Luận văn: Thực trạng chính sách đầu tư đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp Việt Nam - Pdf 12


1
Luận văn
Thực trạng chính sách đầu
tư đối với việc phát triển
sản xuất nông nghiệp
Việt Nam

2
LỜI MỞ ĐẦU Trong hơn 10 năm qua nhất là từ sau đại hội VI của Đảng công cuộc đổi
mới kinh tế đất nước bước đầu có những chuyển biến quan trọng, nền nông
nghiệp Việt Nam đạt bước tiến bộ rõ rệt. Tình hình sản xuất lương thực thực
phẩm phát triển khá đáp ứng được nhu cầu trong nước có dự trữ và xuất khẩu
góp phần ổn định đời sống của nhân dân và cải thiện cán cân xuất nhập khẩu.
Đó là kết quả tổng hợp của việc cải tiến tổ chức sản xuất, thực hiện chính sách
khoán trong nông nghiệp, xoá bỏ chế độ bao cấp, tự do lưu thông và điều hoà
cung cầu lương thực trên phạm vi cả nước.
Cùng với những thành tựu trong sản xuất, nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần bước đầu được hình thành và vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước. Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý, Nhà nước
đã chủ động vận dụng có hiệu quả hơn các công cụ pháp luật, kế hoạch, chính
sách và các công cụ đòn bẩy khác, trong đó việc đổi mới các chính sách giá,
thuế, tín dụng, đầu tư, lưu thông, kinh tế đối ngoại , có vai trò đặc biệt quan
trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Đồng thời, Nhà nước đã thực hiện
chính sách điều chỉnh quan hệ sản xuất ở nông thôn bước đầu đã giải phóng

vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất
trong nền sản xuất xã hội.
2. Vai trò của đầu tư phát triển
2.1 Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước
2.1.1 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung vừa tác động đến tổng cầu
Về mặt cầu đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng cầu
của toàn bộ nền kinh tế, đầu tư thường chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu
tổng cầu của tất cả các nước trên thể giơí, đối với tổng cầu tác động của đầu tư
là ngắn hạn.
Về mặt cung khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng các năng lực
mới đi vào hoạt động thì tổng cung đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên kéo
theo sản lượng tăng, giá giảm cho phép tăng tiêu dùng, tiếp tục lại kích thích
sản xuất hơn nữa.
2.1.2 Đầu tư tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Sự tác động không đồng thời về thời gian của đầu tư với tổng cầu và
tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư dù tăng hay
giảm đều vừa là yếu tố duy trì ổn định vừ là yếu tố phá vỡ sự ổn định. Khi
tăng đầu tư cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm giá cá của các hàng hoá liên
quan tăng. Khi tăng đầu tư cũng làm cho cầu của các yếu tố liên quan tăng,
sản xuất các ngành này phát triển thu hút lao động giảm tình trạng thất nghiệp.
2.1.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

4
Để tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-
25% so với GDP tuỳ thuộc vào Icor mỗi nước, chỉ tiêu Icor của mỗi nước tuỳ
thuộc vào nhiều nhân tố thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế.
2.1.4 Đầu tư tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Con đường tất yếu có thể tăng nhanh tốc độ mong muốn là tăng cường
đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu công nghiệp và dịch vụ, đối với
các ngành nông nghiệp, lâm ngư nghiệp do hạn chế về đất đai và các khả năng

cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất quan trọng, nó quyết định tới việc thành công của
việc sản xuất. Nhưng để cơ sở hạ tầng kinh tế này phát huy tác dụng cần phải
tiến hành phù hợp với đặc điểm của từng cây trồng, từng con vật nuôi, điều
kiện đặc biệt quan trọng là phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, địa hình kinh
tế của từng vùng.
Quá trình đầu tư trên rất phức tạp và khó thực hiện. Vì vậy, để nông
nghiệp nông thôn ngày càng phát triển, cần đưa ra những chính sách thích hợp
với diều kiện cụ thể của từng vùng, từng khu vực nhất định. Đặc biệt là chính
sách ruộng đất, chính sách đầu tư và chính sách thuế. Làm được như vậy, chắc
chắn nông nghiệp sẽ phát triển nhanh và góp phần to lớn vào quá trình phát
triển kinh tế đất nước.
3.2 Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay
thế được. Do vậy đầu tư nông nghiệp là đầu tư để cải tạo ruộng đất.
Đất đai là diều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng tác
động kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghệp và các ngành kinh tế
khác, đất đai chỉ là nền móng để xây dựng các công xưởng trụ sở phục vụ cho
việc sản xuất kinh doanh. Trái lại trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất
không thể thay thế được. Đất đai là tư liệu sản xuất nhưng có giới hạn về diện
tích, cố định về mặt vị trí mà nhu cầu sản xuất lại không ngừng tăng lên. Do
vậy, đầu tư để cải tạo ruộng đất là quá trình vô cùng quan trong, nó quyết định
đến quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống dân cư.
Vấn đề đặt ra là đầu tư cải tạo đất như thế nào cho phù hợp với điều kiện tự
nhiên của từng vùng, lãnh thổ. Trong thời gian qua, nước ta đã chú trọng đầu
tư mở rộng, cải tạo đất thông qua các biện pháp khai hoang, tăng vụ, đẩy
mạnh đầu tư chiều sâu, thâm canh sản xuất. Không ngừng áp dụng các loại
giống mới, có chất lượng cao vào sản xuất, đồng thời sử dụng các loại phân
bón vừa có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng, vừa có tác dụng cải tạo đất
và luôn luôn luân canh sản xuất làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng tăng.
Để làm được như vậy, Nhà nước và các hộ dân cư tăng cường đầu tư cho lĩnh
vực này, đồng thời có sự hường dẫn đúng các quy định đã được đề ra trong

được bảo đảm và việc chế biến nông sản làm cho giá trị nông sản hàng hoá
được nâng cao, góp phần tăng thu nhập cho người lao động.
Bên cạnh đó đầu tư cũng nhằm phát triển giống cây, giống con có năng
suất, chất lượng tốt, cho phép chuyển đổi cơ cấu kinh tế nuôi trồng các cây,
con có giá trị hiệu quả kinh tế cao hơn.
II. Vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế của đất nước
Nông nghiệp chiếm một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của đất nước, mặc dù nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá
nhưng nền tảng vẫn là một nước có nền nông nghiệp truyền thống, nông
nghiệp đóng góp xấp xỉ 1/4 vào GDP của đất nước, trên 1/3 kim ngạch xuất

7
khẩu và tạo việc làm cho 2/3 lực lượng lao động với khoảng 80% dân cư sống
ở nông thôn do đó nông nghiệp không chỉ là nguồn sống mà còn là động lực
để phát triển kéo theo các ngành khác. Mục tiêu và định hướng phát triển
nông nghiệp nước ta cho đến năm 2010 được thể hiện trong báo cáo chính trị
tại đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 4/2001: "Tăng cường sự chỉ
đạo và huy động nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn. Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ nhất là công nghệ sinh học. Đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi tăng giá
trị thu được trên đơn vị diện tích quy hoạch sử dụng đất hợp lý, đẩy mạnh thuỷ
lợi hoá, cơ gới hoá, điện khí hoá, phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp dịch
vụ, chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều việc làm mới và cải thiện đời sống
nông dân và dân cư nông thôn".
1. Nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm - nhu cầu cần
thiết cho con người.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng và
phát triẻn đa dạng. Nhưng trước hết, như Mác đã khẳng định, con người trước
hết phải có ăn sau đó mới nói đến các hoạt động khác, rằng nông nghiệp là

Cho nên, quá trình sản xuất nông nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ đến sản xuất
công nghiệp và phát triển dịch vụ. Qua đó, sẽ giúp cho nền kinh tế quốc dân
ngày càng phát triển.
3. Nông nghiệp là ngành cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho xã hội.
Đối với các nước đang phát triển nói chung, nước ta nói riêng, nguyên
liệu từ đầu vào là bộ phận chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều
ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Một số loại nông sản, nếu tính
trên một đơn vị diện tích, có thể tạo ra số việc làm sau nông nghiệp nhiều hơn
hoặc tương đương với việc làm của chính khâu sản xuất ra nông sản ấy. Hơn
nữa, thông qua công nghiệp chế biến, giá trị nông sản được tăng lên và đa
dạng hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc
tế. Vấn đề này đã được thể hiện rõ ở nước ta, đó là nông nghiệp đã cung cấp
nguyên liệu như thuỷ, hải sản, cao su, cà phê, chè , tạo điều kiện cho phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm cho xã hội. Để
thực hiện vai trò này của công nghiệp, đòi hỏi phải giả quyết tốt mối quan hệ
giữa nông nghiệp và công nghiệp, đặc biệt giữa nông nghiệp và công nghiệp
chế biến. Vấn đề cần giải quyết chính là quá trìng phân bố sản xuất, quy trình
kỹ thuật, mô hình tổ chức và quan hệ về lợi ích kinh tế.
4. Nông nghiệp là ngành cung cấp một khối lượng hàng hoá lớn để xuất
khẩu
Nông sản dưới dạng thô hoặc qua chế biến là bộ phận hàng hoá xuất
khẩu chủ yếu của hầu hết các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu. Theo quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, tỷ lệ nông sản xuất khẩu nhất là

9
xuất khẩu thô có xu hướng giảm xuống nhưng thường vẫn tăng lên về giá trị
tuyệt đối. Vì vậy, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, ở nhiều nước nông
nghiệp trở thành ngành xuất khẩu chủ yếu tạo ra tích luỹ để tái sản xuất và
phát triển nền kinh tế quốc dân.

Chính phủ đã chi cho công tác nghiên cứu triển khai nông nghiệp lớn hơn 1,7

10
lần so với công tác nghiên cứu và sử dụng quỹ này một cách tập trung có hiệu
quả vào các cây trồng phục vụ xuất khẩu và có giá trị chiến lược đối với nền
kinh tế. Cục triển khai nông nghiệp Thái Lan (DOEA) là cơ quan khuyến nông
rất có hiệu quả của Nhà nước. Nhà nước thông qua hoạt động triển khaiđể
thực hiện chính sách đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp DOEA không chỉ triển
khai thông qua tham quan, đào tạo mà còn sản xuất một khối lượng các hạt
giống mới cho nông dân trong hầu hết các vụ chính. Chính sách nghiên cứu và
triển khai nông nghiệp ở Thái lan có tác động lâu dài đến sự thay đổi về năng
suất nông nghiệp. Một trong những kinh nghiệm hay của Thái Lan là Chính
phủ đã lôi kéo, thu hút được đông đảo tư nhân tham gia vào các chương trình
khuyến nôngnhằm tạo ra các mô hình trồng trọt hỗn hợp, canh tác đa dạng.
Điều đáng lưu ý là các nguồn kinh phí cho nghiên cứu trong nông
nghiệp được Nhà nước tài trợ liên tục, ổn định trong nhiều năm. Điều đó rất
quan trọng đảm bảo cho sự triển khai có hiệu quả của cơ quan khuyến nông
Thái Lan (DOEA).
2. Chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế nông thôn
(Đây là một trong những chính sách tác động gián tiếp lên sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn)
Từ những kinh nghiệm chung của nhiều nước, giáo sư Ran-dolph
Barker đã tổng kết rằng: trong suốt thời kỳ quá độ chuyển nền kinh tế từ nông-
công nghiệp sang nền kinh tế công-nông nghiệp, Chính phủ phải thực hiện
một số chức năng sau:
- Xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại, gồm có: công trình tưới, tiêu, đường
xá. điện, phương tiện giao thông
- Nhập khẩu các kỹ thuật nhất định từ nước ngoài và tăng cường khả
năng nghiên cứu triển khai trong nước
- Phát triển nguồn nhân lực

dài hạn khôn khéo. Đặc biệt sự thành công trong phát triển kinh tế nói chung
và nông thôn nói riêng ở các nước công nghiệp mới (NEW), ở Châu Á và
ASEAN đã cho thế giới một bài học kinh nghiệm lớn về chính sách đầu tư
phát triển cơ sở hạ tầng trong những năm 1960-1970. Trong giai đoạn này các
nước kể trên đã đầu tư cao cho nông nghiệp thể hiện qua biểu sau:

Biểu 1: Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và mức đầu tư của Chính phủ
vào nông nghiệp ở một số nước Châu Á (giai đoạn 1975-1980)
Đơn vị: %
Tên nước Tỷ trọng nông
nghiệp trong
GDP
Phần đầu tư của Chính
phủ vào nông nghiệp
trong tổng đầu tư
Tổng đầu tư của
Chính phủ cho nông
nghiệp theo GDP
1. Hàn Quốc

27 24,6 5,0
2. Inđônêxia 38,8 18,9 9,8

12
3. Malayxia 27,7 20,2 10,0
4. Philippin 26,6 25,7 5,1
5. Thái Lan 30,4 10,2 4,1
Số liệu biểu trên cho thấy Thái Lan là nước thực hiện chính sách đầu tư
ít vào nông nghiệp. Chính sách này của Chính phủ Thái Lan đã bị nhiều nhà
kinh tế phê phán, trên thực tế cơ sở hạ tầng nông thôn Thái Lan còn kém phát

13
Kinh tế nông thôn chỉ có thể phát triển thành công trong kinh tế thị trường khi
các thể chế kinh tế đối với nông thôn hoạt động đồng bộ, có mục tiêu tác động
cùng chiều và hiệu ứng cao.
Đó là những bài học tổng quát rút ra từ phân tích kinh nghiệm chính
sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của một số nước có điều kiện gần
giống với Việt Nam. Các kinh nghiệm quý trên đây có tính gợi mở rất bổ ích
đối với Việt Nam trong qua trình hoạch định, hoàn thiện các chính sách đầu tư
khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa. CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VỚI VIỆC
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

A. Quá trình hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển sản xuất nông
nghiệp của Việt Nam

Mục tiêu cơ bản lâu dài trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn nước
ta đến năm 2000 được thể hiện trong Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 khoá
VII của Đảng Công sản Việt Nam là:
* Trên cơ sở phát triển nhanh chóng và vững chắc nông lâm ngư
nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn , nâng cao
chất lượng và hiệu quả kinh doanh thu hút đại bộ phận lao động dôi thừa, tăng
năng suất lao động xã hội, giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân
dân, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu nông lâm thuỷ sản cho công nghiệp tăng
kim ngạch xuất khẩu bảo vệ tài nguyên và cải thiện môi trường sinh thái.
* Tăng thu nhập, cải thiện một bước đời sống vật chất văn hoá của nông
dân, giảm mức tăng dân số, khắc phục nạn suy dinh dưỡng, tăng thêm diện

và chất lượng đàn gia súc được cải thiện hơn. Ở nông thôn các ngành nghề
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ cũng được mở mang góp phần
làm thay đổi cơ cấu kinh tế và bộ mặt nông thôn, thu hút lao động và giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn.
Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp nông thôn
nước ta thao tinh thần Nghị quyết đại hội VI, VII và được cụ thể hoá bằng
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị và Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 "Nghị
quyết này khắc phục mâu thuẫn và hạn chế trong cách "khoán 100", đổi mới
một cách cơ bản cơ chế quản lý nông nghiệp, Nghị quyết 10 là sự cụ thể hoá
đường lối đổi mới kinh tế toàn diện do Đảng đề ra". Đây là những chiến lược
cho sự phát triển nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nông thôn nước ta,

15
các chính sách nông nghiệp tạo môi trườngthuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
phát triển, đời sống kinh tế xã hội nông htôn theo hướng tốt hơn.
* Chính sách ruộng đất: Luật đất đai năm 1993 được coi là một trong
những chính sách lớn tạo cơ sở tiền đề và là trung tâm trong việc giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản của nông nghiệp và nông thôn. Kèm theo Luật đất đai
là những quy định về thuế sử dụng đất và một số văn bản khác có liên quan đã
có tác dụng to lớn làm chuyển biến nền nông nghiệp, nông thôn nước ta. Luật
đất đai năm 1993 khẳng định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý", còn việc sử dụng đất đai được Luật quy định, Nhà nước
giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Luật
cũng quy định người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế
chấp, thừa kế và được bồi thường thiệt hại trong trường hợp đất bị thu hồi. Có
thể nói các quyền quy định trong Luật đất đai năm 1993 là cơ sở pháp lý, dồng
thời là cơ sở tiền đề cho việc thực hiện sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo
hướng mở rộng và tăng diện tích đất trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao,
giá trị hàng hoá lớn để mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu trên cở sở
một nền nông nghiệp thâm canh và ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ

Đẩy nhanh việc thực hiện chương trình thoát lũ và ngọt hoá đồng bằng
sông Cửu Long, củng cố hệ thống đê điều trên phạm vi cả nước, đẩy mạnh
việc áp dụng công nghệ sinh học, ưu tiên phát triển các cây trồng và vật nuôi
có quy mô xuất khẩu tương đối lớn và thị trường ổn định, đặc biệt coi trọng
các sản phẩm quý hiếm ta có lợi thế. Hết sức chú trọng phát triển công nghệ
sau thu hoạch và công nghiệp chế biến. Quy hoạch cụ thể và triển khai việc
thực hiện dự án phát triển trồng mới 5 triệu hecta rừng, kết hợp với bảo vệ môi
trường để đạt tỷ lệ phủ xanh 40% diện tích cả nước, áp dụng chính sách sử
dụng gỗ tiết kiệm. Thực hiện nhất quán chủ trương giao đất, giao rừng cho các
hộ gia đình thực sự làm chủ, có thể sống bằng nghề rừng, ổn định đời sống
cho đồng bào định canh, định cư. Thu hẹp, tiến tới xoá tình trạng du canh, du
cư. Phối hợp, tổ chức chặt chẽ có hiệu quả việc di chuyển dân ở một số tỉnh
miền núi phía Bắc, không để tái diễn tình trạng di dân tự do. Tổ chức lại công
nghiệp chế biến thuỷ hải sản và các dịch vụ trên bờ, cải tạo và nâng cấp hệ
thốnh hạ tầng cơ sở nghề cá. Tạo điều kiện và khuyến khích các hộ, nhóm hộ
ngư dân tự đầu tư mua sắm tàu thuyền lớn ra khơi, sản xuất và chế biến hải
sản, làm dịch vụ.
* Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông
nghiệp hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và thu
nhập cho nông dân nghèo. Khẩn trương hoàn thành việc giao đất và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân, khuyến khích và giúp đỡ các hộ
nông dân đổi đất cho nhau để khắc phục tình trạng ruộng đất quá phân tán và
manh mún. Quản lý chặt chẽ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo
đúng pháp luật, không để nông dân nghèo sống bằng nghề nông phải bán đất,
ngăn chặn và xử lý các thủ đoạn chèn ép, cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân

17
nghèo. Chưa đặt vấn đề mở rộng mức hạn đối với đất canh tác. Kiểm tra việc
thực hiện chính sách hạn điền đối với đất canh tác phù hợp với điều kiện đất
đai ở các vùng khác nhau, có chính sách, biện pháp quy định cụ thể, hợp lý để

kinh doanh giỏi ở nông thôn.

18
2. Giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản: thực hiện cơ chế lưu
thông thật sự thông thoáng trên thị trong nước.
Củng cố hệ thống thương nghiệp Nhà nước trên địa bàn nông thôn, đặc
biệt coi trọng phát triển các hình thức liên kết giữa thương nghiệp Nhà nước
với Hợp tác xã, nông dân và lực lượng thương nghiệp nhỏ, khắc phục tình
trạng thả nổi thị trường nông thôn gây thiệt hại đến lợi ích nông dân.
Tạo cho được một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực có sức cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Đánh thuế xuất khẩu cao đối với hàng xuất khẩu dưới
dạng nguyên liệu thô mà trong nước đã có năng liực chế biến. Cho nhập khẩu
miễn thuế hoặc thuế suất thấp các loại nguyên vật liệu phục vụ công nghiệp
nông thôn mà trong nước chưa sản xuất được hoặc còn thiếu.
Xây dựng các quỹ bảo hiểm sản xuất dưới nhiều hình thức. Nhà nước
có chính sách cho nông dân nghèo vay tiền vào đầu vụ thu hoạch để không
phải bán nông sản ở thời điểm bất lợi về giá. Phát triển các loại hình kinh
doanh kết hợp công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu theo phương thức ký
kết hợp đồng dài hạn với nông dân.

3. Phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của
các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn, phát triển các cơ
sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa: tiếp tục phát huy vai trò tự chủ của kinh
tế hộ gia đình, kể cả kinh tế tiểu chủ. Tập trung chỉ đạo phát triển mạnh các
hình thức kinh tế hợp tác của nông dân theo tinh thần Chỉ thị 68/CT-TƯ của
Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII và Luật hợp tác xã.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông
nghiệp và nông thôn theo hướng tập trung làm dịch vụ (điện, nước, kỹ thuật,
tài chính-ngân hàng, thương mại, vận tải vv) công nghiệp chế biến và chuyển
giao cho nông dân, trên cở sở đó phát triển thêm một số cơ sở quốc doanh

tăng rất nhanh, từ 1,585 triệu con năm 1976 lên 3,201 triệu con năm 1992. ở
các tỉnh phía Bắc, 20 năm đàn bò liên tục bị giảm, từ năm 1981 trở lại đây đã
tăng nhanh, kể cả ở vùng đồng chiêm trũng.
1.2 Cơ cấu thành phần trong nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đã được thực hiện phổ biến trong nông
nghiệp, đã có sự chuyển biến quan trọng từ chỗ chủ yếu là quốc doanh và tập
thể sang chủ yếu là kinh tế hộ - lấy hộ làm đơn vị sản xuất cơ bản trong nông
nghiệp. Nền nông nghiệp nhiều thành phần đã nhanh chóng vào cuộc sống có
tác dụng quan trọng trong việc khai thác mọi tiềm năng về đất đai, lao động,
tiền vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có để đẩy mạnh sản xuất nông sản
hàng hoá.
1.3 Cơ cấu vùng trong nông nghiệp: đang được hình thành như các vùng trọng
điểm trong cây lương thực ở đồng bằng sông Cửu long và đồng bằng sông
Hồng. Các vùng cao su, cà phê đang hình thành ở Tây Nguyên và miền Đông
Nam Bộ. Vùng chè tập trung chủ yếu ở các tỉnh trung du và miền núi phía

20
Bắc. Điều đó đã tạo ra sự phân bố lại lao động, vốn đầu tư và tư liệu sản xuất,
thúc đẩy các vùng kinh tế lạc hậu phát triển.
1.4 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Cơ cấu giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn nước ta có sự
chuyển biến theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành
nghề và dịch vụ phi nông nghiệp. Do đó cơ cấu kinh tế nông thôn bước đầu có
sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế
quốc dân: năm 1993 nông nghiệp chiếm 29,2% trong GDP và hơn 70% lực
lượng lao động. Tuy vậy, trong nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi phát triển
chậm, sản xuất và cân đối lương thực tuy đã khá hơn những vẫn chưa thật
vững chắc, cây công nghiệp bị giảm sút cả số tuyệt đối và tỷ trọng 8,1% năm
1985 xuống còn 6,6% năm 1992, chăn nuôi chưa trở thành ngành chính.

của nhân dân nông thôn có bước tiến rõ nét; 57,7% số hộ nông thôn có nhà
kiên cố, 65% số hộ có nguồn nước sạch. Tình trạng học sinh nông thôn bỏ học
đã giảm dần. Đời sồng tinh thần của nông dân có nhiều tiến bộ: tỷ lệ hộ có
máy thu thanh từ 11%lên 32,8% trong cùng thời gian, 53% số hộ nông thôn có
điện dùng trong sản xuất và sinh hoạt.
Máy móc công cụ phục vụ sản xuất ở nông thôn tăng nhanh, gắn liền
với sự đầu tư mua sắm của các hộ nông dân tự chủ. Đến năm 1995 cả nước có
41700 máy kéo, 584000 máy bơm nước các loại, 52000 máy xay xát, 99000
máy tuốt lúa có động cơ và hàng trăm ngàn các loại công cụ cơ khí phục vụ
sản xuất và chế biến nông, lâm thuỷ sản. Điện dành cho nông thôn và nông
nghiệp từ 801 triệu kwh năm 1991 tăng lên 1166 triệu kwh năm 1994 và 1300
triệu kwh năm 1995, tỷ trong từ 15% lên 20% điện sản xuất trong 5 năm
tương ứng. Nông thôn có điện nên điều kiện lao động và bộ mặt nông thôn có
nhiều đổi mới, thiết bị, đồ dùng trong gia đình hộ nông dân tăng lên, rõ nhất là
vùng đồng bằng và nông thôn ven thành phố, thị xã, khu công nghiệp.
Vấn đề tồn tại hiện nay là nông thôn vùng núi, vùng cao, vùng sâu cơ sở
hạ tầng còn thấp kém, nhất là điện và đường ô tô, ở đồng bằng giá điện còn
cao 730 đồng/kw, kéo theo sự gia tăng của chi phí thuỷ lợi, phí ở các vùng đã
được thuỷ lợi hoá.
2.2 Hệ thống các công trình thuỷ lợi
Một số các công trình thuỷ lợi tuy đầu tư vốn lớn nhưng đã xuống cấp
nên năng lực phục vụ sản xuất nông nghiệp còn hạn chế. Thực tế cho thấy
rằng, năng lực tưới của các công trình thuỷ nông cả nước mới đảm bảo tưới tự
chảy trên 2,2 triệu ha canh tác, tưới bán điện trên 1,1 triệu ha canh tác, tổng
công 3,3 triệu ha canh tác. Nhưng thực tế hàng năm chỉ khai thác được khoảng
90% công suất thiết kế do máy móc cũ kỹ, kênh mương sụt lở, thiếu điện,
không đồng bộ giữa công trình đầu mối và hệ thống kênh mương. Các hồ đập
thuỷ lợi tuy công suất thiết kế tưới lớn, nhưng về mùa khô thường xuyên thiếu
nước do tệ phá rừng đầu nguồn, đốt nương làm rẫy. Cây trồng quan trọng nhất


807,4 975,0 1000 1166 1300

3. Chính sách đầu tư vốn thời kỳ 1990-1995
Nông nghiệp và nông thôn nước ta có vị trí rất quan trọng (chiếm hơn
80% cư dân cả nước và chiếm tỷ trọng khá lớn trong sản phẩm của nền kinh tế
quốc dân). Trong nhiều năm qua chúng ta chỉ chú ý đến nông nghiệp, lãng
quên địa bàn nông thôn vì vậy kinh tế nông thôn nước ta chủ yểu là thuần
nông với cơ sở vật chất nghèo nàn, kết cấu hạ tậng thấp kém. ở các nước phát
triển công nghiệp nông thôn khá phát triển. ở đây không chỉ có tiểu công
nghiệp và thủ công nghiệp với kỹ thuật truyền thống mà còn có cả công
nghiệp lớn với kỹ thuật tiên tiến, gắn với hoạt động nông nghiệp nông thôn.
Bên cạnh đó dịch vụ thương mại cũng rất phát triển.

23
Vốn là điều kiện và tiền đề để phát triển và mở rộng sản xuất, nâng cao
đời sống và dân cư nông thôn từng bước xoá đói giảm nghèo. Vì vậy, một mặt
phải huy động nguồn vốn tự có trong nông dân, mặt khác Nhà nước phải giúp
đỡ nông dân, cho họ vay vốn với nhiều hình thức phong phú và có hiệu quả.
3.1 Chính sách đầu tư vốn
Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị nền kinh tế nước ta từng bước
chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước . Chính sách đầu tư
vốn đã thay đổi: vốn bao cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh giảm hẳn và
chuyển những đầu tư đó sang hình thức tín dụng vay vốn và phải trả lãi suất
để tạo cho các xí nghiệp nông nghiệp quốc doanh quan tâm đến việc sử dụng
vốn có hiệu quả.
Vốn ngân sách dành cho khai hoang vẫn giữ tỷ lệ 5%-7%, tỷ lệ dành
cho các nông trường quốc doanh từ 40% của những năm 1986-1987 giảm
xuống còn trên 10%. Đảng lưu ý là vốn ngân sách tập trung đầu tư cho thuỷ
lợi (chủ yếu là thuỷ nông) - một bộ quan trọng của hệ thống kết cấu hạ tầng
nông thôn cũng giảm.


29473 7,2 37200 6,0 126654 15,1
2.Nông
trường
55559 13,5 145500 23,6 90542 10,8

24
Cao su 20780 5,1 60600 9,8 29970 3,6
Cà phê 2599 0,6 16000 2,5 6992 0,8
Chè 906 0,2 19600 3,1 5851 0,7
3.Trang trại 7324 0,2 6660 1,0 10873 1,3
II.Chăn nuôi 16903 4,1 20700 3,4 30102 3,6 40000 3,5
Chuồng trại 4400 1,1 9505 1,1
Trạm trại 12503 3,7 400 0,06 20597 2,4
IVThuỷ lợi 299830 73,3 405000 65,8 581636 69,2 786000 69,0
Thuỷ nông 244435 59,7 234000 56,1 438335 55,2

Nhà nước đã dành số vốn lớn đề thực hiện chương trình 327 nhằm bảo
vệ có hiệu quả vốn rừng hiện có gắn với định canh định cư, phủ xanh đất trống
đồi trọc, tăng khả năng phòng hộ của rừng, tạo ra sản phẩm hàng hoá, giải
quyết việc làm, góp phần phân bố lại lao động dân cư và củng cố an ninh quốc
phòng. Triển khai thực hiện chương trình 327 trong hai năm 1993-1994 Nhà
nước đã đầu tư 416 tỷ đồng trong đó đầu tư cho lâm nghiệp 291,2 tỷ đồng, cho
vay 67,2 tỷ đồng, đã đầu tư trực tiếp đến hộ 60% tổng số vốn đầu tư và 85%
so với đầu tư lâm sinh (bảo vệ, khoanh nuôi và trồng rừng) bình quân một hộ
năm 1993: 0,8-1,2 triệu đồng, năm 1994: 1,4-2 triệu đồng.
3.2 Chính sách tín dụng cho nông nghiệp
Cùng với sự đổi mới của nề kinh tế tổ chức ngân hàng đã có sự cải tổ.
Bắt đầu thử nghiệm mô hình ngân hàng hai cấp : ngân hàng Nhà nước Trung
ương làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và các ngân hàng Thương mại với chức

2,4%/tháng. Từ 10/1993 lại giảm còn 1,4-1,8% và 1,2%. Tuy vậy, tổ chức
Ngân hàng Thương mại vẫn chưa đạt lãi suất dương. Hàng năm Ngân hàng
Nông nghiệp còn bị lỗ. Năm 1992 lỗ kinh doanh toàn ngành là 52 tỷ đồng.
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã thực hiện một số mô hình tín
dụng và phương thức chuyển tải vốn xuống các vùng nông thôn với các đối
tượng: hộ giầu, trung bình và nghèo. Có hai phương thức cho vay tới hộ: cho
vay trực tiếp theo 2 dạng: cho vay tại Hội sở ngân hàng và thành lập tổ cho
vay lưu động cho vay và thu nợ trực tiếp tới hộ nông dân, cho vay thông qua
tổ nhóm tương hỗ tín chấp do nông dân tự nguyện thành lập và cho vay
thông qua tổ chức kinh tế tài chính trung gian (hợp tác xã, nông trường, xí
nghiệp, ngân hàng cổ phần, hợp tác xã tín dụng ) làm dịch vụ hưởng hoa
hồng (20% chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra thu nộp vào ngân hàng).

Biểu 4. Tình hình cho vay tín dụng nông nghiệp
Đơn vị: Tỷ đồng
Đến 31/12/1991 Đến 31/12/1992 Đến 31/12/1993
Dư nợ
đến
31/12/
1991
Doanh
số cho
vay
Dư nợ Doanh
số cho
vay
Dư nợ Doanh
số cho
vay
Dư nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status