BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHẠM TP HCM
PHẠM NGỌC LAN
TỰ TRUYỆN
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2006
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DẪN LUẬN .................................................................................................................. 5
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................5
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................6
a. Sơ lược về tình hình nghiên cứu tự truyện trên thế giới ..............................................6
b. Tình hình nghiên cứu tự truyện ở Việt Nam .............................................................. 11
3. Phạm vi đề tài ................................................................................................................14
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................14
5. Cấu trúc luận văn .........................................................................................................14
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỂ LOẠI .................................................. 16
1.1. Định nghĩa..................................................................................................................16
1.2. Tự truyện với một số thể loại gần gũi .......................................................................23
1.2.1. Tự truyện với hồi ký (memoir) ............................................................................23
1.2.2. Tự truyện với tiểu thuyết tự thuật (autobiographical novel) ...............................24
TIẾNG ANH ......................................................................................................................76
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 78
4
DẪN LUẬN
Thể tài tự truyện trong văn học thế giới đã hình thành rất sớm trong môi trường của
văn hóa Tây Âu cận đại, cùng với sự phát triển của quan niệm về cá nhân và tinh thần tự ý
thức trong con người và ý thức hệ phương Tây: Tự thú (Confession) của Thánh Augustine,
Khảo luận (Essais) của Michel de Montaigne, Tự thú (Confessions) của Jean Jacques
Rousseau, Nền giáo dục của Henry Adams của Henry Adams... Bước vào thế kỷ XX, dòng
chảy tự truyện đã tuôn tràn thành một dòng sông lớn, trong đó có những tác phẩm lớn góp
phần kiến tạo nên diện mạo của văn học thế kỷ này: Bộ ba tự thuật của Lev Tolstoi, Bộ ba
tự thuật của Maxim Gorki, Tự truyện của Pauxtovxky, Tự truyện của một họa sĩ trẻ của
James Joyce, Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, W hay kỷ niệm tuổi thơ của George
Perec, Chữ nghĩa của Jean Paul Sartre, Nếu hạt không chết của André Gide, Tuổi thơ của
Nathalie Sarraute, Người tình của Marguerite Duras, v.v... Và thể loại này còn hứa hẹn rất
nhiều thành công lớn tiếp theo ở thế kỷ đang đến.
Đối với văn học Việt Nam, sự tiếp thu thành quả ấy tuy có phần chậm chạp nhưng
không vì thế mà kém phần hứa hẹn. Từ Những ngày thơ ấu, Những nhân vật ây đã sống với
tôi của Nguyên Hồng, Chiếc cáng xanh của Lưu Trọng Lư, Cỏ dại của Tô Hoài, Chân trời
cũ của Hồ Dzếnh, Sống nhờ, Một thiếu niên của Mạnh Phú Tư, Mực mài nước mắt của Lan
Khai, Bốc đồng của Đỗ Đức Thu, Nhớ quê của Thanh Châu... cho đến Tuổi thơ im lặng của
Duy Khán, Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng, Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài,
Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Thân phận
dư thừa của Kiên Nguyễn..., tự truyện đã làm thành một dòng chảy liên tục - một dòng chảy
tuy ban đầu có phần thầm lặng, thâm trầm nhưng càng ngày càng dậy sóng, những đợt sóng
nóng hổi của những vấn đề muôn thuở: vấn đề số phận con người trong cõi nhân gian bé tí
truyện (Confessions and Autobiographies) (1955) của Stephen spender, nhà phê bình người
Mỹ... Hiệp ước Tự thuật (Le Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune là
chuyên luận về lý thuyết thể loại nổi bật nhất ở Pháp vào thời này, trong đó Lejeune đưa ra
một định nghĩa nổi tiếng với những tiêu chí hình thức cụ thể cho phép phân biệt khá rạch ròi
tự truyện với các thể loại khác, và cùng với nó là những bảng biểu, sơ đồ tỉ mỉ chi tiết đến
mức có lần Georges Gusdorf đã phải phàn nàn rằng đấy có vẻ là một kiểu “độc đoán” trong
phê bình (critical “hubris”), đi ngược lại với bản chất của thể loại - nhân tính (humanness).
Ngoài ra còn có những hướng tiếp cận khác trong các công trình như Lục địa tối của văn
học: Tự truyện (The Dark Continent of Literature: Autobiography) (1965) của Stephen A.
Shapiro, Bút pháp của tự truyện (The Style of Autobiography) (1971) của Jean Starobinski,
Một số nguyên tắc của tự truyện (Some Principles of Autobiography) (1974) của William
Howarth... Họ nghiên cứu về những khởi điểm về mặt lịch sử, tâm lý, xã hội của một hoạt
động văn học sẽ mở rộng, biến đổi và tái cấu trúc mạnh mẽ trong những thế kỷ tiếp sau,
nhưng, với tất cả những cải biến bên trong cũng như bên ngoài thì vẫn cứ lưu giữ lại mấy
dạng thức của bản chất bất biến của nó: nó vẫn là "hoạt động tự thuật"; đồng thời phân tách
tự truyện khỏi những thể loại gần gũi với nó như nhật ký, hồi ký, du ký, thơ tự thuật... và
đặc biệt là với tiểu thuyết, thể loại văn học chiếm vị trí quan trọng nhất của thế kỷ.
7
Ba thập kỷ cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến thể loại tự truyện di chuyển từ vùng
ngoại biên vào đến địa hạt trung tâm của lý luận phê bình văn học, thu hút một số lượng lớn
các nhà nghiên cứu phê bình và đưa lý luận thể loại phát triển mạnh mẽ. Những năm 70 là
thời kỳ độc tôn của chủ nghĩa cấu trúc, khuynh hướng nghiên cứu văn chương như là một
kiểu mã tự quy chiếu mà ý nghĩa của nó chỉ có thể được diễn giải trong hệ thống của chính
nó. Trong bối cảnh đó, James Olney, nhà nghiên cứu người Mỹ, tác giả chuyên khảo Những
ẩn dụ về cái tôi: Ý nghĩa của tự truyện (Metaphors of the Self: The Meaning of
Autobiography) (1972), lưu ý về tính chất quy chiếu (reference) trong tự truyện, sự vượt
thoát khỏi địa vực khép kín của văn bản để đến với địa vực của lịch sử, văn hóa - xã hội và
cuộc sống được phản ánh, thông qua tấm gương trong suốt, trung tính của cái tôi - đã
chuyển hướng; bây giờ đó là một cái tôi được nghiên cứu trong toàn bộ đời sống phức tạp
của nó, những vấn đề khắc khoải về bản sắc cá nhân, về sự tự định nghĩa bản thân, sự tồn tại
riêng của mình, sự tự lừa dối và sự trung thực với chính mình... James Olney khẳng định:
“Chính sự chuyển hướng sang “autos” - cái “tôi” khi đã có được nhận thức về sự tồn tại của
nó sẽ định hình và quyết định bản chất của tự truyện và trong quá trình ấy sẽ vừa khám phá
vừa sáng tạo lại mình - đã khởi đầu cho chủ đề tự truyện trong những cuộc tranh luận văn
học" [132, tr. 21]. Từ đó quá trình phát triển của lĩnh vực nghiên cứu tự truyện gắn chặt với
quá trình phát triển của việc nghiên cứu sự biểu hiện cái tôi: William L. Howarth với Một số
nguyên tắc của tự truyện (Some Principles of Autobiography) (1974), Elizabeth W. Bruss
với Hoạt động tự thuật: Vị thế đang thay đổi của một thể loại văn học (Autobiographical
Acts: The Changing Situation of a Literary Genre) (1976), Jerome Hamilton Buckley với
Chiếc chìa khóa đang xoay: Tự truyện và động lực chủ thể tính từ 1980 (The Turning Key:
Autobiography and the Subjective Impulse Since 1800) (1984) v.v... Một khi coi cái tôi
(autos) là trung tâm điểm của thể loại thì các nhà nghiên cứu này có khuynh hướng mở rộng
hơn trong cách hiểu về cuộc đời (bios) trong tự truyện, nghĩa là, đấy có thể là toàn bộ cuộc
đời của cá nhân ấy tại một khoảng thời gian nhất định trước thời điểm viết, đời sống tâm
hồn của cá nhân ấy tại thời điểm viết, toàn bộ lịch sử của dân tộc đang sống trong cá nhân
ấy, hay bất cứ điểm gặp gỡ nào của cốt truyện với những ý nghĩa khả thủ khác nhau của
“cuộc đời” (bios). Và như thế, ngành nghiên cứu tự truyện đã khởi đầu những hướng nghiên
cứu mới: triết học, tâm lý học, thần học, bệnh lý học... và đặc biệt, phê bình văn học đã tìm
thấy trong tự truyện nhiều ý nghĩa mới.
Tóm lại, đối với hướng nghiên cứu này, tự truyện là một thể loại dựa trên kinh nghiệm
sống của một cái tôi có tính bản thể, tồn tại từ trước và tự truyện có một thứ “quyền” mà các
thể loại khác không có: “quyền” xây dựng nội dung cốt truyện dựa trên mối quan hệ có thể
xác minh được giữa một bên là văn bản và một bên là thế giới, con người với những sự kiện
thực bên ngoài văn bản. Vì thế tổng kết của Georges Gusdorf về bản chất tự truyện về sau
đã trở thành đối tượng phản ứng của các nhà nghiên cứu theo hậu cấu trúc luận: “Không ai
9
Self-Invention) (1985), Tiếp xúc với thế giới: Quy chiếu trong tự truyện (Touching the
World: Reference in Autobiography) (1992), Từ cuộc đời đến truyện kể: Sự hình thành của
cái tôi (How Our Lives Become Stories: Making Selves) (1999). Đặt tự truyện vào trong
10
quá trình sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật, Paul John Eakin đưa ra nhận định rằng từ một
góc nhìn có tính tiến triển thì cái tôi sẽ được tạo hình chính vào khoảnh khắc ngôn ngữ được
tri nhận: “Cái tôi và ngôn ngữ được hàm ngôn lẫn nhau trong một hệ thống đơn nhất và liên
lập của hành vi biểu tượng (symbolic behaviour)” [123, tr. 195]. Đây là một hướng tiếp cận
có tính hòa giải, nó bao quát những lý thuyết giải cấu trúc nhưng cũng lưu lại những quy
chiếu tự thuật trong tác phẩm. Theo hướng tiếp cận này, khi nghiên cứu tác phẩm Roland
Barthes viết về Roland Barthes (Roland Barthes by Roland Barthes), Eakin lưu ý rằng mặc
dù tác giả cuốn tự truyện cố ý hủy bỏ tất cả tính chất liên tục của tự sự để chỉ nói đến một
chủ thể Roland Barthes như là “một hiệu ứng của ngôn ngữ” mà thôi, nhưng không thể nói
rằng chủ thể ấy không tham gia vào quá trình tự thuật (self-narrative). Và trong những
chuyên luận của mình, Eakin đặt vấn đề tiếp cận tự truyện với tinh thần dân tộc học văn
hóa, nghĩa là, lần theo con đường mà một cá nhân trong một nền văn hóa cụ thể trải nghiệm
ý thức về việc được là “tôi” hay không phải là “tôi” [125, tr. 4]. Sự tự nhận thức phải luôn
được đặt nền tảng trong những dấu hiệu về sự tồn tại của con người mà người ấy nhận được
từ người khác, cũng như từ những tác phẩm văn học diễn giải cho nó. Hoạt động tự thuật
không diễn ra trong một địa hạt hoàn toàn riêng tư của một cái tôi siêu hình mà đúng hơn là
trong sự nối kết tích cực với những áp lực mà cuộc sống trong nền văn hóa ấy đòi hỏi, và tự
truyện chính là một tấm gương hội tụ, thu nhận không chỉ nhân cách tác giả mà cả những
giá trị chung của văn hóa nhóm hoặc cộng đồng. Và từ một quan niệm như thế, Eakin
nghiên cứu con đường hình thành bản sắc cá nhân (identity) và con đường chuyển hóa bản
sắc ấy để trở thành cái tôi trong tác phẩm tự truyện.
Tóm lại, trong suốt một thế kỷ qua, lý thuyết và phê bình về tự truyện trên thế giới đã
phát triển liên tục và rẽ nhánh phức tạp. Thể loại tự truyện, cũng như chính những trải
nghiệm đời sống mà nó phản ánh, chối từ sự đứng yên tĩnh tại, không để cho các nhà phê
đã “tiểu thuyết hóa” ít nhiều rồi”. Với ý thức nghiên cứu thể loại, Vũ Ngọc Phan là nhà
nghiên cứu đầu tiên phân tách tự truyện ra khỏi tiểu thuyết bằng những tiêu chí: tính xác
thực của sự kiện, điểm nhìn hồi cố và cái tôi tác giả hiển hiện trực tiếp trong tác phẩm. Đó
là một cách tiếp cận hiện đại, tuy chưa thật đầy đủ và chưa thành hệ thống.
Sau Vũ Ngọc Phan, có một nghịch lý trong tình hình phát triển của tự truyện ở Việt
Nam: tự truyện xuất hiện cùng một lúc với nhiều thể loại văn học hiện đại khác trong thời
kỳ nở rộ rực rỡ của văn học Việt Nam (1932-1945) và cho đến nay đã đạt được không ít
thành tựu, thế nhưng gương mặt của thể loại vẫn chưa được xác định thật rõ. Chẳng hạn
trường hợp tác phẩm Cỏ dại của Tô Hoài, lần đầu tiên xuất bản được gán cho cái tên Hồi
ức, sau đó vào năm 1978 được in lại trong một tập sách lấy tên là Tự truyện, và mới đây,
năm 2004 lại được in lại trong một tập sách dày dặn mang tên Hồi ký và các nhà phê bình
như Vương Trí Nhàn trong Tô Hoài và thể hồi ký, Nguyễn Vần Long - Nguyễn Huệ Chi
trong Từ điển Văn học (bộ mới), v.v… cũng xem đây là một hồi ký. Hay như tác phẩm
12
Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, khi xuất bản được định danh là tiểu thuyết, nhưng rất
nhiều công trình nghiên cứu về sau đã xếp tác phẩm này vào thể hồi ký (Đặc sắc hồi kỷ
Nguyên Hồng - Nguyễn Đăng Điệp, Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ - Vương Trí
Nhàn, v.v...). Trong bài Viết về cuộc đời và những cuộc đời, phê bình tác phẩm Cát bụi
chân ai của Tô Hoài, tác giả Đặng Thị Hạnh có sử dụng một số ý kiến của các nhà nghiên
cứu nước ngoài về thể loại tự thuật (một cách dịch khác của tự truyện - autobiography) để
soi chiếu tác phẩm (thậm chí ngay trong bài Tự thuật và tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX bà có
nhắc đến tác phẩm này như một dẫn chứng), nhưng rồi vẫn gọi đấy là một hồi ký. Lẽ dĩ
nhiên giữa hai thể loại tự truyện và hồi ký rất khó phân chia ranh giới cho rạch ròi, nhưng
bản thân việc này cũng cho thấy sự thiếu thống nhất về tiêu chí nhận diện thể loại, nhất là về
vai trò của sự thật và hư cấu trong hai thể loại tự truyện và hồi ký. Nguyên nhân có lẽ nằm ở
chỗ, từ trước đến nay, mặc dù các tác giả và các tác phẩm tự truyện nổi bật nhất (như Cỏ
dại, Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Chân
trời cũ của Hồ Dzếnh, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải...) đều đã được nghiên cứu
Phạm vi khảo sát được giới hạn trong số những tác phẩm văn xuôi hiện đại Việt Nam
đáp ứng được những yêù cầu về mặt thể loại. Cột mốc hiện đại được tính từ 1930, thời điểm
nổ ra những đột phá mạnh mẽ trên con đường hiện đại hóa ở tất cả những thể loại văn học.
Thời gian tuy dài nhưng số lượng tác phẩm không quá lớn, cho phép tiến hành khảo sát
tương đối cụ thể.
Xác định đối tượng nghiên cứu là thể loại, nên quá trình khảo sát bám sát những tiêu
chí về mặt hình thức nghệ thuật của tác phẩm, trong xu hướng không tách rời khỏi nội dung
tư tưởng.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp loại hình: sử dụng trong thao tác phân loại, so sánh những hiện tượng
thuộc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm nhằm mục đích khu biệt những tác phẩm nằm
trong phạm vi nghiên cứu; đồng thời khu biệt các tác phẩm, tác giả gần gũi nhau để tiến
hành khảo sát theo nhóm.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu: sử dụng thường
xuyên trong suốt quá trình khảo sát nhằm tìm ra đặc trưng nổi bật nhất của tác giả, tác phẩm
cũng như nhóm tác giả, tác phẩm, và loại hình hóa để khái quát bản chất thể loại.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn ứng dụng một số vấn đề lý luận thể loại để tập trung làm rõ những đặc trưng
của tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại. Để thực hiện mục đích đó, ngoài phần dẫn
luận, kết luận và phần phụ lục, phần chính văn của luận văn được tổ chức thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về thể loại.
14
Chương này xác lập định nghĩa và phác ra một số dấu hiệu bản chất của tự truyện
nhằm khu biệt tự truyện với những thể loại gần gũi với nó, làm cơ sở lý thuyết cho những
nghiên cứu tiếp sau.
Chương 2: Tự truyện với quan niệm về cái tôi cá nhân trong văn học Việt Nam
thuật (thể hiện qua cách xưng tôi hoặc qua sự đồng nhất giữa tên tác giả và tên nhân vật
chính), ông xác định vị trí của tự truyện trong tương quan với tiểu thuyết như sau: [128, tr.
16]
Khái niệm “hiệp ước tự thuật” về sau ít được sử dụng do không còn phù hợp với thực
tiễn văn học (thực tiễn ngày càng phá tung những ràng buộc lý thuyết quá cứng nhắc như
16
vậy), nhưng định nghĩa của Philippe Lejeune vẫn được trích dẫn rộng rãi trong các công
trình của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Pháp.
Song ngay trong định nghĩa đó, có một vấn đề mà rất nhiều nhà nghiên cứu cùng thời
bất đồng với Lejeune là khái niệm “con người có thật”, mà Lejeune định nghĩa là “con
người mà sự tồn tại của nó được chứng thực bằng việc thống kê dân số, và có thể xác minh
được” [128, tr. 11] và dấu hiệu văn bản của nó là cái tên của tác giả - dấu hiệu duy nhất
đánh dấu mối quan hệ có tính quy chiếu giữa nhân vật với tác giả, văn bản với thế giới bên
ngoài văn bản. Bởi sự chứng thực này chỉ nhằm xác nhận sự tồn tại chứ không nói lên được
điều gì về bản chất của “con người có thật” đó. Hơn nữa, cái tên cũng không phải là căn cứ
để xác nhận sự tồn tại thực của một con người, nếu hiểu đấy là con người trong quan niệm
của chính nó về mình.
Định nghĩa của Lejeune ngày càng được mở rộng biên độ của cách hiểu. Trong tiểu
luận Một số nguyên tắc của tự truyện (Some Principles of Autobiography) (1974) William
L. Howarth đưa ra một phép loại suy đơn giản: “Một tự truyện là một bức chân dung tự họa
(self-portrait)”, trong đó cái tôi (self) suy nghĩ và hành động với nhận thức rằng mình là một
tồn tại duy nhất và một tồn tại giữa tha nhân, và bức chân dung (portrait) là hình ảnh với
những hạn định của không gian và thời gian, ảo tưởng và sự thật, họa sĩ và nguyên mẫu mỗi thành tố có những đòi hỏi riêng và những nhân nhượng riêng. Khi viết lại câu chuyện
đời của mình, nhà văn có thể định nghĩa, hạn chế, định hình cho cuộc đời ấy thành một bức
chân dung tự họa, xét một cách khách quan có thể khác với chân dung thật của mình, dẫu có
những nét tương đồng nhưng tất cả đã được cấu trúc lại, nhào nặn lại thành một sáng tạo
nghệ thuật. “Trong trường hợp tự truyện, việc ông [tác giả] tác động đến thiên tự sự ấy như
Từ những định nghĩa trên, có thể xác định hai tiêu chí nhận diện thể loại như sau:
- Cái tôi tác giả và sự phát triển nhân cách của nó trong quá khứ, với tư cách là hình
tượng trung tâm của tác phẩm.
- Tính xác thực tương đối của cốt truyện
1.1.1. Trước hết, về bản chất và vai trò của "cái tôi" trong tự truyện, có thể nói "con
người có thật" trong định nghĩa của Lejeune không phải là con người khách quan tồn tại
hoàn toàn bên ngoài văn bản nữa mà là con người trong quan niệm, trong suy nghĩ của
chính nó về mình. Nhìn từ góc độ cái tôi, mỗi tự truyện là một quá trình soi rọi lại chính
mình: nó không cho chúng ta hình ảnh của một cá nhân nhìn từ bên ngoài trong những hoạt
động hữu hình mà là con người nhìn từ bên trong, trong cuộc sống nội tâm; không phải như
người ấy đã và đang là thế, mà như người ấy cảm thấy và tin là thế. Trọng tâm của tự truyện
là sự đánh giá, suy nghiệm lại về số phận mình; câu chuyện là hành trình tìm kiếm bản thân
mình trong quá khứ để thấy bản thân mình trong hiện tại. Bé Hồng trong Những ngày thơ ấu
với nhà văn Nguyên Hồng trong đời thực tuy không phải hoàn toàn cách biệt nhưng không
18
phải là một, cũng như bé Aliosa trong Thời thơ ấu không hoàn toàn đồng nhất với nhà văn
Maxim Gorki. Mà đúng hơn, đấy là hình ảnh của hai tác giả được rọi qua những lăng kính
phức tạp của hồi ức, của kinh nghiệm sống mấy mươi năm ròng, của lòng can đảm và năng
lực tự tách ra khỏi mình để nhìn nhận chính mình, với tất cả cái ưu và cái khuyết, cái tốt đẹp
và cái tầm thường, cái làm được và chưa làm được trong cuộc đời.
Có thể khẳng định đây chính là đặc trưng khu biệt quan trọng nhất của tự truyện với
những thể loại văn học khác. Ngay từ khi mới ra đời ở châu Âu thời trung cổ (từ khoảng thế
kỷ IV-V với Tự thú của Thánh Augustine), dưới hình thức những cuộc đối thoại của linh
hồn với Chúa, thể loại này đã nêu thành vấn đề tất cả gì nhỏ bé nhất trong tâm hồn con
người: mỗi việc làm, mỗi suy nghĩ, mỗi khát vọng, đau khổ thầm kín trong mình... Sự tự
bộc lộ ấy là sự đào sâu và kéo dài truyền thống tự soát xét lại mình của chủ nghĩa khổ hạnh
Kitô giáo, trong đó sự tự thú nhận tội lỗi đặt ra nhiều vấn đề về đời sống nội tâm của con
người: người ta phải chịu trách nhiệm về sự tồn tại của chính mình, không chỉ về hành động
nhận thức lại mình, làm lại những gì mình chưa làm được trong đời. Vì thế trong quá trình
hồi tưởng và ôn lại quá khứ của mình, nhà văn đồng thời cũng sáng tạo lại quá khứ, như
muốn sống một cuộc đời thứ hai, một cuộc đời không bị ràng buộc trong những hạn độ của
thời gian, để đạt đến một sự tự do nào đó, dẫu chỉ là tự do trong thế giới riêng của tâm hồn
mình.
Cho nên quá trình sáng tạo của nhà văn trong tự truyện không phải một sự mô tả, tái
hiện hoàn toàn khách quan mà là sự tự tìm kiếm và tự đánh giá lại mình: cuộc đời mình đã
trải qua có ích hay vô ích, kết thúc trong thành công hay thất bại, đặc biệt là những thành
bại trong nghiệp văn chương. Qua sự tự đánh giá ấy, có thể thấy hiện lên cả một không gian
rộng lớn của xã hội, với những biến chuyển đánh động ý thức nghệ thuật, khiến người nghệ
sĩ buộc phải tự soát xét lại mình. Đó là trường hợp của Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô
Hoài, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải.
1.1.2. Tính xác thực của tổng thể cốt truyện chính là “hiệp định tự thuật”
(autobiographical pact), khái niệm mà Lejeune đưa ra để phân tách tự truyện khỏi những thể
loại gần gũi với nó. Nhưng hiểu thế nào là “tính xác thực” thì các nhà nghiên cứu ít thống
nhất với nhau. Với Lejeune, đấy là sự đồng nhất trên những nét lớn cuộc đời của nhân vật
chính với cuộc đời có thật của tác giả, và dấu hiệu văn bản của nó là sự trùng khớp giữa tên
tác giả với tên nhân vật chính (cũng là người kể chuyện). Ông hướng đến xác lập mối quan
hệ quy chiếu giữa văn bản và thế giới bên ngoài văn bản, nhân vật chính với nguyên mẫu
con người tác giả, trong những mối quan hệ mà ông định danh là tương đồng (resemblance)
và đồng nhất (identity), theo sơ đồ sau: [128, tr. 24]
20
Không bằng lòng với cách hiểu có phần giản đơn này, nhiều nhà phê bình đi sau,
chẳng hạn Paul John Eakin (1988) quan niệm “sự thật của tự truyện không phải là một nội
dung cứng nhắc và cố định, mà là một quá trình tự khám phá và tự sáng tạo lại mình rất
phức tạp”.
Ngay từ chuyên khảo Phác thảo và sự thật trong tự truyện (Design and Truth in
việc nhận ra cuộc đời của mình như là một nhà thơ và nhà thám hiểm tâm hồn” [132, tr.
252].
Điều hiển nhiên là quá khứ đã xảy ra, những gì đã mất đi trong cuộc đời không bao giờ
có thể tìm lại được nguyên vẹn. Bức chân dung tự họa không cho ta một hình ảnh nguyên
vẹn như đời thực mà là hình ảnh nhìn từ một góc độ nào đấy, theo một chiều kích nào đấy.
Cũng như vậy, tự truyện không phải là sự tái hiện đơn thuần về quá khứ như nó đã xảy ra,
bởi lẽ quá trình tâm lý của sự hồi tưởng và tái hiện sẽ cho chúng ta không phải là chính bản
thân quá khứ mà là sự hiện diện trong tinh thần của một thế giới không bao giờ còn trở lại.
Quá khứ được gợi lại đã mất đi sự vững chắc và nguyên vẹn của nó, nhưng một khi được
hồi tưởng và dựng lại sau một hành trình dài phân tán và tìm kiếm qua thời gian, quá khứ ấy
sẽ có một mối quan hệ mới và mật thiết hơn với cuộc đời hiện tại của cá nhân. Khi nhà văn
đặt bút viết tự truyện, chất liệu của quá khứ sẽ được hồi ức và trí tưởng tượng tổ chức lại
tương ứng với tình trạng ý thức hiện tại và những nhu cầu của sáng tạo nghệ thuật. Và khi đi
vào tổ chức nghệ thuật của tự truyện, “cuộc sống” của “một con người có thật” sẽ không
22
còn là quá khứ khách quan nữa mà là quá khứ từ điểm nhìn của hiện tại - tính chân thực của
nó nằm ở cái nhìn, cách nhìn chứ không phải bản thân sự kiện.
1.2. Tự truyện với một số thể loại gần gũi
Những đặc điểm bản chất trên khu biệt tự truyện với các thể loại gần gũi với nó như
nhật ký (diary), du ký (Journal), hồi ký (memoir), tiểu thuyết tự thuật (autobiographical
novel)... Xác định điểm nhìn trần thuật là điểm nhìn hồi cố, tự truyện tách khỏi nhật ký và
du ký - những thể loại mà sự sáng tạo theo sát hành trình của thời gian lịch biểu. Song quan
trọng nhất là sự phân biệt giữa tự truyện với hồi ký và tiểu thuyết tự thuật.
1.2.1. Tự truyện với hồi ký (memoir)
Cùng là những thể loại văn học mang tính hồi cố, tái hiện lại quá khứ, nhưng hai thể
loại tự truyện và hồi ký nằm ở hai địa hạt không hề trùng khít với nhau trong hệ thống thể
Tinh hình có khó khăn hơn đối với việc khu biệt tự truyện với tiểu thuyết tự thuật, do
sự khu biệt này có phần tinh tế hơn. Cùng là những thể loại tập trung vào số phận cá nhân
trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cùng sử dụng những chi tiết thực, những
tình cảm, khát vọng và những biến cố trong đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của tác
giả, nhưng mục đích và phương thức sáng tạo của hai thể loại tự truyện và tiểu thuyết tự
thuật có những điểm khác nhau. Ở tự truyện, cuộc đời và chân dung tinh thần của tác giả là
đối tượng khám phá chủ yếu và được tái hiện như một chỉnh thể, những hư cấu nếu có đều
tập trung vào việc tạo ra những đường nét mạch lạc cho những trải nghiệm trong cuộc đời
tác giả. Cảm thức tự thuật, ý thức tìm kiếm khám phá chính mình, những tình cảm, suy nghĩ
của chính tác giả luôn luôn nổi rõ trong mạch tự sự của tác phẩm; nói cách khác, tác giả
luôn đứng ở bình diện thứ nhất. Còn ở tiểu thuyết tự thuật, những mảnh vụn, những chi tiết
của cuộc đời tác giả trở thành chất liệu cho tiểu thuyết, diễn biến đời tư có thể được cấu trúc
lại, nhào nặn lại, hư cấu hóa ở mức độ cao. Và một khi những chi tiết đời tư đã được tái tạo
thành những chi tiết nghệ thuật để đưa vào tiểu thuyết tự thuật, tác giả sẽ tách khỏi những
chi tiết ấy để lùi lại bình diện thứ hai. Đấy là trường hợp Robinson Crusoe của Daniel
Defoe, David Copperfield của Charles Dickens, Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, Gia đình
bé mọn của Dạ Ngân, v.v...
Hệ quả của đặc điểm này là tự truyện có thể cho phép tác giả (cũng là nhân vật chính
và ý thức bao trùm trong tác phẩm) bàn luận và phân tích về chính quá trình viết tự truyện
của mình, bình luận về sự lựa chọn giọng điệu, những vấn đề trong việc tạo dựng cấu trúc
tác phẩm, những phương thức xây dựng kết cấu... Nghĩa là những vấn đề “bếp núc” trong
quá trình sáng tạo tác phẩm hoàn toàn có thể tham gia vào chính tác phẩm như một bộ phận
hữu cơ. Hoàn toàn khác với tiểu thuyết, tác giả luôn phải giữ một độ gián cách nhất định với
những hư cấu của mình. Dĩ nhiên trong nhiều trường hợp (chẳng hạn một số đoạn trong Mê
lộ của Phạm Thị Hoài) nhà văn cũng có thể đưa ra lời bình luận, phân tích hoặc phê bình về
24
những hư cấu đó, nhưng để làm được điều này nhà văn phải tạm thời tách ra khỏi câu
chuyện và rời bỏ vị thế là ý thức sáng tạo bao trùm tác phẩm để tham gia vào tác phẩm như