Về một nền giáo dục đã đến lúc phải cải tổ
Giáo dục Việt Nam hiện vẫn chậm trễ trong cải tổ, loay hoay với các dự án tiền tỷ,
tốn công tốn sức mà hiệu quả chẳng thấy đâu, đến nỗi năm nay kỳ thi Olympic
Toán quốc tế xuống hạng, kỳ thi tuyển sinh đại học có đến hàng ngàn điểm 0 môn
Lịch sử (có nhiều trường đại học môn thi Lịch sử có trên 98% dưới điểm trung
bình), hàng loạt trường đại học hoảng loạn vì thiếu sinh viên, phải tức tốc xin Bộ
Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho xét tuyển dưới mức điểm sàn, hạ chỉ tiêu xét
tuyển… Những hệ quả này, trên thực tế chỉ là hiện tượng “giọt nước làm tràn ly”
bởi bên trong nền giáo dục có quá nhiều tồn tại bất cập.
1. Trước hết nói về các cuộc vận động trong ngành giáo dục
Việc đưa rất nhiều cuộc vận động vào trường học, các cơ sở giáo dục có thể
nói là đã thất bại như chính sự thất bại của việc phân ban trong giáo dục. Theo
quan điểm của chúng tôi, việc đưa các cuộc vận động vào nhà trường là một
việc làm chưa tuân thủ nguyên tắc của giáo dục (chưa nói đến chuyện tiêu tốn
nhiều tiền bạc). Giáo dục là đào tạo con người, là hoạt động chuyên môn (nhà
trường là cơ quan chuyên môn), không phải là nơi làm công tác tuyên truyền.
Kiểu khẩu hiệu, phong trào như phong trào đoàn chỉ áp dụng cho những cơ
quan hành chính khác. Với giáo dục chỉ có đào tạo và đào tạo. Tiếng nói từ
chất lượng đào tạo là tiếng nói uy quyền nhất. Thực tế, những năm qua, mặc
cho các thông tin đại chúng tuyên truyền mạnh mẽ các cuộc vận động, giáo
dục vẫn cứ sa sút. Đó là chưa cần phân tích những mặt trái của tên gọi các
cuộc vận động mà theo nhiều thầy giáo là đi ngược lại bản chất, chẳng hạn
như nói không với tiêu cực, thành tích… Chẳng lẽ bản chất của giáo dục là
tiêu cực, thành tích? Đành rằng chuyện tiêu cực, đạo đức nhà giáo… đây đó
có chỗ phải bàn, nhưng thay vì các cuộc vận động là các biện pháp xử lý
nghiêm minh nghe ra đỡ ồn ào, tiết kiệm mà hiệu quả sẽ cao hơn (nền giáo
dục nước nhà những năm trước 1975 dẫu không có bất kỳ cuộc vận động nào
nhưng nhờ chính sách đúng nên đã đào tạo được một lớp người tài phụng sự
cho đất nước). Một hiệu trưởng đôi lúc không dám kỷ luật học sinh, một
người đứng đầu một tổ chức quản lý giáo dục không dám siết chặt giáo dục vì
nhiều lẽ, đó là câu chuyện chứng tỏ chống bệnh thành tích là rất khó. Ở một
của những trường xa lạ.
Nguy hiểm của nạn giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay là đào tạo tràn lan,
số lượng trường không đi đôi với chất lượng đào tạo (chỉ tính riêng số giảng
viên, từ năm 1987-2009 tăng 3 lần, trong lúc số sinh viên tăng 13 lần). Không
chỉ dừng ở đó, đào tạo tràn lan còn chứng tỏ sự bất cập trong mối quan hệ
giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng của xã hội, đào tạo thì cứ đào tạo, nhu cầu xã
hội thì phận ai nấy lo. Quả đúng như lời đại biểu Ngô Thị Minh trong kỳ họp
nêu trên: “Việc chạy theo thành tích ấy đã gây ra hậu quả là chất lượng đào
tạo giảm sút và đa số thanh niên đang phải gánh chịu”.
Nói về thực trạng giáo dục đào tạo tràn lan, báo Nhân dân số ra ngày
13/6/2010 trích lời của đại biểu Nguyễn Ngọc Minh tỉnh Ninh Thuận: “Tại
hầu hết các tỉnh, thành phố hiện nay, các trung tâm giáo dục thường xuyên
của Sở GD&ĐT, các trường cao đẳng, trường chính trị, trường dạy nghề, kể
cả trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ của các đoàn thể đều được phép liên kết
với các trường đại học để tổ chức các cơ sở giáo dục đại học tại chức rất dễ
dàng, thu hút số lượng khá lớn các học viên theo học. Các cơ sở đào tạo này
không theo một tiêu chuẩn nào, trường không ra trường, lớp không ra lớp…
Việc tổ chức thi tốt nghiệp hết sức sơ sài, dễ dàng và tỉ lệ tốt nghiệp phổ biến
là 100%”. Đáng nguy hại là với “hình thức kinh doanh siêu lợi nhuận”, giáo
dục chạy theo hình thức còn leo thang sang cả lĩnh vực đào tạo sau đại học.
Bệnh thành tích này rõ nhất là ở các kỳ thi, nhất là thi tốt nghiệp THPT.
Chỉ trừ năm đầu tiên khi Bộ GD&ĐT đề ra chủ trương chống bệnh thành tích
thông qua cuộc vận động, các Sở GD&ĐT đã quán triệt và nghiêm ngặt với
coi thi, chấm thi, thế là năm đó tỷ lệ đậu tốt nghiệp đạt thấp. Nhưng, từ sau
bài học ấy, các năm sau đó, tỷ lệ điểm thi tốt nghiệp THPT của học sinh trở
nên cao ngất ngưởng, thậm chí còn xuất hiện một số vụ việc lùm xùm trong
coi thi, điều hành chấm thi.
3. Một nền giáo dục chưa gắn bó với thực tế
GS. Hoàng Tụy trong bài phát biểu tại buổi lễ nhận giải thưởng Phan Châu
Trinh đã gợi ý về nền giáo dục nên thế tục hoá. Bởi vì theo ông, một nền giáo
không cho họ có chỗ đứng phù hợp, trong khi những người trình độ thấp kém
hơn lại nghiễm nhiên đứng ở những nơi đàng hoàng. Vậy là câu chuyện đã
dẫn dắt tới các căn bệnh khác của xã hội. Đây là một câu chuyện dài hơi và
nhạy cảm, xin để mọi người tự nói với nhau. Và cũng xin nói rằng đây là một
bức xúc lớn trong xã hội nhất là bức xúc của những người nông dân và con
em của họ.
4. Một nền giáo dục thiên lệch do xã hội không coi trọng giá trị nhân
văn
Một tất yếu của xã hội là xã hội dù phát triển đến đâu cũng lấy văn hoá
làm thước đo cho tiêu chuẩn về sự tiến bộ. Suy cho cùng giá trị của con
người chính là giá trị văn hoá. Điều này giải thích tại sao ở các nước phương
Tây, bên cạnh khoa học kỹ thuật phát triển mạnh vẫn xuất hiện những nhà
văn, nhà văn hoá nổi tiếng và họ sống đàng hoàng bằng thu nhập do chính
công sức của họ. Ở Việt Nam thì lại khác, khoa học kỹ thuật chậm tiến
nhưng lại chưa coi trọng văn hoá (không nói về mặt chủ trương). Hãy khảo
sát trong xã hội, dù ở đâu trong hàng nghìn câu chuyện được nói đến, người
ta có nói đến văn hoá hay không? Ngược lại với thái độ coi trọng đồng tiền
là sự rẻ rúng các mặt văn hoá, thậm chí có người xem có tiền thì văn hoá
cũng mua được. Tình trạng còn buồn đến mức người ta thường không còn
nghĩ đến văn hoá làm gì cho phiền toái.
Biểu hiện rõ nhất của việc không coi trọng văn hoá đó là tình trạng sinh
viên, học viên ngành văn hoá xã hội sau khi tốt nghiệp không có việc làm. Tôi
có một người bạn học ngành sư phạm, tốt nghiệp đại học loại giỏi vào năm
2007, thuộc diện chuyển tiếp học cao học, tốt nghiệp cao học loại giỏi (2009)
vẫn không thể xin vào dạy ở một trường THPT, thậm chí ngay cả khi đổi ý xin
vào THCS. Một loạt bạn bè tốt nghiệp đại học năm 2007 phải vứt bỏ bằng đại
học để về buôn bán vặt, mở cửa hàng quần áo, thậm chí đi làm lao động chân
tay, đi bán bún phở. Vậy thì hỏi những lớp đàn em của những người tôi kể ra
đây liệu có đủ can đảm để lao vào học ngành xã hội? Đây là lí do cơ bản giải
thích tại sao việc đăng ký thi vào đại học, cao đẳng khối C lại thiếu, tại sao kỳ
giữ xe, vệ sinh, tiền ăn trưa, có khi có cả tiền ở trọ… Các khoản tiền này là một
gánh nặng đối với bộ phận lớn nông dân, nhất là nông dân nghèo như ở Nghệ An,
Hà Tĩnh. Nhiều gia đình ngay từ khi con học bậc tiểu học, THCS, THPT đã phải
vay mượn, thậm chí vay thỏa thuận với lãi suất rất cao.
Thêm vào đó là tình trạng học thêm tràn lan với một khoản chi phí “bất thành
văn”. Học thêm, ngành không bắt buộc nhưng là do chương trình quá tải, là do
để con em bắt kịp tiến bộ xã hội, là do để tập trung ôn thi đại học… nên ngay từ
bậc tiểu học, các cháu đã được bố mẹ cho học thêm nâng cao trình độ. Đối với
con em nông dân thực sự là một chiếc gánh quá nặng. Vào thời điểm này, ở các
thành phố Vinh, Hà Tĩnh, học thêm có giá khoảng 30.000đ/một buổi, một tháng
chỉ riêng học thêm 1 môn, gia đình đã phải bỏ ra 300.000-400.000đ. Mà thực tế 1
học sinh không phải chỉ học thêm có 1 môn. Tình trạng học thêm tràn lan là lỗi
của ngành giáo dục nhưng cũng là lỗi của phụ huynh, học sinh trong tư cách
là
đồng phạm. Học thêm đã thực sự làm cho xã hội chúng ta là một xã hội học
tập, một xã hội học sinh không biết ngày hè, và người nông dân mồ hôi trộn
nước mắt để kiếm tiền cho con đi học.
Nhưng rồi đáng buồn và bức xúc hơn đối với người nông dân là tình trạng con
em của họ học xong đại học, cao đẳng không có việc làm. Trong khoảng 4-5 năm
nuôi con học đại học, nông dân đều phải nai lưng kiếm tiền (kể cả làm osin, bán
đất đai, nhà cửa), tiết kiệm, cắt giảm các khoản chi tiêu dù cần thiết, thậm chí
phải vay tiền với lãi suất cao… Để rồi lại phải nhìn cái cảnh con cái ra trường
thất nghiệp hoặc đi làm các công việc khác như bán hàng, lao động chân tay…
Nền giáo dục không gắn với nông dân biểu hiện rõ nhất là ở việc xác định
phương châm đào tạo. Đào tạo ở Việt Nam trong thực tế luôn muốn tách khỏi
nông dân, đào tạo không trở về với nông dân. Bởi thế, con em nông dân phấn
khởi khi đậu đại học vì họ cứ nghĩ từ nay sẽ chẳng phải gắn bó với ruộng đồng.
Học sinh khi đậu đại học, cao đẳng xin dám chắc rằng 100% số này không ai
mang tâm lí trở về phục vụ nông dân mà thường mơ tới một xã hội năng động,
một xã hội số hoá, một xã hội chìm đắm vào công nghệ.