TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
106
VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TÂM LÝ TRONG
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN NAM CAO
ON PSYCHOANALYTIC REALISM IN THE WORKS OF NAM CAO
BÙI CÔNG MINH
Uỷ ban Mặt trận TQVN thành phố Đà Nẵng
TÓM TẮT
Nam Cao là tác gia tiêu biểu xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực phê phán Việt
Nam giai đoạn1930-1945, đồng thời là nhà văn có phong cách độc đáo với những cách
tân quan trọng về nội dung và nghệ thuật phản ánh hiện thực. Để có thể đi sâu tìm hiểu
giá trị đặc sắc của tác phẩm Nam Cao, tác giả bài báo đề xuất sử dụng khái niệm chủ
nghĩa hiện thực tâm lý - một khái niệm mới, gắn với quan niệm về chủ nghĩa hiện thực
hiện đạị, bên cạnh khái niệm chủ nghĩa hiện thực truyền thống vốn được phổ biến trong
giới nghiên cứu ở ta suốt nhiều thập kỷ qua. Nội dung bài báo gồm phần giới thiệu khái
niệm đồng thời tập trung chứng minh những đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực tâm lý
đã được thể hiện rõ nét trong tác phẩm Nam Cao.
ABSTRACT
Nam Cao is an outstanding and typical writer of the critical realism literary trend in
Vietnam between 1930 and 1945. He possesses a unique writing style with important
innovations in terms of content and the art of reflecting reality. In order to further explore
the special values of Nam Cao’s works, the author of this article proposes the use of
psychoanalytic realism, a new concept about modern realism existing by the side of
traditional realism, which has become well-known among Vietnamese researchers in
the past decades. The paper consists of the introduction, clarification of the concept and
the justification of the typical features of psychoanalytic realism, which are reflected
very distinctively in the works of Nam Cao.
1. Đặt vấn đề
nghiên cứu gọi là chủ nghĩa hiện thực tâm lý. Đây là khái niệm để chỉ một chủ nghĩa
hiện thực đi sâu khám phá hiện thực của tâm hồn, “một chủ nghĩa hiện thực trong ý
nghĩa cao nhất, một chủ nghĩa hiện thực
khám phá con người bên trong con người "[5,
tr.8]. Trong một công trình nghiên cứu của Viện sĩ người Nga M.B. Khrapsencô
2
được
dịch ra tiếng Việt vào cuối những năm 70 (thế kỷ XX), khi xem xét các hiện tượng văn
học hiện thực Nga cuối thế kỷ XIX, nhà nghiên cứu này đã đề xuất phân chia chủ nghĩa
hiện thực Nga thành 2 loại hình cơ bản: chủ nghĩa hiện thực tâm lý - sử thi và chủ
nghĩa hiện thực tâm lý- triết học
Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng khái niệm chủ
nghĩa hiện thực tâm lý vào phân tích sáng tác của nhà văn Nam Cao để phân biệt với
loại hình “chủ nghĩa hiện thực phơi bày phong hoá, thế sự” trong sáng tác của các nhà
văn trước ông như Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,
[2, tr.342]. Với cách phân loại này, có thể khai thác
được đầy đủ, toàn diện vẻ đặc thù sâu sắc trong nghệ thuật hiện thực của các nhà văn tài
năng độc đáo, đặc biệt là với hai phong cách lớn của văn học Nga cuối thế kỷ XIX là
L.Tônxtôi và Ph.Đôtxtôiepxki.
1
Cùng với khái niệm chủ nghĩa hiện thực nói chung, các nhà nghiên cứu cũng đồng thời sử dụng khái niệm
chủ nghĩa hiện thực phê phán để chỉ trào lưu văn học thời kỳ này, do cảm hứng chủ đạo của nó là phê phán,
tố cáo xã hội. Đây là khái niệm do Hội Nhà văn Liên xô đưa ra năm 1934 để phân biệt chủ nghĩa hiện thực
không thuộc ý thức hệ vô sản với chủ nghĩa hiện thực thuộc ý thức hệ vô sản. Sự khác nhau chủ yếu giữa hai
khái niệm này là ở chỗ, một bên chỉ dừng lại ở mức độ tố cáo, phê phán còn một bên là chỉ ra chiều hướng
phát triển tương lai. “Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa yêu cầu mô tả cuộc sống một cách chân thực,
lịch sử-cụ thể và trong quá trình phát triển cách mạng của nó, và trên cơ sở sự mô tả đó có nhiệm vụ giáo
ông - cho dù là nông dân hay trí thức tiểu t ư sản - đều mang trong mình những cuộc vật
lộn nội tâm dữ dội, những sự dằn vặt, cắn rứt, khổ sở về bản thân mình và cả trong suy
nghĩ đối với những người chung quanh. Những câu chuyện của Nam Cao thường không
thể kể lại được vì nó được dệt nên chỉ bởi những hồi ức, những nỗi buồn vui của nhân
vật, mặc dầu những hồi ức, những nỗi buồn vui ấy đều gắn liền với hiện thực đời sống
xã hội Việt Nam trước 1945. Khi đã xác định tâm lý con người là đối tượng phản ánh,
Nam Cao thường không chọn bối cảnh rộng lớn để đưa vào tác phẩm như nhiều nhà văn
hiện thực khác. Ông đã soi chiếu vào những không giản nhỏ hẹp để trên đó, nhân vật
hiện ra với triền miên trong những suy nghĩ, qua đó bộc lộ tính cách, bộc lộ tình cảm,
thái độ xã hội của mình. Thời gian trong tác phẩm Nam Cao dường như cũng ngưng
đọng, quẩn quanh, bị tãi ra, kéo dài miên man. Nó là một thứ thời gian tâm trạng. Con
người hiện hữu của Nam Cao thường hay hồi tưởng lại thời gian quá khứ để quên đi
những nỗi khổ về vật chất và tinh thần hiện tại.
Nam Cao không né tránh, trái lại, ông đặc biệt thành công với những "ca" tâm lý
phức tạp nhất, những tâm trạng chứa chất nhiều mâu thuẫn. Và chính ở đó, bức tranh
hiện thực về đời sống và tính cách nhân vật càng được khắc họa đến mức điển hình
sống động. Ông đã khám phá nhiều khía cạnh khác nhau, thậm chí tương phản nhau
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
109
trong cùng một tính cách. Vì vậy về mặt thi pháp phản ánh, Nam Cao cũng phải thể
hiện nhân vật rất đa dạng, đa chiều trong tính phức hợp và khả năng lưỡng phân của nó.
Không phải là hiếm trên những trang truyện của Nam Cao, những tâm trạng như thế
này: "ngay lúc ấy hắn nghẹn ngào trong cổ. Nh ưng chỉ một lúc sau, hắn đã bật cười"
(Xem bói ); hoặc: "giọng y nửa đứng đắn, nửa đùa. Nói xong, y cười ăng ắc. Tiếng cười
thái quá ấy nghe còn đau đớn hơn tiếng khóc. Tiếng cười im, mặt y dãn ra ngay, trở nên
buồn rười rượi" (Sống mòn). Nam Cao biệt tài trong việc mô tả tâm trạng dở cười dở
khóc, dở say dở tỉnh. Nó là cái ngoại hiện của những tấn bi kịch bên trong con người.
Diễn tả những tình cảm phức tạp của nhân vật, Nam Cao sử dụng những từ ngữ có sức
gợi lớn. Nhân vật của Nam Cao khóc: "Mắt lão ầng ậng nước", "nước mắt ứa ra òng
ọng", "thầy rân rấn nước mắt", "mắt bu ầng ậng nước”, “khóc ằng ặc như người nuốt
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(28).2008
110
4. Kết luận:
Tóm lại, khi bàn về những đóng góp đặc sắc của Nam Cao vào tiến trình hiện
đại hoá văn xuôi Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945, chúng ta khẳng định Nam
Cao
-
với tư cách là nhà văn hiện thực xuất sắc - đã không đi ra ngoài những nguyên tắc của
chủ nghĩa hiện thực nhưng ông đã mang đến cho văn học một loại hình chủ nghĩa hiện
thực mới, đó là
chủ
nghĩa
hiện
thựctâm lý, khai thác hiện thực ở chiều sâu mang tính
triết luận về đời sống tinh thần nhân vật, vượt lên trên lối kể tả thông thường. Sự cách
tân sâu sắc này đã đưa Nam Cao trở thành “người đại diện tiêu biểu nhất” (chúng tôi
nhấn mạnh) của trào lưu hiện thực phê phán trong thời kỳ phát triển cuối cùng” [1,
tr.329].
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Hoành Khung (1973), “Nam Cao”, Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945,