊt, kinh doanh, dịch vụ đúng chính sách, pháp luật của Nhà
nước, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; động viên nhân dân làm
tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước; xây dựng phường giàu đẹp, văn minh.
Lãnh đạo việc thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính nhà nước
và công tác quản lý đô thị trên địa bàn phường; thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ
sở hạ tầng theo quy hoạch; chăm lo phát triển sự nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế,
bảo vệ môi trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo.
Lãnh đạo việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực
hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; giám sát
mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước; mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kịp
thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân cư ở cơ sở
theo đúng pháp luật; không để tích tụ được mâu thuẫn trở thành điểm nóng;
không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ
để làm mất ổn định chính trị trên địa bàn.
Lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách
chức đảng và nhân dân để bầu vào các chức danh chủ chốt của hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc; các đoàn thể nhân dân theo luật định
và điều lệ của mỗi tổ chức.
Cấp ủy đề xuất ý kiến trong việc lựa chọn, giới thiệu cán bộ tham gia
vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở cấp
trên và cán bộ chủ chốt ở cơ sở do cấp trên quản lý.
Thứ tư, lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở phường vững
mạnh, thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của mỗi
đoàn thể. Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà
nước; xây dựng khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, thi đua thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây
dựng, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và các nhiệm vụ của địa phương; trước hết là những chủ trương, chính
sách về xây dựng và quản lý đô thị, giải quyết việc làm và các chính sách xã
hội khác.
Thứ năm, xây dựng tổ chức Đảng.
Đề ra chủ trương, nhiệm vụ và biện pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ
trong sạch, vững mạnh, gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ
sở; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ
đảng viên, nhất là việc phát hiện và đấu tranh chống tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; chú trọng xây dựng và nâng
cao chất lượng lãnh đạo của các chi bộ, tổ đảng ở tổ dân phố, khu dân cư.
Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập
trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện có nền nếp và nâng
cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính
chiến đấu.
Giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong
gương mẫu, phấn đấu trở thành người lao động giỏi, công dân mẫu mực;
trong cả nước và quốc tế. Hoạt động trong điều kiện rất thuận lợi đó, các đảng
bộ phường ở Hà Nội có thế mạnh trong việc tiếp nhận thông tin phục vụ cho
sự lãnh đạo của mình. Các cơ quan của Trung ương Đảng, Nhà nước đặt trụ
sở làm việc tại Hà Nội nên mọi chủ trương, chính sách của Đảng được các
đảng bộ phường nắm bắt nhanh chóng để đưa vào tổ chức thực hiện.
Các đảng bộ phường ở Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc
phối hợp với các tổ chức đảng, các cơ quan của Đảng, của Nhà nước trên địa bàn
thủ đô để học tập kinh nghiệm, nhờ sự giúp đỡ của các cơ quan đó đối với hoạt
động của mình để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ phường.
Hai là, đội ngũ đảng viên của các đảng bộ phường ở Hà Nội rất đông,
cơ cấu đa dạng, trong đó số đảng viên là người nghỉ hưu, nghỉ mất sức chiếm
tỷ lệ cao.
Số đảng viên là người nghỉ hưu, nghỉ mất sức ở các đảng bộ phường
chiếm khoảng từ 70% đến 80%, có nơi gần 90% so với tổng số đảng viên của
đảng bộ phường. Đây là tỷ lệ rất cao so với các phường ở các thành phố, thị
xã trong cả nước. Những đảng viên này có trình độ mọi mặt khá cao, có uy
tín, năng lực công tác, có kinh nghiệm sống và kinh nghiệm công tác. Trong
số đó, nhiều người đã là cán bộ trung, cao cấp (kể cả những người nguyên là
Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng …)
của Đảng, là những cán bộ, công chức trong các cơ quan đảng, nhà nước, các
đoàn thể chính trị - xã hội, họ đã hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội. Đây thực sự là tiềm năng và thế mạnh của các đảng bộ phường ở
Hà Nội. Nếu cấp ủy biết khai thác, phát huy một cách hợp lý tiềm năng, thế
mạnh đó, thì hoạt động lãnh đạo của đảng bộ phường sẽ đạt kết quả tốt hơn.
Bộ phận đảng viên trưởng thành tại chỗ, trực tiếp tham gia công tác tại
phường chiếm tỷ lệ gần 20%. Đây là lực lượng chủ lực, tuổi đời còn trẻ, kinh
nghiệm công tác còn chưa nhiều, cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng
cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và rèn luyện phẩm chất
đạo đức, lối sống để bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Trên địa bàn phường ở Hà Nội còn có một số không nhỏ đảng viên là
tiểu, thủ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; các tệ nạn xã hội cũng rất phức
tạp. Sự lãnh đạo của các đảng bộ phường ở đây cần tập trung vào phát triển
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phòng chống, bài trừ các tệ nạn xã hội,
giữ vững an ninh, trật tự, xây dựng khu phố sạch đẹp, văn minh.
- Đảng bộ ở các phường có nhiều cơ quan, khu tập thể, chung cư.
Cư dân ở những nơi này chủ yếu là cán bộ, công chức nhà nước. Sự
lãnh đạo của các đảng bộ phường có nhiều thuận lợi mà trọng tâm là lãnh đạo
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, giữ gìn trật tự, an ninh,
xây dựng khu phố sạch đẹp, văn minh. Tuy nhiên, hoạt động của đảng bộ
phường ở những nơi này gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn đề kinh phí để hoạt
động, phát động và duy trì các phong trào quần chúng.
- Đảng bộ ở các phường thuộc các khu buôn bán lớn.
Các đảng bộ phường ở những nơi này cần tập trung lãnh đạo phát triển
kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế, các hộ gia đình phát triển sản
xuất kinh doanh, thực hiện đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, chống trốn lậu thuế, tăng nguồn thu cho phường, đồng thời
đóng góp vào ngân sách của quận, thành phố.
- Đảng bộ ở các xã chuyển thành phường.
Là đảng bộ phường ở các vùng ven nội đô trước kia và các quận mới
thành lập trong thời gian gần đây; cơ sở hạ tầng ở những nơi này còn yếu kém,
kinh tế chậm phát triển, chủ yếu là sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ,
do đó các tệ nạn xã hội cũng dễ nảy nở, sự phát triển. Sự lãnh đạo của các đảng
bộ phường gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Trọng tâm lãnh đạo của các đảng bộ
phường là phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, giữ gìn an
ninh, trật tự, xây dựng cơ sở hạ tầng tạo nên sự ổn định, phát triển.
1.1.3. Quan niÖm, vai trò và đặc điểm đội ngũ đảng viên là cán bộ,
công chức phường ở thành phố Hà Nội
1.1.3.1. Quan niÖm về đội ngũ đảng viên là cán bộ, công chức
phường ở thành phố Hà Nội
Hệ thống chính trị cấp phường ở các thành phố nói chung, ở thành phố
phường ở thành phố Hà Nội”.