LUẬN VĂN: Tư tưởng "Hiếu" trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống đạo đức gia đình ở Cà Mau - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Tư tưởng "Hiếu" trong Nho giáo và ảnh
hưởng của nó đối với đời sống đạo đức
gia đình ở Cà Mau

Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức hình thành rất sớm ở Trung Quốc.
Trên 2000 năm tồn tại của mình, Nho giáo có ảnh hưởng rất lớn tới xã hội Trung Quốc
cũng như các nước trong khu vực.
Nho giáo đề cập đến nhiều nội dung, trong đó có nội dung giáo dục tư tưởng hiếu
cho con người.Trong lịch sử phát triển của Nho giáo, cho dù quan niệm của các nhà nho
mỗi thời kỳ có khác nhau, song họ đều thống nhất với nhau một điểm: đề cao đức tính
"Hiếu" của con người, coi đó là một trong những nội dung chủ yếu của học thuyết Nho
giáo.

và có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Qua những tài liệu tìm được, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đặt vấn
đề nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung tư tưởng "Hiếu" của Nho giáo và ảnh
hưởng của nó trong đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay, từ đó luận chứng cho việc tiếp
thu, kế thừa những yếu tố tích cực để xây dựng gia đình có văn hoá, đồng thời phê phán
và khắc phục những biểu hiện tiêu cực của nó trong gia đình. Để góp phần vào việc tìm
hiểu vấn đề đang cần được nghiên cứu sâu rộng hơn này, tác giả chọn đề tài "Tư tưởng
"Hiếu" trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống đạo đức gia đình ở Cà
Mau".
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thập niên cuối thế kỷ XX, vấn đề gia đình trở thành vấn đề thời sự nóng
bỏng ở các nước khu vực châu á, khu vực vốn có truyền thống đề cao gia đình trong sự
hình thành nhân cách con người, sự tồn tại và phát triển xã hội. Chưa bao giờ vấn đề này
thu hút sự nghiên cứu của giới chuyên môn cũng như giới chính trị như thời gian này.
Xu thế toàn cầu hoá đang tạo ra nhiều cơ hội chưa từng thấy cho các gia đình phát
triển thì đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, các loại hình gia đình đang đứng trước
nguy cơ bị đồng hoá, làm suy kiệt những hệ thống giá trị và chuẩn mực đạo đức gia đình.
Chính vì vậy, vấn đề củng cố, phát triển gia đình đã và đang trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Những cuộc tranh luận về các "giá trị châu á" thì mối quan
hệ trong gia đình thường là trọng điểm. Về vấn đề này, ông Lý Quang Diệu (cựu thủ
tướng Singapore), người cổ vũ nhiệt thành cho nét đặc thù Châu á đã đưa ra nhận xét: sự
sụp đổ các cấu trúc gia đình là nguyên nhân của các vấn đề nan giải trong xã hội phương
Tây. Ngược lại, ở Châu á sức mạnh kinh tế lại bắt nguồn từ những con người ngoan
ngoãn, biết tôn trọng quyền lực của cha mẹ; cùng chung sức đầu tư thì giờ và tiền bạc cho
tương lai của con cái, sở dĩ như vậy vì cấu trúc gia đình ở nhiều nước châu á bền vững
hơn.
ở Việt Nam, vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu về Nho giáo đề cập đến.
Trần Trọng Kim với "Nho giáo", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1990. Vũ Khiêu với

quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội" [65, tr.12].
Với việc quan tâm vấn đề sâu rộng này, tác giả đề cập qua luận văn: Tư tưởng
"Hiếu" trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối đời sống đạo đức gia đỡnh ở Cà
Mau.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu nội dung tư tưởng "Hiếu" trong Nho giáo và phân tích ảnh hưởng của
nó đối với đời sống đạo đức gia đình ở Cà Mau hiện nay. Trên cơ sở đó kiến nghị những
giải pháp cơ bản để kế thừa những giá trị và loại bỏ mặt hạn chế của tư tưởng "Hiếu"
trong Nho giáo nhằm xây dựng đời sống đạo đức gia đình ở Cà Mau hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, trình bày nội dung tư tưởng "Hiếu'' và sự biến đổi của nó trong Nho giáo
Trung Quốc và Việt Nam.
Thứ hai, phân tích những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của tư tưởng "Hiếu" đối
với đời sống đạo đức gia đình ở Cà Mau. Thứ ba, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn
chế ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng "Hiếu" đối với đời sống đạo đức gia đình ở Cà Mau
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng "Hiếu" trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống đạo đức
gia đình ở Cà Mau.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức có nội dung rất phong phú, bao quát
nhiều lĩnh vực của đời sống con người. Trong phạm vi luận văn thạc sĩ, đề tài được giới
hạn trong việc nghiên cứu nội dung tư tưởng "Hiếu" của Nho giáo, những biến đổi của nó

và việt nam

Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời trong thời Xuân Thu chiến
quốc, là giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội Trung Hoa cổ đại trong quá trình
chuyển biến sang xã hội phong kiến, kéo dài từ thế kỷ thứ VII trước Công nguyên đến thế
kỷ thứ III trước Công nguyên. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên miêu tả thời kỳ này là thời đại
“vương đạo suy vi”, “bá đạo” cường thịnh, lấn át “vương đạo”, chế độ tông pháp của nhà
Chu bị đảo lộn, đạo lý nhân luân suy đồi “vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo
tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con ” (quân bất quân, thần bất thần, phụ
bất phụ, tử bất tử) [84, tr.28].
Trước bối cảnh xã hội như vậy, các nhà tư tưởng có tâm huyết đua nhau tìm kiếm
nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm ổn định trật tự xã hội. Đây là thời kỳ tư tưởng
Triết học Trung Quốc phát triển nở rộ, nhiều triết thuyết xuất hiện như: Nho gia, Pháp
gia, Mặc gia, Đạo gia… Người ta gọi đó là thời kỳ “bách hoa đề phóng, bách gia tranh
minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng). Trong số bách gia xuất hiện thời Tiên Tần ở
Trung Quốc thì Nho giáo là một trong những học thuyết có sức sống lâu dài nhất. Hơn
2000 năm của chế độ phong kiến Trung Quốc, đã trải qua bao triều đại khác nhau, bao
biến động, thăng trầm của xã hội nhưng địa vị thống trị của Nho giáo trong thượng tầng
kiến trúc vẫn được giữ vững. Các triều đại Phong kiến Trung Quốc xem Khổng Tử là
người thầy của muôn đời “Vạn thế sư biểu”. Khổng Tử cho rằng: xã hội loạn lạc là bởi
con người “vô đạo”, cần đưa con người trở về “hữu đạo” bằng con đường giáo hóa. “Đạo
hiếu” là một trong những phạm trù đạo đức cơ bản của Nho giáo để giáo hóa con người
góp phần ổn định trật tự xã hội. Nối tiếp tinh thần trên, các nhà Nho đời sau tiếp tục bổ
sung và củng cố luận điểm đó của Khổng Tử.
1.1. Quan niệm của Nho giáo về tầm quan trọng của giáo dục đạo đức trong
gia đình Nho giáo từ đời nhà Hán trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến Trung quốc,
nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến, bản thân nó mang nhiều yếu tố bảo thủ,

đạo đức.
Xưa nay, chưa một học thuyết nào, một trường phái nào như Nho giáo đã đề cập
chữ Hiếu một cách sâu sắc, cụ thể và đầy đủ đến thế. Nho giáo có chủ đích rõ ràng trong
việc xây dựng những quan hệ chặt chẽ trong gia đình và phát triển chúng thành những
quan hệ trong toàn xã hội, trong việc xây dựng những tình cảm và đức tính tốt trong gia
đình, từ đó vun đắp chúng trở thành những tình cảm và đức tốt trong đạo thờ vua, trị
nước. Nho giáo nói không che đậy: “Hiếu là để phụng sự nhà vua đấy, Đễ là để phụng sự
bề trên đấy, Từ là để sai khiến dân chúng đấy” (Hiếu giả sở dĩ sự quân giã; đễ giả sở dĩ sự
trưởng giã, Từ giả sở dĩ sử chúng giã) [7, tr.20]. Nho giáo vì thế rất coi trọng việc giáo
dục trong gia đình. Đó là trường học đầu tiên để giáo dục con người đi vào xã hội. “Thân
yêu cha mẹ mình, vì đó mà cư xử có nhân với người đời” (Thân thân, nhi, nhân dân) [6,
tr.252].
Cũng từ quan điểm huyết thống, Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa những
thành viên trong cùng một gia đình, một dòng họ. Nho giáo kêu gọi họ yêu thương đùm
bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn danh dự và phát huy truyền thống của gia đình,
của dòng họ. Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời răn dạy của cha ông với
những gia huấn, gia ngữ được lưu truyền đến các đời con cháu. Việc thờ cúng ông bà cha
mẹ trong nhà gắn với việc thờ cúng tổ tiên trong họ, việc xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ
mả, sưu tầm ghi chép gia phả đều góp phần làm khắng khít thêm các mối quan hệ trong
gia đình, gia tộc. Đã có nhiều biểu hiện tốt đẹp của tình người được nảy sinh từ đó.
Gia đình trở thành hòn đá tảng của lâu đài phong kiến. Từ đạo đức trong gia đình
đến chính trị ngoài xã hội đều có liên quan đến nhau. Cũng vì vậy, muốn đánh giá được
phẩm chất của một người ở ngoài xã hội, muốn xem có nên cân nhắc và sử dụng họ không,
trước tiên người ta phải xem tư cách, thái độ của người ấy trong gia đình ra sao. Có đối xử
tốt trong gia đình, mới có thể đối xử tốt ngoài xã hội. “Bậc quân tử có ăn ở hợp lý ở trong
nhà, mới có thể dạy người trong nước” (Nghi kỳ gia nhân, nhi hậu khả dĩ giáo quốc nhân) [7,
tr.20], và “đã là người hiếu đễ mà lại thích phạm thượng điều đó có ít thôi. Đã không
thích phạm thượng mà lại thích làm loạn thì điều đó chưa có bao giờ” (Kỳ vi nhơn giã,

Chẳng hạn, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh sự hiếu thuận đối với cha mẹ và xem đó
là một phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người. Ông nói: “Làm cha mẹ, ai cũng lo cho
con, sợ con phóng túng mà hư thân mất nết, sợ con theo bạn xấu mà làm chuyện phi
pháp, mắc vòng tù tội. Cho nên đi chơi nhà ai thì nên cho cha mẹ biết trước, phòng khi
giao du với kẻ chẳng xứng đáng thì cha mẹ khuyên can” (phụ mẫu tại, bất viễn du; du,
tất hữu phương) [5, tr.58], hay: “Làm con nên xem xét chí hướng của cha. Đến khi cha
thác, người con được trọn quyền hành động, cho nên phải nhớ tới những việc làm của
cha. Nhưng khi cha thác trong ba năm, bấy giờ người con đương để tang, cho nên chẳng
có vui sướng gì mà cải tạo, vì vậy nên được gọi là hiếu” (phụ tại, quan kỳ chí. Phụ một,
quan kỳ hạnh. Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu kỹ) [5, tr.8].
Bên cạnh lòng "Hiếu" đối với cha mẹ, Khổng Tử còn nhấn mạnh sự kính yêu của
em đối với anh và gọi đó là “đễ”. Do đó, Khổng Tử cho rằng “Làm con khi vào thì thảo
với cha mẹ, khi ra thì kính anh chị và người lớn tuổi” (Đệ tử nhập tắc hiếu; xuất tắc đễ)
[5, tr.6]. Đây là chuẩn mực cơ bản nhất của Đạo hiếu và là quy phạm sơ đẳng nhất cho
hành vi con người.
Đạo hiếu nghĩa rộng: Là trung hiếu, đó là lòng kính yêu giữa người với người
trong xã hội, bao gồm lòng hiếu của trẻ đối với già, của kẻ dưới với người trên, lòng
trung của tôi thần với quân vương, của dân đối với nước.
Đó là bước sáng tạo lớn nhất của Khổng Tử, Đạo Hiếu còn là kính yêu giữa những
người không cùng quan hệ huyết thống. “Trung Hiếu là đạo hiếu được xã hội hóa, chính
trị hóa, là người nào nói lời chi cũng trung thành, tín thật, làm việc chi cũng đối hậu, kính
cẩn, dẫu cho đến xứ thô - tục của người miền Nam hay miền Bắc, cũng được thông hành”
(Ngôn trung tín, hạnh đốc kính, tuy Man Mạch chi bang, hành hỹ) [5, tr.240]. Hai chữ
“Trung hiếu” đã gây nên những ảnh hưởng sâu sắc đối với lịch sử Trung Quốc, dù rằng
tích cực hay tiêu cực, nó có tác dụng mạnh mẽ trong việc duy trì sự thống trị của xã hội
phong kiến. Nhưng đây cũng là chiếc gông tinh thần được giai cấp thống trị dùng để kìm
kẹp, trói buộc và nô dịch người dân.
Chữ “Hiếu” không phải là của giai cấp phong kiến vì từ khi có xã hội loài người, có
các thế hệ thì mối quan hệ giữa thế hệ sau với thế hệ trước chính là chữ “Hiếu“. Mối quan

thường xã hội đảo lộn, đạo đức suy đồi. Nạn chư hầu chiếm ngôi "Thiên tử", đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, cha giết con, anh hại em, vợ lìa chồng thường xuyên xảy
ra….Để lập lại trật tự xã hội, các nhà Nho chủ trương dùng “đức trị". Có thể nói, “Nhân"
là quan niệm tiêu biểu trong tư tưởng Khổng - Mạnh, trong đó “Hiếu đễ" là gốc của
Nhân.
Đề cao tột bậc hai chữ “Hiếu đễ", thầy trò Khổng Khâu đã tốn rất nhiều công phu
để định rõ nội dung ý nghĩa của hai chữ ấy, nhất là của chữ “Hiếu“ theo yêu cầu giáo dục
của mình. Hiếu kính cha mẹ tức là phải tôn trọng, kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ, làm
con phải cảm kích đối với công ơn sinh thành, nuôi dưỡng giáo dục của cha mẹ, thực
hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ. Nho giáo cho rằng: “làm cho
cha mẹ được tôn trọng là bậc hiếu cao nhất, không làm nhục cha mẹ là bậc hiếu thứ hai,
có thể nuôi cha mẹ là bậc hiếu cuối cùng" (Hiếu hữu Tam: Đại hiếu tôn thân, kỳ hiếu
phất nhục, kỳ hạ năng dưỡng) [73, tr.265].
Thông thường, người ta hiểu rằng “Hiếu“ là đức của con người, làm con hết lòng
kính yêu cha mẹ khi cha mẹ còn sống, kế thừa ý chí, đạo lý của cha mẹ sau khi cha mẹ
qua đời. Nhưng Nho giáo còn coi nhà là gốc của nước, cũng như nước là gốc của thiên
hạ, do đó muốn bình thiên hạ phải biết trị quốc, muốn trị quốc phải biết tề gia. “Hiếu đễ"
không chỉ là đức tốt của con người làm anh em, làm con trong nhà mà còn luyện cho con
người trở thành hữu đạo, hữu đức trong nước, trong thiên hạ nữa. Trong phạm vi nhà, sợi
dây thiêng liêng đầu tiên buộc chặt con người với người khác sau khi ra đời là tình nghĩa
của người con đối với cha mẹ, nên khi bắt đầu có tình cảm và tư duy, trẻ con phải bắt đầu
học tập để giữ đúng đạo làm con và có đức hiếu. Đồng thời, trong cuộc sống gia đình có
đạo làm con và có đức hiếu với cha mẹ thì khi lớn lên cũng trở thành người cha Từ.
Trong phạm vi nước và thiên hạ, những người con như vậy cũng dễ trở thành những
người làm nên nghiệp lớn hoặc có phần cống hiến trong công việc trị quốc. Từ đó suy ra,
Tăng Sâm viết trong cuốn Đại học, “Hiếu là để phụng sự nhà vua đấy, Đễ là để phụng sự
bề trên đấy, Từ là để sai khiến dân đấy" (Hiếu giả sở dĩ sự quân giã; đễ giã sở dĩ sự
trưởng giã; Từ giã sở dĩ sử chúng giã) [7, tr.20].

người làm con trước hết phải thực hành đạo hiếu. Khổng Tử không nhấn mạnh đến của
cải do con cái làm cho cha mẹ mà chủ yếu nói đến “tâm” để đánh giá lòng hiếu thảo.
Theo ông, hiếu của con cái đối với cha mẹ, không chỉ phụng dưỡng người đã sinh ra mình mà trước hết phải có lòng thành kính nuôi được cha mẹ, nuôi dưỡng được cha mẹ là
điều tốt nhưng phải bằng tấm lòng kính yêu chân thành chứ đừng như đời nay “hễ thấy ai
nuôi được cha mẹ thì khen là có hiếu. Nhưng chó ngựa thì người ta cũng nuôi nên nuôi
cha mẹ mà chẳng kính trọng thì khác gì nuôi súc vật” (Kim chi hiếu giả, thị vị năng
dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng. Bất kính, hà dĩ biệt hồ) [5, tr.18]. Đồng
thời, “làm con đối với cha mẹ lúc nào cũng tỏ vẻ hòa vui, giữ được như vậy mới khó, mới
đáng gọi là hiếu” (Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kỳ lao) [5, tr.18], nghĩa là:
Đối xử với cha mẹ, việc cho ăn cho uống là dễ làm, làm việc thay cho
cha mẹ cũng dễ dàng, còn lo toan cho cha mẹ khi đau yếu bệnh tật là khó làm
và khó làm tốt. Còn trước mặt cha mẹ, bất cứ hoàn cảnh nào đều giữ được nét
mặt vui vẻ là điều hết sức khó làm. Đối xử với cha mẹ, không có sự quan tâm
tự đáy lòng được xem là hiếu ư? [61, tr.53].
Khi cha mẹ còn sống, không bao giờ làm gì để cho cha mẹ ưu tư phiền muộn bực
mình, không đưa lại phiền phức cho cha mẹ, bởi vậy “không nên đi đâu xa, có đi xa thì phải
nói cha mẹ biết chỗ để cha mẹ khỏi lo và nhỡ có việc gì, có thể tìm gọi được” (Phụ mẫu tại,
bất viễn du; du, tất hữu phương) [5, tr.58]. Khi có tang gia, giữa tiền bạc và tấm lòng,
Khổng tử cho rằng “buồn thương thực sự cao hơn tiền bạc” (tang, dữ kỳ dị giã, ninh
thích) [5, tr.32].
Hiếu là “nết đầu trong trăm nết”. Hành vi của người ta không gì lớn bằng chữ
“Hiếu”, người con có hiếu có ý thức đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với
cha mẹ, đó là sự biết ơn, cù lao chín chữ “cha sinh ra ta, mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ” (ai
ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao). Đó là ý nguyện thường xuyên làm sao để cha mẹ được vui
sướng, dù mình có phải ăn gạo xấu, uống nước lã cũng thỏa lòng (lễ ký). Đó là lòng người
con suốt đời yêu mến cha mẹ “trọn đời lúc nào cũng luyến mộ cha mẹ. Đến năm mươi tuổi mà
còn luyến mộ cha mẹ như lúc còn nhỏ, ta chỉ gương ấy ở vua Đại Thuấn mà thôi” (Đại - hiếu

thích khác của Khổng Tử về đạo Hiếu như “để tang cha ba năm”, “có lời khuyên mà cha
mẹ không nghe thì vẫn phải tôn kính, không được làm điều sai” đều xuất phát từ
nguyên tắc vô vi. Nguyên tắc này giúp ích cho việc duy trì chế độ gia tộc.
Mặt khác, Nho giáo đều lấy “Hiếu Đễ" và “lễ nhạc" làm nền tảng cơ sở cho sự giáo
hóa, coi Nhân là đỉnh cao chót vót của tháp ngà đạo đức. Khổng tử lại đặt vấn đề: “Hiếu đễ là cái gốc của đức nhân chăng ?" (Hiếu đễ giã giả, kỳ vi nhân, chi bổn dự) [5, tr.5],
nên người có nhân phải có đức “Hiếu đễ " - nuôi dưỡng và thành kính với cha mẹ, có
lòng kính yêu cha mẹ và người lớn trong nhà thì mới biết kính yêu người ngoài. Khi
chúng ta nói "nhân là chuẩn mực tối cao của hành vi con người" thì chỉ là một cách nói
trừu tượng, phải qua hành vi chuẩn mực cụ thể là Hiếu thì Nhân mới được thể hiện. Nhân
là nguyên tắc phổ biến, Hiếu là nguyên tắc đặc thù. Nhưng trong hành vi thực tế, Nhân và
Hiếu tuy một mà hai, tuy hai mà một. Điển hình, có lần vì Tể Ngã không muốn tuân theo
việc để tang ba năm, Khổng Tử mắng “Tể Ngã bất nhân" (Dư chi bất nhân giã) [5,
tr.280], vì bất hiếu, không nhớ công cha mẹ bồng bế ba năm mà muốn rút ngắn thời gian
để tang từ ba năm xuống một năm. Như vậy, trong hành động cụ thể, bất hiếu cũng có
nghĩa là bất nhân vì theo Khổng Tử, “Hiếu“ không chỉ thể hiện thái độ của người con đối
với cha mẹ khi còn sống mà còn thể hiện hành vi của mình khi cha mẹ đã mất. “Nếu ba
năm (có nghĩa là nhiều năm) không thay đổi những quy tắc, quy phạm của đạo làm con
với cha, người như vậy được gọi là người có hiếu" (phụ một, quan kỳ hành. Tam niên vô
cải vu phụ chi đạo, khả vị hiếu hĩ) [61, tr.32].
Đặc biệt, quan niệm về Hiếu của Khổng Tử không phải là quan điểm một chiều,
không phải là cái nhất nhất nghe theo lời cha mẹ, mà khi cha mẹ có lầm lỗi gì, kẻ làm con
phải khuyên can một cách cung kính với lời lẽ dịu ngọt, dẫu cho cha mẹ không nghe hay
trừng phạt, đánh đập cũng chớ có oán hờn, khi cha mẹ phạm lỗi mà chẳng can gián thì đó
là con bất hiếu, nhưng nếu oán hận bất bình cũng không phải là hiếu vậy.Mạnh Tử dạy
các học trò rằng:
Khi cha mẹ phạm lỗi lầm lớn mà mình chẳng tỏ ý oán trách, đó là mình
coi cha mẹ như người dưng kẻ lạ, lúc cha mẹ phạm lỗi nhỏ mà mình đem lòng

nên từ ái; thì dân sẽ trung thành với mình" (Lâm chi dĩ trang, tắc kính; hiếu từ, tắc trung)
[5, tr.24]. Chu Hy giải thích “Hiếu từ tắc Trung”, có nghĩa là hiếu với cha mẹ, nhân từ
với dân thì được dân trung thành với mình. Như vậy, ở đây Trung cũng là hệ quả của việc
lãnh tụ chính trị có hiếu với cha mẹ, nhân từ với dân chúng, không liên quan gì đến quan
niệm Trung quân, phục tùng vô điều kiện như người đời sau nói tới. Tóm lại, đối với Khổng Tử, Hiếu là nguyên tắc cơ bản để duy trì trật tự trên dưới -
chức năng chủ yếu của nó là ổn định tổ chức gia tộc.
Đến Mạnh Tử thì ý nghĩa của “Hiếu" đã được mở rộng vô hạn định. Theo cách nói
của Mạnh Tử thì ở trên thế gian, ngoài Hiếu đễ ra, hầu như không còn gì có giá trị nữa.
Văn Vương là một tượng trưng của lý tưởng Nho gia nhưng ca ngợi đức độ của Văn
Vương, Mạnh Tử chỉ nói là ông ta biết thờ cha mẹ “vì ông coi việc tôn trọng người thân
là nguyên tắc tối cao". Mạnh Tử nói:
Chỗ đích thật của Nhân là thờ cha. Chỗ đích thật của Nghĩa là kính anh.
Chỗ đích thực của trí là biết rõ hai việc thờ cha, kính anh và chẳng hề bỏ bê
hai việc ấy. Chỗ đích thực của Lễ là khéo sắp đặt và tô điểm hai việc ấy. Chỗ
đích thực của nhạc là vui hòa trong hai việc ấy. Hễ mình vui hòa thì hai việc
thờ cha và kính anh sanh nở thêm [6, tr.35].
Mạnh Tử cho rằng bản chất của con người là thiện, là cơ sở tiên nghiệm của Hiếu
đễ.
Theo Mạnh Tử, Hiếu là đạo đức cao nhất ở đời, phụng sự cha mẹ, tôn kính cha mẹ
là biểu hiện đạo đức cao nhất của con người, Mạnh Tử nói “Thờ phụng ai quan trọng
nhất? Thờ phụng cha mẹ là quan trọng nhất” (Sự thục vi đại? Sự thân vi đại) [6, tr.30].
Mạnh Tử cho rằng: “phàm làm con, nếu cha mẹ có ghét, thì mình làm lụng cực nhọc cho
cha mẹ và chẳng hề than oán” (phụ mẫu ái chi hỷ nhi bất vong. Phụ mẫu ố chi, lao nhi bất
oán) [6, tr.74], có nghĩa là mặc dù cha mẹ không thương ta nhưng không được vì thế mà
giảm sút lòng hiếu thảo. Mạnh Tử còn nói “dẫu được lòng thiên hạ, mà chẳng được lòng
cha mẹ thì chẳng đáng làm người; dẫu thiên hạ quy thuận mình, mà mình chẳng thuận
hòa với cha mẹ thì chẳng đáng làm con” (Bất đắc hồ thân, bất khả dĩ vi nhơn; bất thuận

dân) [6, tr.252].
Cũng vì vậy, muốn đánh giá được phẩm chất của một người ở ngoài xã hội, muốn
xem có nên cân nhắc và sử dụng họ hay không, trước tiên ta phải xem tư cách, thái độ
của người ấy trong gia đình ra sao. Có đối xử tốt với gia đình mới có thể đối xử tốt ở
ngoài xã hội; “Như mình có nết hiếu với cha mẹ, là để mở rộng cái nết đó ra mà thờ vua
(quốc - trưởng); mình có nết đễ với anh, là để mở rộng cái nết đó ra mà kính bực quan trưởng; mình có cái đức từ với cháu, là để mở rộng cái đức đó ra mà sai khiến chúng
dân” (Hiếu giả sở dĩ sự quân giã; đễ giả sở dĩ sự trưởng giã; từ giả sở dĩ sự chúng giã) [7,
tr.20]. Và “trong những người có nết hiếu (thảo với cha mẹ), nết đễ (kính anh chị và
người lớn tuổi), ít ai ưa trái nghịch với bề trên. đã không ưa thích trái nghịch với bề trên,
lại thích gây ra những cuộc phản loạn, người như vậy, ta chưa từng thấy” (Kỳ vi nhơn
giã, hiếu đễ, nhi háo phạm thượng giả, tiển hỹ. Bất háo phạm thượng, nhi háo tác loạn
giả, vị chi hữu giã) [5, tr.4]. Từ đó Nho giáo khẳng định rằng, sự giáo dục từ trong gia
đình có tác động mạnh mẽ, thậm chí quyết định sự thành công trong trị nước.
Với Tuân Tử, thì người con có hiếu có thể không theo mệnh cha, nếu như theo
mệnh thì cha mẹ nguy, theo mệnh thì cha mẹ nhục, theo mệnh thì là cầm thú. Phải chọn
cái đúng mà theo sao cho hợp đạo Trung, đúng đạo nghĩa và giữ được điều kính.
Tóm lại, Nho giáo thời Tiên Tần rất đề cao Hiếu và quan tâm đến vấn đề giáo dục
đạo Hiếu trong gia đình. Bởi lẽ, trong các phạm trù đạo đức của Nho giáo thì Nhân giữ
vai trò là trung tâm. Từ Nhân mà phát sinh ra các đức khác và các đức khác bị quy tụ cả
về với nó. Nhân có nội dung phong phú, ư nghĩa sâu rộng nhưng nghĩa chính là lòng
thương người. Khác với Mặc gia, lòng thương người (tức Nhân) của Nho giáo có phân
biệt thân với sơ, gần với xa, ít nhiều đậm nhạt khác nhau, lấy huyết thống làm cơ sở. Do
vậy lòng thương người phải được thể hiện trước hết từ trong phạm vi gia đình, sau đó
mới mở rộng ra họ hàng, làng, nước. Trong gia đình nổi lên hai mối quan hệ cơ bản: cha
mẹ với con cái (Hiếu), anh với em (Đễ). Từ đó, Hiếu, Đễ trở thành gốc của Nhân; Hiếu là
“nết đầu trong trăm nết”.
Tư tưởng Hiếu trong Nho giáo thời Tiền tần mang tính nhân văn khá sâu sắc. Từ

vai trò quyết định trong đời sống văn hóa, xã hội suốt nhiều thế kỷ ở Trung Quốc. Trong
sách “Lễ ký", chữ “Hiếu" không chỉ giới hạn trong quan hệ đạo đức mà còn bao trùm lên
vạn vật:
ở không ngăn nắp là không có hiếu; bất trung với vua là không có hiếu; bất
với quan là không có hiếu; bất tín với bạn là không có hiếu; đánh trận không dũng
cảm là không có hiếu. Vua không thành đạt thì tai họa sẽ đến với người thân, ai
dám không thận trọng?. Chặt một cái cây, giết một con vật không đúng lúc cũng là
bất hiếu [73, tr.265]. Đổng Trọng Thư, cây đại thụ của Nho giáo đời Hán cũng tán thành quan điểm cho
rằng: “Bất trung, bất hiếu là có tội với vua với cha, cũng chính là có tội với trời” [3, tr.
364]. Đổng Trọng Thư, xuất phát từ quan điểm duy tâm và thần học, ông đã uốn cái luân
lý của Khổng - Mạnh thành một thứ thiên tính của loài người, giải thích nó như một biểu
hiện của trời:
Người ta chịu mệnh của giời, vốn đã vượt hẳn các sinh vật, ở nhà thì có
tình cha con, anh em; ra ngoài thì có nghĩa vua tôi, trên dưới, khi gặp gỡ giao
dịch với nhau thì có thứ bậc già trẻ, lớn bé, tỏ rõ có văn về tiếp xúc với nhau
niềm nở, lấy ân tình mà thương yêu nhau, đó là những cái làm cho người
thành cao quý [85, tr.378].
Cũng trên lập trường thần học, Đổng Trọng Thư đã quy tác dụng quyết định cho
Trời trên cơ sở quan niệm “trời với người hợp làm một”, ông giải thích quan hệ cha con
nói riêng, quan hệ giữa người với người nói chung dựa vào thuyết âm dương “dương hợp
với âm, âm hợp với dương, chồng hợp với vợ, vợ hợp với chồng, cha hợp với con, con
hợp với cha, vua hợp với bề tôi, bề tôi hợp với vua. Cái nghĩa vua tôi, cha con, vợ chồng
đều chịu đạo phối hợp nó ở âm dương …” [85, tr.380]. Với Đổng Trọng Thư, trong quan
hệ cha - con thì cha có quyền uy tuyệt đối với con, “cha là trời của con”.
Như vậy, tư tưởng Hiếu trong Nho giáo thời Hán được Đổng Trọng Thư và các nhà
Nho bổ sung, phát triển theo hướng duy tâm, một chiều, cực đoan và khắc nghiệt. Nếu
Nho giáo thời Tiên Tần, tư tưởng Hiếu còn thể hiện nghĩa vụ đạo đức hai chiều: giữa trên

cái. Vì vậy, nên giữa hai thế hệ nảy sinh xung khắc thì đương nhiên trách nhiệm phải
thuộc về con cái. “Hiếu" trở thành sự phục tùng vô điều kiện mà không cần có cơ sở lý
tính. Con cái phải tuyệt đối vâng lời cha mẹ một cách máy móc “cha bắt con chết mà con
không chết là bất hiếu" (phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu); “trong thiên hạ không có
cha mẹ nào không đúng" để rồi dẫn đến “cha không nhân từ nhưng con không thể không
hiếu".
Nho giáo về sau rất đề cao chữ “Hiếu"để củng cố cho tư tưởng tôn quân, đề cao chế
độ phong kiến quan liêu tập quyền, củng cố gia đình - đề cao quyền huynh thế phụ, đảm
bảo tuyệt đối cho chế độ truyền tử, ngôi vua truyền cho con trưởng. Nó đồng nhất tình

Trích đoạn Kế thừa những nét đẹp của gia đình truyền thống và tiếp thu những tiến bộ của thời đại về gia đình Xây dựng gia đình văn hóa mới đảm bảo cho các thành viên trong gia đình có quan hệ bình đẳng, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau, có trách nhiệm nuô Cải tạo các phong tục, tập quán lạc hậu, phát huy mặt tích cực của tư Thông qua sự “nêu gương” của cha mẹ, ông bà để giáo dục lòng hiếu thảo của con cá Nâng cao vai trò của pháp luật, kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật và đạo đức trong việc giáo dục đạo đức gia đình ở Cà Mau hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status